Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra “điểm gãy” khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là “điểm bao nhiêu” mà là “bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ”. Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực”. Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị “lệch” do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ “đối sánh điểm thi” sang “đối sánh năng lực thực”, từ “xếp hạng” sang “cải thiện chất lượng”.
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là “mũi nhọn”. Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép “đánh đổi” giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.
Bộ GD-ĐT cho biết, mới đây Ban Chỉ đạo cấp quốc gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 họp phiên đầu tiên.
Báo cáo tại phiên họp, ông Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD-ĐT), cho biết hệ thống ngân hàng đề thi đã sẵn sàng, không chỉ phục vụ kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 mà còn tạo lộ trình cho việc thi trên máy tính từ năm 2027. Công tác tập huấn cũng có cải tiến lớn theo mô hình "3 trong 1" (kết hợp quy chế, kiểm tra và kỹ thuật) nhằm tăng hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
Ông Huỳnh Văn Chương cũng cho rằng, kết quả đăng ký dự thi theo môn đã cho thấy một tín hiệu tích cực là sự chuyển dịch sang các môn STEM: tỷ lệ đăng ký môn vật lý, hóa học tăng 15 - 20%, đặc biệt môn công nghệ tăng đột biến 200%.
Ngược lại, việc miễn thi ngoại ngữ giảm đáng kể (chỉ chiếm dưới 8%) do thay đổi chính sách tuyển sinh đại học không còn quá phụ thuộc vào chứng chỉ IELTS, cho thấy học sinh đã tập trung thực chất hơn vào việc dự thi môn này.
Theo ông Chương, với quy mô thí sinh tăng mạnh, áp lực lên công tác in sao, vận chuyển đề thi và coi thi là rất lớn, đặc biệt tại các tỉnh, thành đông thí sinh như Hà Nội, TP.HCM, Nghệ An, Thanh Hóa.
Đồng thời, nguy cơ gian lận bằng thiết bị công nghệ cao, chủ yếu qua điện thoại thông minh, vẫn là rủi ro hàng đầu.
Tại phiên họp, đại diện các đơn vị của Bộ Công an cho biết sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ GD-ĐT và các địa phương trong công tác tuyên truyền, bảo đảm an ninh, an toàn kỳ thi; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường tập huấn quy chế thi, siết chặt công tác coi thi, phòng chống lộ, lọt đề thi và xử lý nghiêm các hành vi gian lận công nghệ cao.
Phát biểu kết luận phiên họp, Ông Phạm Ngọc Thưởng, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 yêu cầu chủ động và kỹ lưỡng từ khâu lựa chọn nhân sự, chuẩn bị cơ sở vật chất đến địa điểm in sao đề thi. Đặc biệt, tuyệt đối không được chủ quan, hình thức; đồng thời phải tập huấn kỹ cho giáo viên để hướng dẫn, nhắc nhở học sinh tuân thủ nghiêm quy chế thi.
Với quy mô hơn 1,2 triệu thí sinh và khoảng 200.000 cán bộ, lực lượng tham gia kỳ thi (gồm công an, cơ yếu, điện lực, y tế, giao thông...), ông Thưởng yêu cầu việc phối hợp phải nhịp nhàng, đúng tinh thần "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ quy trình và rõ kết quả.
Trưởng ban Chỉ đạo kỳ thi cũng lưu ý dù có nhiều năm kinh nghiệm nhưng nếu dựa dẫm vào kinh nghiệm sẽ rất dễ phát sinh sai sót. Công tác tập huấn phải thực chất, từ nhận thức đến chuyên môn; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi gian lận, đặc biệt là gian lận công nghệ cao qua thiết bị điện thoại ngày càng tinh vi.
Kỳ thi năm nay sẽ diễn ra vào ngày 11 và 12.6, sớm hơn 2 tuần so với năm ngoái. Đây là kỳ thi có số lượng thí sinh cao nhất trong nhiều năm qua với 1.223.776 em đăng ký dự thi (tăng khoảng 60.000 thí sinh so với năm 2025), 98,45% thí sinh đăng ký dự thi trực tuyến, đạt kỷ lục từ khi áp dụng hình thức đăng ký này.
Dự kiến, cả nước sẽ có khoảng 2.500 điểm thi với 50.000 phòng thi.
Theo thống kê về số lượng thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT theo môn, ngoài 2 môn bắt buộc là ngữ văn và toán, lịch sử là môn thi được thí sinh lựa chọn nhiều nhất với 570.800 thí sinh, tăng so với con số 499.357 thí sinh của năm 2025. Đây cũng là môn có số lượng thí sinh lựa chọn tăng nhiều nhất so với năm trước.
Tiếp đến là môn địa lý với 448.725 thí sinh; môn ngoại ngữ có 347.455 thí sinh lựa chọn, giảm so với năm 2025 (364.979 thí sinh)...
Theo các chuyên gia, một trong những sức hút của kỳ thi liên quan đến giá trị sử dụng kết quả bài thi này trong tuyển sinh năm nay.
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng Tuyển sinh và công tác sinh viên Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng: "Một trong những nguyên nhân khiến số lượng thí sinh (TS) đăng ký tham gia kỳ thi đánh giá năng lực (ĐGNL) của ĐH Quốc gia TP.HCM năm 2026 đông kỷ lục là do nhiều trường ĐH chuyển qua sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp; trong đó, một thành phần điểm quan trọng trong phương thức này là kết quả bài thi ĐGNL". Dẫn ra ví dụ, thạc sĩ Tiến chỉ ra thực tế Trường ĐH Kinh tế - Luật cùng 7 trường thành viên khác của ĐH Quốc gia TP.HCM sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp, căn cứ trên điểm bài thi tốt nghiệp THPT, điểm học bạ và điểm bài thi ĐGNL do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức.
Thạc sĩ Tiến nhấn mạnh: "Đặc biệt điểm bài thi ĐGNL chiếm trọng số chính trong phương thức tổng hợp này". Cụ thể với Trường ĐH Kinh tế - Luật năm 2026 tỷ lệ lần lượt của 3 điểm thành phần bài thi ĐGNL, bài thi tốt nghiệp THPT, học bạ là 55 - 35 - 10%. Với năm 2027, tỷ lệ này lần lượt là 60 - 30 - 10%, từ năm 2028 trở đi tỷ lệ này là 65 - 25 - 10%. Trường hợp TS không sử dụng bài thi ĐGNL để xét tuyển vào trường thì sẽ được thay thế bằng bài thi tốt nghiệp THPT với tỷ lệ quy đổi là 1:1 cho năm 2026, 1:0,9 cho năm 2027, từ năm 2028 là 1:0,8.
"Trong khi đó, dù sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp nhưng trường có nhiều cách thức dành cho các nhóm đối tượng TS khác nhau. Khi đăng ký vào một ngành/chương trình, TS đủ điều kiện xét tuyển sẽ được xét đồng thời để đảm bảo cơ hội trúng tuyển cao nhất. Trường hợp TS có đồng thời kết quả thi ĐGNL và kết quả thi tốt nghiệp THPT, TS sẽ được xét theo kết quả cao nhất của 2 loại điểm này", thạc sĩ Tiến phân tích thêm về giá trị điểm bài thi ĐGNL trong xét tuyển năm nay.
Thạc sĩ Hoàng Thanh Tú, Phó trưởng phòng Thông tin - Truyền thông Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho hay năm 2026 trường bắt đầu xét tuyển theo phương thức xét tuyển tổng hợp kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 hoặc kết quả kỳ thi ĐGNL do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức năm 2026 với điểm học bạ 3 năm lớp 10, 11, 12. Đối với những TS có đầy đủ cả điểm thi tốt nghiệp THPT và điểm thi ĐGNL, nhà trường sẽ xét đồng thời các phương án kết hợp và lựa chọn kết quả có lợi nhất, tức phương án cho tổng điểm cao hơn. Trong đó, hệ số dành cho kết quả kỳ thi ĐGNL hoặc kỳ thi tốt nghiệp THPT dự kiến dao động từ 0,7 - 0,9.
"Sau khi quy đổi điểm thi ĐGNL về thang điểm 30 như điểm thi tốt nghiệp THPT, trường hợp TS có điểm ĐGNL cộng với điểm học bạ cao hơn điểm tốt nghiệp THPT cộng với học bạ thì trường sẽ lấy kết quả cao hơn để xét tuyển", thạc sĩ Tú nói thêm.
Như vậy, theo thạc sĩ Tú, việc tham gia kỳ thi ĐGNL không chỉ giúp TS gia tăng cơ hội trúng tuyển vào ngành học phù hợp với năng lực và định hướng cá nhân, mà còn là dịp cọ sát, làm quen với dạng bài thi ĐGNL trước kỳ thi tốt nghiệp THPT. Qua đó, TS có thêm sự chuẩn bị về tâm lý và chiến lược, chủ động hơn trong kỳ xét tuyển ĐH.
PGS-TS Bùi Hoài Thắng, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho hay qua theo dõi kết quả xét tuyển tổng hợp các năm vừa qua, trường nhận thấy học lực của TS khá tương đồng với nguyên tắc tính điểm xét tuyển của trường, trong đó trọng số phần điểm thi ĐGNL chiếm cao hơn, ở mức 70%. Năm 2026, trường tiếp tục thực hiện chính sách tuyển sinh kết hợp giữa các thành phần: điểm thi ĐGNL giữ nguyên trọng số 70%, điểm thi tốt nghiệp THPT 20% và điểm học tập THPT 10%. Trong đó, tất cả các điểm toán có hệ số 2.
Đối với các TS không có điểm thi ĐGNL ĐH Quốc gia TP.HCM năm nay, theo PGS Thắng, Trường ĐH Bách khoa sẽ dùng điểm thi tốt nghiệp THPT (toán x 2) để quy đổi về thành phần năng lực để bù cho điểm thiếu. Theo đánh giá đối sánh giữa kết quả học tập với điểm thi tốt nghiệp THPT và với điểm thi ĐGNL, trường chọn hệ số quy đổi từ điểm thi tốt nghiệp THPT sang điểm năng lực là 0,75. Do đó, PGS Thắng nhìn nhận: "Các TS không có điểm thi ĐGNL cần nỗ lực cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT để có điểm xét tuyển tốt vào Trường ĐH Bách khoa. Nói cách khác, các TS có điểm thi ĐGNL cao sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trong quá trình tuyển sinh vào trường".
PGS-TS Đinh Đức Anh Vũ, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho hay theo thông tin tuyển sinh 2026 của trường và kết quả học tập của các TS trúng tuyển vào trường các năm trước từ điểm thi ĐGNL, kết quả học tập của các TS này khá tốt. Năm nay, trường xét tuyển tổng hợp căn cứ vào điểm học lực, điểm cộng và điểm ưu tiên (nếu có). Trong đó, điểm học lực gồm 3 thành phần: điểm thi tốt nghiệp THPT 2026, điểm thi ĐGNL năm 2026 và điểm học bạ THPT nhân với các hệ số tương ứng. Trong đó, hệ số từ điểm thi ĐGNL dao động trong khoảng 40 - 50%, là thành phần điểm chiếm trọng số cao nhất. "Do đó, các TS có điểm thi ĐGNL cao sẽ có lợi thế hơn", PGS-TS Vũ khẳng định.
Là xã đảo duy nhất của Gia Lai, cách đất liền khoảng 24 km, hành trình đi tìm con chữ của học sinh (HS) trên đảo Nhơn Châu đầy gian nan.
Hiện trên đảo, hệ thống giáo dục chỉ dừng lại ở cấp THCS nên sau khi hết lớp 9, nếu muốn tiếp tục học lên cao, HS buộc phải rời gia đình, vượt biển vào đất liền. Ở tuổi 15 còn chưa quen với những lo toan, các em đã phải sớm tự lập, sống xa vòng tay cha mẹ.
Quãng đường biển 24 km tuy không xa nhưng lại là rào cản lớn, nhất là về kinh tế vì HS vào đất liền còn phải lo cả tiền trọ, chi phí ăn uống, sinh hoạt…
Ông Nguyễn Văn Nhất (44 tuổi, thôn Tây, xã Nhơn Châu) cho biết trước đây, phần lớn người dân trên đảo chỉ học hết lớp 9 rồi dừng lại. Sự cách trở về địa lý khiến con đường học tập của nhiều người bị gián đoạn. Những HS đủ điều kiện vào đất liền tiếp tục học lại phải đối mặt với áp lực cơm áo, gạo tiền. Vì chi phí quá cao, không ít gia đình đành cho con nghỉ học để phụ giúp gia đình nghề biển.
Gia đình ông Nhất có 2 người con, trong đó một em đang học lớp 11 tại đất liền. Ông kể ngày con rời đảo, điều khiến ông trăn trở nhất không phải chuyện học hành mà là việc ăn ở, chi tiêu của con có đảm bảo hay không.
Vài năm qua, thấu hiểu những khó khăn, thiếu thốn nói trên, địa phương đã có nghị quyết hỗ trợ, tiếp sức để HS xã đảo Nhơn Châu có thể đi xa hơn nữa trên con đường học tập. Theo đó mỗi HS sẽ được hỗ trợ tiền ăn ở, sinh hoạt và đi lại khi vượt biển vào đất liền theo học các cấp cao hơn.
"Ngay từ khi lên cấp 3, cháu đã phải học cách tự lập. Có khi vài tháng, thậm chí hết một học kỳ cháu mới về nhà một lần. Lúc đầu gia đình rất lo, nhưng nhờ có chính sách hỗ trợ, mỗi tháng cháu được khoảng 1,1 triệu đồng nên cũng đỡ phần nào. Sắp tới mức hỗ trợ tăng lên, gia đình rất phấn khởi", ông Nguyễn Văn Nhất chia sẻ.
Em Võ Thuận Thảo, HS lớp 11A1 Trường THPT số 1 Trần Cao Vân, cho biết nhà có 4 chị em, bố vừa qua đời sau thời gian dài bệnh nặng. Mẹ em làm việc nhà và phụ nghề biển để nuôi các con.
Ngày rời đảo đi học lớp 10, Thảo mang theo không chỉ hành lý mà còn cả những lo toan. Em phải tự thích nghi với môi trường mới, tự cân đối chi tiêu và tự động viên mình tiếp tục cố gắng. "Khoản hỗ trợ giúp giảm bớt gánh nặng. Em sẽ cố gắng học tốt để thi vào ngành sư phạm, sau này trở về giúp mẹ và quê hương", Thảo tâm sự.
Những chính sách tiếp sức kịp thời đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Theo ông Dương Hiệp Hưng, Chủ tịch UBND xã Nhơn Châu, tỷ lệ HS tiếp tục học lên THPT tăng mạnh. Nếu năm học 2024 - 2025 chỉ có 11 em vào đất liền học tập, thì hiện nay toàn xã đã có 62 HS theo học, chưa kể nhiều em đang theo đuổi các ngành nghề như dược, hộ sinh, kỹ thuật chế biến, điện lạnh.
Tại kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh Gia Lai khóa XIII nhiệm kỳ 2026 - 2031 vừa qua, một nghị quyết hỗ trợ HS, sinh viên xã đảo Nhơn Châu đã được thông qua. Theo đó, từ năm học 2026 - 2027, mỗi HS THPT sẽ được hỗ trợ hơn 1,6 triệu đồng/tháng, gồm tiền ăn 936.000 đồng, tiền ở 360.000 đồng và chi phí học tập, đi lại 350.000 đồng. Với HS học nghề, tỉnh hỗ trợ 100% học phí cùng học bổng chính sách bằng 80% mức lương cơ sở. Tổng kinh phí dự kiến hơn 1,4 tỉ đồng mỗi năm.
Không chỉ từ ngân sách nhà nước, các trường học trên đất liền cũng chủ động hỗ trợ. Ông Lê Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT số 1 Trần Cao Vân, cho biết nhà trường thường xuyên vận động giáo viên và các nhà hảo tâm chung tay giúp đỡ, tạo điều kiện để HS xã đảo yên tâm học tập.