Hơn 172.000, đó là số lượng thí sinh đăng ký thi đánh giá năng lực (V-ACT) đợt 2 của ĐH Quốc gia TP.HCM theo thống kê do ĐH này công bố hôm 26.4. Mức này không chỉ lập kỷ lục đông nhất sau 8 năm tổ chức mà còn đánh dấu lần đầu tiên số thí sinh thi đợt 2 cao hơn cả đợt 1. Trong số đó, có hơn 82% từng tham gia đợt 1, đặt ra yêu cầu về một phương pháp ôn tập và làm bài hiệu quả để cải thiện điểm số.
Đạt tổng điểm 1.063 đợt 1, trong đó điểm tiếng Anh và toán đạt mức tối đa 300/300, Nguyễn Huy Khang, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM), cho biết điều quan trọng nhất là vững kiến thức nền tảng. Với môn toán, câu hỏi sẽ không đánh đố mà chủ yếu xoay quanh dạng bài quen thuộc. Còn với tiếng Anh, cần hiểu rõ các thì (tenses) và cấu trúc câu (sentence structures) như câu điều kiện, câu tường thuật…
Với phần thi tiếng Việt, Khang cho rằng cần nắm chắc đặc trưng thể loại, phương thức biểu đạt… và nhất là chính tả, cách dùng từ. Trong khi đó ở nội dung tư duy khoa học, việc nằm lòng một số kiến thức nền của các môn – dù không theo học – vẫn mang lại lợi thế lớn, nhất là ở nhóm khoa học xã hội. Tuy nhiên, các bạn vẫn có thể suy luận đáp án dựa trên dữ kiện đề cho, đặc biệt ở nhóm khoa học tự nhiên, nam sinh nói thêm.
Về 2 phần thi không có trong chương trình phổ thông là tư duy logic và phân tích số liệu, Khang kể chủ yếu tự ôn bằng cách “cày đề” vì các câu hỏi thường “có tính lặp lại cấu trúc”. “Mình sẽ tham khảo đề mô phỏng hoặc phục dựng để làm quen dạng bài”, Khang nói. Qua quá trình ôn luyện, nam sinh rèn được thói quen đọc nhanh và lọc ý chính đồng thời tự thiết kế một số ký hiệu riêng khi giải đề để tiết kiệm thời gian.
“Quan trọng nhất ở tất cả các phần là sau mỗi lần trả lời chưa chính xác, mình đều xem lại thật kỹ để hiểu sai chỗ nào và rút kinh nghiệm”, Khang nói.
Chung quan điểm, Phan Đức Huy, học cùng trường với Khang và từng đạt tổng điểm 1.005, cho biết chưa từng đặt nhiều thời gian ôn luyện V-ACT, vì mục tiêu của nam sinh là kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM. Thành tích trên của Huy, vì thế, được nam sinh cho là tới từ việc học đều các môn và cách học “trial and error” – tức làm sai, thử lại và ghi nhớ những lỗi điển hình cần tránh – lặp đi lặp lại với từng dạng bài.
“Mình thi V-ACT khá nhẹ nhàng vì tất cả đều là kiến thức đã học”, Huy chia sẻ. “Môn toán chỉ có một số câu nâng cao và khó với cả người từng thi học sinh giỏi toán như mình, song các câu còn lại chỉ cần quen dạng là làm được. Còn phần tư duy khoa học sẽ dựa nhiều vào việc các bạn có đọc hiểu được văn bản và tận dụng được những công thức, thông tin đề đã cho hay chưa”.
Đó là nguyên nhân Huy tin rằng trong thời gian tới, thí sinh nên tập trung cải thiện năng lực toán học, sau đó là tiếng Anh. Điều không nên làm là dành quá nhiều thời gian để học các môn như sử, địa, giáo dục kinh tế và pháp luật – vốn chỉ chiếm 3 câu/môn học trong phần thi tư duy khoa học.
Riêng với nội dung tư duy logic, phân tích số liệu, nam sinh chia sẻ nó có phần tương đồng với đề vào lớp 6 Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) mà Huy từng tham dự – chỉ khác ở chỗ “có độ khó lớp 12”. “Cách ôn tập tốt nhất là giải đề tới khi tìm ra một hướng đi chung phù hợp với mình”, Huy cho hay.
Tập trung vào luyện đề cũng là điều cần làm. Khi giải đề, thí sinh cần bấm giờ như thi thật để rèn tốc độ, khả năng phân bổ thời gian, đồng thời tinh chỉnh chiến thuật làm bài sao cho phù hợp với bản thân nhất. Sau mỗi lần giải, đây cũng là cơ hội để thí sinh phân tích nguyên nhân những sai sót – do thiếu kiến thức, chưa suy luận đúng hay chỉ đơn thuần vì bất cẩn – để rút kinh nghiệm và tránh lặp lại.
Việc luyện đề cũng giúp thí sinh quen với áp lực thi thật, nhất là khi các bạn phải dành 150 phút để giải 120 câu hỏi, tức mỗi câu chỉ có khoảng 75 giây để giải quyết, theo Đặng Phạm Quốc Cường, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (TP.HCM) từng đạt 1.003 điểm. “Mỗi tuần, mình giải từ 2-3 đề”, Cường nói thêm.
Sau quá trình luyện đề, thí sinh sẽ dần hình thành nên chiến thuật làm bài của riêng mình – song có thể không hữu ích với tất cả mà cần sự điều chỉnh phù hợp với bản thân. Với Quốc Cường, đó là ưu tiên những phần thi sở đoản trước và giới hạn thời lượng làm bài nhất định – ở trường hợp của nam sinh là hai phần tiếng Việt, tiếng Anh với tối đa 20 phút/phần. Đồng thời, nam sinh ưu tiên làm câu dễ trước, câu khó sau và nếu quá khó thì để dành lại.
80 phút tiếp theo, Cường nói dành cho phần toán và tư duy khoa học, và 30 phút cuối cùng hoàn thành những câu khó nam sinh đã đánh dấu trước đó trong đề thi.
“Chiến thuật này giúp mình tránh ‘chôn’ thời gian vào những câu hỏi quá khó đồng thời có thể phân bổ thời gian hợp lý cho từng phần thi, tránh tình huống nhiều bạn mắc phải là bắt buộc phải đánh bừa toàn bộ phần thi nào đó dù dễ hay khó. Chiến thuật này cũng giúp mình tăng xác suất trả lời tối đa số câu hỏi trong khả năng của bản thân mà không phụ thuộc quá nhiều vào những câu lụi”, Cường lý giải.
Trong khi đó, Đức Huy ưu tiên thứ tự phần thi theo thời lượng giải bài. Nam sinh làm tiếng Việt, tiếng Anh trước, sau đó tới tư duy khoa học, cuối cùng mới là toán, phần thi mà “dành hết cả 150 phút có khi cũng không xong”. Bên cạnh đó, làm câu nào Huy tô ngay vào phiếu trả lời trắc nghiệm câu ấy, và xong phần nào là kết thúc phần ấy, tiếp tục di chuyển tới phần tiếp theo chứ không quay trở lại – dù trong phần đó có gặp câu khó đi chăng nữa.
Theo Huy, sở dĩ chọn cách này là bởi não bộ sẽ tư duy chậm hơn nếu thí sinh cứ “nhảy qua nhảy lại” các nội dung kiến thức khác nhau, như từ toán đến ngôn ngữ rồi lại về toán. “Cho nên dù không giải được, hãy cứ đánh lụi và làm phần tiếp theo”, Huy nói.
Ngoài ra, việc đề thi dài khoảng 6 trang giấy A3 và phòng thi có đủ loại thí sinh cũng khiến các bạn có thể rơi vào ngột ngạt, bất an. Điều cần làm, chính là rèn tâm lý phòng thi và học cách “làm bài như một cái máy”, thay vì cứ mải độc thoại nội tâm, “Sao mình kém cỏi quá” khi đứng trước câu hỏi khó. “Hãy luôn tự nhủ rằng mình phải tiếp tục bước đi”, Huy nói.
Trong khi đó, Huy Khang chọn phân bổ thời gian theo từng nhóm câu hỏi. Với những câu lý thuyết, Khang dành tối đa 30 giây/câu vì dạng này nếu học rồi là biết ngay, còn nếu chưa học thì hầu như không trả lời được. Với nhóm câu đọc hiểu, thời gian là khoảng 1 phút/câu, còn với các câu tính toán, thời gian linh hoạt hơn tùy mức độ song tối đa là 5 phút cho một câu vận dụng cao.
Riêng phần tư duy logic và phân tích số liệu, nam sinh thường dành tối đa 10 phút cho mỗi nhóm câu nhỏ. “Nếu vượt thời gian mà vẫn chưa tìm thấy hướng giải rõ ràng, mình sẽ chọn phương án có vẻ hợp lý, đánh dấu lại rồi chuyển sang câu khác để tránh mất thời gian cũng như giữ tâm lý ổn định, rồi sẽ quay lại xử lý sau”, Khang chia sẻ.
Sáng nay (17.4), ĐH Quốc gia TP.HCM chính thức công bố điểm thi đánh giá năng lực (V-ACT) của hơn 133.000 thí sinh trên cả nước. Tính đến đầu giờ chiều nay, theo khảo sát của Thanh Niên với một số trung tâm luyện thi, ít nhất trăm sĩ tử có điểm chung là kết quả tiếng Việt thấp nhất so với các phần thi khác là toán, tiếng Anh, tư duy khoa học. Hiện tượng này cũng diễn ra với những thí sinh có tổng điểm từ 1.000 trở lên.
Tuy nhiên, cũng có số ít trường hợp thí sinh có kết quả thi tiếng Việt cao hơn các phần khác trong quá trình khảo sát.
Đáng chú ý, nhiều thí sinh đạt điểm phần thi tiếng Anh ở mức tối đa là 300, trong khi điểm tiếng Việt lại nằm "chót bảng" trong 4 phần. Trường hợp nổi bật nhất là thủ khoa thi đợt 1 năm nay - em Trần Hoàng Thiên Phúc, học sinh lớp 12 Toán 2 Trường Phổ thông Năng khiếu (ĐH Quốc gia TP.HCM) - với điểm phần tiếng Anh, tư duy khoa học đều là 300, toán đạt 264 còn tiếng Việt "về cuối" ở mốc 234.
"Nhiều học sinh của tôi cũng có kết quả thi phần tiếng Việt thấp nhất trong 4 phần, thậm chí cách phần thi thấp thứ hai khoảng 30-40 điểm", thạc sĩ Bùi Văn Công, giáo viên chuyên luyện thi V-ACT trực tuyến cho học sinh ở nhiều địa phương, chia sẻ.
Theo thầy Công, tiếng Việt là phần thi có điểm thấp nhất trong 4 phần không đồng nghĩa với việc năng lực tiếng Việt của thí sinh đó giảm sút, mà có thể do độ khó không đồng đều giữa các phần trong đề thi. Nam giáo viên cho rằng phần tiếng Việt ở kỳ thi năm 2026 thiên về suy luận chứ không còn quá chú trọng đến cảm nhận văn chương, đọc hiểu văn bản đơn thuần như trước. Điều này có thể khiến nhiều bạn gặp thử thách.
Chưa kể phần tiếng Việt năm nay còn có nhiều câu ngoài nội dung trước giờ hay ra đề, như câu hỏi về niêm luật trong thơ Đường luật hoặc các câu hỏi về lỗi chính tả, theo thầy Công. Còn thầy Đặng Duy Hùng, quản lý hệ thống luyện thi Helius Education tại TP.HCM, đánh giá phần tiếng Việt tuy hay và pha trộn nhiều màu sắc khác nhau, song lại nặng về đọc ngữ liệu nên chiếm nhiều thời gian làm bài hơn so với mọi năm.
"Nhìn chung, phần khó ở đề năm nay xoay cực từ khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội", thầy Hùng nhìn nhận.
Huỳnh An Khang, với tổng điểm 1.006 - trong đó tiếng Anh đạt 278 điểm, tư duy khoa học 253, toán 248 và tiếng Việt 227 - chia sẻ thêm rằng phần thi tiếng Việt đặc biệt thử thách ở những câu hỏi về kiến thức, nhất là kiến thức tích lũy từ các lớp dưới chứ không phải trọng tâm giảng dạy ở chương trình học lớp 12. Nam sinh học lớp 12 ở Trường THPT Phú Nhuận (TP.HCM) kể sẽ tiếp tục dự thi đợt 2 tổ chức vào tháng 5 tới để cải thiện điểm số.
Trong khi đó, T., một thí sinh tại TP.HCM, cho biết đa phần các bạn chung lớp đều có điểm tiếng Việt là điểm thấp nhất. "Riêng em có kết quả tiếng Việt cao hơn các phần khác", nam sinh đạt 283 điểm tiếng Việt và tổng điểm 1.043 chia sẻ.
Chia sẻ góc nhìn khác, thầy Lê Văn Minh (KST), giáo viên luyện thi V-ACT tại Trung tâm Alpha (TP.Đà Lạt), cho biết không chỉ mới đây mà từ lâu thầy đã trăn trở về vấn đề sử dụng tiếng Việt ở học sinh THCS, THPT. "Tôi nhận ra càng về sau, các bạn càng bị 'hạn chế' về năng lực và cách sử dụng ngôn ngữ Việt. Ngoài đời sống thực tế cũng vậy chứ không riêng gì trong các bài thi mang tính học thuật như V-ACT", thầy Minh nói.
Nam giáo viên cũng thông tin hầu hết học sinh trong khóa thầy đứng lớp đều có điểm tiếng Anh cao hơn tiếng Việt.
"Tôi thật sự buồn vì lẽ ra tiếng Việt nên là phần kiến thức khiến các bạn cảm thấy hứng thú thay vì vô tình trở thành rào cản", thầy Minh bộc bạch.
Để cải thiện, thầy Minh chia sẻ trong mỗi lần soạn đề đều cố gắng đưa ngữ liệu về việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt để nhắc nhở học sinh. Ngoài ra, thầy còn khuyến khích các bạn trau dồi vốn từ ngữ thông qua việc chăm chỉ đọc, xem thơ ca, truyện, kịch...
"Tôi chỉ hy vọng thay đổi được góc nhìn của một vài bạn thôi là vui lắm rồi", thầy nói.
Trước đó, Thanh Niên từng đăng tải loạt bài về việc một bộ phận người trẻ dùng tiếng Việt một cách méo mó, lệch chuẩn, từ sử dụng "teencode" hoặc những từ nửa Anh nửa Việt cho tới nói năng những cụm vô nghĩa như "tung tung tung sahur", "tralalero tralala"... Điều này trải rộng từ học sinh tiểu học, THCS, THPT đến sinh viên ĐH.
"Thoạt nghe tưởng là vui vẻ, hài hước nhưng lâu dài tạo thành thói quen, các con quên mất luôn từ thông dụng vẫn hay dùng trong tiếng Việt hằng ngày", cô Nguyễn Thị Phương Đài, giáo viên Trường tiểu học Trần Khánh Dư (P.Tân Định, TP.HCM), chia sẻ với Thanh Niên hồi cuối năm 2025. "Tôi nhận thấy càng ngày, kỹ năng diễn đạt thành câu văn, bài văn của nhiều học sinh càng kém đi vì bây giờ nhiều bạn chỉ xem video ngắn", cô Đài nói thêm.
Ngày 14.5, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, chủ trì buổi làm việc với lãnh đạo Đại học Đà Nẵng nhằm tháo gỡ các khó khăn liên quan đến dự án Khu đô thị Đại học Đà Nẵng và định hướng phát triển hệ thống giáo dục đại học sau sáp nhập.
Tại buổi làm việc, PGS-TS Nguyễn Ngọc Vũ, Giám đốc Đại học Đà Nẵng, cho biết đang xây dựng đề án phát triển thành trường đại học trọng điểm quốc gia, hướng tới mục tiêu nằm trong nhóm các trường đại học hàng đầu châu Á.
Ông Vũ cho rằng, Khu đô thị Đại học Đà Nẵng (Làng đại học Đà Nẵng), được quy hoạch tại khu vực Ngũ Hành Sơn và Điện Bàn Đông, có vai trò đặc biệt quan trọng về cơ sở vật chất, là nền tảng để phát triển lên mô hình đại học quốc gia trong tương lai.
Đại học Đà Nẵng kiến nghị thành phố phối hợp tháo gỡ 2 vấn đề lớn, gồm: công tác giải phóng mặt bằng và điều chỉnh quy hoạch 1/2.000.
Ông Vũ cho biết, đối với công tác giải phóng mặt bằng, cần xem xét lại bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất nhằm bảo đảm việc đền bù phù hợp cho người dân. Đại học Đà Nẵng cũng đã có văn bản gửi các cơ quan liên quan để phối hợp xử lý.
Về quy hoạch, trước đó, Quảng Nam (cũ) đã phối hợp với nhà trường để thống nhất chủ trương điều chỉnh quy hoạch phù hợp với thực tế phát triển, theo chỉ đạo rà soát của Thủ tướng Chính phủ.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng Đà Nẵng, dự án hiện được chia thành 2 khu vực. Trong đó, khu vực tại phường Ngũ Hành Sơn có diện tích khoảng 110 ha, công tác giải phóng mặt bằng cơ bản hoàn tất, chỉ còn một phần diện tích vướng mắc.
Đại học Đà Nẵng cho biết, các trường thành viên đã khởi công xây dựng và dự kiến đến tháng 10.2027 sẽ hoàn thành toàn bộ khu vực này để chuyển hoạt động đào tạo lên đây.
Trong khi đó, khu vực Điện Bàn Đông với diện tích quy hoạch ban đầu khoảng 190 ha đang gặp nhiều khó khăn do dân cư tập trung đông, khiến việc giải phóng mặt bằng theo phương án cũ gần như không khả thi.
Trước thực tế này, ông Vũ đề xuất điều chỉnh quy hoạch theo hướng dịch chuyển sang phía tây hướng sông Vĩnh Điện, gần khu vực sông và bệnh viện; đồng thời mở rộng thêm hơn 300 ha tại phường Điện Bàn Đông và khoảng 100 ha tại khu vực Quế Sơn. Nếu triển khai theo phương án mới, tổng quy hoạch có thể đạt khoảng 500 ha.
Kết luận nội dung này, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng yêu cầu trước mắt tập trung hoàn thành dứt điểm công tác giải phóng mặt bằng và đầu tư hoàn chỉnh khu vực 110 ha tại Đà Nẵng sau khi có giá đất mới.
Ông Hùng cũng đề nghị Đại học Đà Nẵng ưu tiên hoàn thiện khu vực này trước khi tính toán đến các nhu cầu mở rộng tiếp theo.
Đáng chú ý, lãnh đạo thành phố cho biết, thời gian qua xuất hiện nhiều cách hiểu chưa đầy đủ về chủ trương "dịch chuyển" Làng đại học Đà Nẵng về phía nam thành phố, dẫn đến nhiều ý kiến trái chiều trên mạng xã hội.
Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cho hay, quan điểm của thành phố không phải "di dời toàn bộ đô thị đại học", mà là nghiên cứu chuyển một phần hoạt động đào tạo, đặc biệt là sinh viên chính quy, lên khu vực Tam Kỳ cũ để khai thác hiệu quả cơ sở vật chất hiện có và giảm áp lực cho trung tâm Đà Nẵng.
Người đứng đầu chính quyền thành phố cho rằng, khu vực phía nam hiện còn nhiều cơ sở vật chất, trụ sở xuống cấp và sử dụng chưa hiệu quả, trong khi khu vực trung tâm Đà Nẵng đang chịu áp lực lớn về hạ tầng và dân số. Vì vậy, thành phố định hướng phát triển cân đối giữa các khu vực sau sáp nhập.
Ông Hùng thông tin, nếu có cơ sở vật chất phù hợp thì phải tính chuyện chuyển bớt sinh viên ra đó để khu vực này phát triển đông đúc hơn.
Theo Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, thành phố sẽ ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư công, các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao cùng nhiều nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cho khu vực Tam Kỳ cũ nhằm tạo động lực phát triển mới.
"Bây giờ Quảng Nam và Đà Nẵng là một nhà, phải phát triển cân đối giữa các vùng miền. Một bên thì quá tải, một bên lại quá vắng vẻ, mình phải nhìn vì sự phát triển chung và vì người dân", ông Hùng nhấn mạnh.
Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cũng cho biết, thành phố đang đẩy mạnh kết nối hạ tầng, bao gồm kết nối giữa hai sân bay và liên kết với khu vực Tam Kỳ cũ nhằm mở rộng không gian phát triển đô thị, giáo dục và dịch vụ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn đội ngũ giảng viên, tăng số lượng tiến sĩ, cơ sở vật chất và học liệu, chuyển sang quản lý chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học thay vì chỉ kiểm soát thủ tục mở ngành.
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có ít nhất 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện.
Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, yêu cầu còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương.
Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31-12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích…
Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trừ các chương trình đào tạo đặc thù, mỗi chương trình đào tạo phải có ít nhất 5 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, 2 phó giáo sư và 1 giáo sư có chuyên môn phù hợp chủ trì. Trong đó có 2 giảng viên và trong 2 giảng viên đó phải ít nhất 1 giảng viên có chuyên môn ngành gần chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình…
Bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 3 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu.
Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo.
Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ "mở ngành đào tạo", sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo. Đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá.
Tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành... phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.