Nguyễn Thái, 22 tuổi, đăng ký thi tốt nghiệp THPT tại trường cấp ba cũ chỉ một ngày trước hạn chót.
Năm 2024, khi chỉ còn cách tấm bằng kỹ sư công trình thủy lợi hơn một năm đại học, Thái bỏ ngang, dù gia đình hết lời can ngăn. Thái thấy mình không hợp ngành này, chỉ học theo định hướng của bố mẹ.
Trong hai năm sau đó, Thái làm phục vụ ở quán ăn, cà phê gần nhà gần 10 tiếng mỗi ngày, nhận lương khoảng 8 triệu đồng/tháng. Chán nản trong chuỗi ngày bất định kéo dài, sống không mục tiêu, Thái quyết định “làm lại cuộc đời” bằng cách đăng ký thi lại tốt nghiệp ba môn Văn, Sử, Địa (tổ hợp C00), để đăng ký vào đại học, các ngành Báo chí, Luật vốn yêu thích.
Quỳnh Anh, sinh viên năm thứ nhất ngành Quản trị kinh doanh ở một trường tư thục tại Hà Nội, cũng đăng ký thi tốt nghiệp năm nay. Năm ngoái, nữ sinh đạt điểm thấp hơn kỳ vọng nên đành “học tạm” dù không thích.
Vào học, cô nhanh chóng thấy lạc lõng giữa nhiều bạn bè “sang chảnh” và cũng mông lung về ngành, thấy chung chung.
“Bỏ dở thì rủi ro nên mình tranh thủ ôn thi lại với mục tiêu vào các ngành dễ nhìn ra cơ hội nghề nghiệp hơn như Tài chính – Ngân hàng”, nữ sinh cho hay.
Thái và Quỳnh Anh nằm trong hơn 63.800 thí sinh tự do của kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026. Con số này cao nhất kể từ năm 2020 đến nay (41.000-58.000 người).
“Phần lớn thí sinh tự do đăng ký thi tốt nghiệp THPT để lấy điểm xét tuyển lại đại học nhằm có thêm cơ hội trúng tuyển vào ngành, trường mong muốn”, ông Đỗ Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, trường Đại học Mở Hà Nội, nhận định.
Năm ngoái, số thí sinh trượt tốt nghiệp THPT chưa tới 9.000 em (0,8% tổng thí sinh). Do đó, nhóm thi lại để lấy bằng không nhiều.
Lý giải, ông Ngọc Anh cho hay kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện giữ vai trò quan trọng trong xét tuyển đại học. Năm ngoái, lần đầu tiên kỳ thi theo chương trình phổ thông mới, đề thi được đánh giá khó, nhiều em chưa có kinh nghiệm thi cử hay chiến lược đặt nguyện vọng xét tuyển nên chưa đạt mong muốn.
Đồng tình, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho rằng nghịch lý “điểm chuẩn đại học cao vượt xa điểm thi” năm ngoái cũng có thể là nguyên nhân.
Chẳng hạn, điểm thi năm 2025 theo tổ hợp phổ biến trong khoảng 21-23, nhưng với mức điểm cộng, quy đổi IELTS khác nhau giữa các trường, nhiều em có thể đạt 25-26 điểm và trúng tuyển. Trong khi đó, những thí sinh không có điểm cộng khả năng trượt hoặc đỗ không đúng nguyện vọng nên thi lại.
Ông Đỗ Ngọc Anh chỉ ra một lý do khác là thay đổi về quy chế tuyển sinh đại học năm nay. Cụ thể, thí sinh dù xét tuyển theo phương thức nào cũng phải đạt tổng điểm ba môn trong tổ hợp (hoặc Toán, Văn và một môn khác) từ 15 điểm trở lên.
“Có những thí sinh tự do dù định dùng đăng ký bằng học bạ nhưng vẫn phải thi tốt nghiệp để đáp ứng điều kiện”, ông nói.
Ngoài ra, có nhóm đã trúng tuyển đại học như mong muốn, nhưng nay không muốn theo đuổi nữa. Điều này bắt nguồn từ việc hướng nghiệp chưa tốt, dẫn tới chọn sai ngành. Theo ông Vinh, đây là vấn đề tồn tại nhiều năm.
Ông khuyên thí sinh thi lại xem xét năng lực, sở thích để chọn ngành, trường, thay vì chỉ cố gắng để đỗ một trường danh tiếng hơn.
“Các bạn có thể xem xét các con đường khác như cao đẳng, học nghề, nếu thấy không phù hợp với đại học”, ông nói.
Số thí sinh cao kỷ lục, cũng đồng nghĩa Quỳnh Anh và Thái đối mặt cuộc cạnh tranh gay gắt hơn cho giấc mơ đại học. Dù vậy, cả hai quyết tâm thử sức để có cơ hội làm lại.
Thái đã nghỉ làm thêm từ cuối năm ngoái để tập trung ôn luyện, mua khóa học trực tuyến khoảng một triệu đồng cho cả ba môn. Trong những lần luyện đề gần đây, chàng trai Ninh Bình thấy khả quan khi có thể đạt 8-9 điểm một môn.
“Mình sẽ dồn lực cho tháng ôn luyện cuối cùng, hy vọng có thể đạt được mong muốn”, Thái nói.
Còn Quỳnh Anh vừa thi chứng chỉ IELTS 6.0 để quy đổi sang điểm môn Tiếng Anh, bởi thấy lợi thế hơn so với việc chỉ dùng thuần điểm thi. Nữ sinh mong ngoài tăng thêm cơ hội nghề nghiệp còn được học ở những trường có tiếng như Học viện Ngân hàng hay Đại học Thương mại.
Ông Ngọc Anh dự đoán cục diện xét tuyển đại học có thể căng thẳng hơn mọi năm, song thí sinh không nên bi quan, hiểu một cách cơ học rằng “tất cả các ngành, tất cả các trường đều tăng điểm chuẩn”.
“Cạnh tranh sẽ tăng rõ nhất ở các ngành, trường có sức hút lớn, nhu cầu xã hội cao hoặc có nhiều thí sinh cùng lựa chọn tổ hợp xét tuyển phổ biến”, ông nói.
Tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, Pháp, lễ công bố cấp cao của báo cáo GEM (báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu) mới đây đã quy tụ hơn 21 bộ trưởng, thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo cùng nhiều các chuyên gia, lãnh đạo giáo dục của nhiều quốc gia. vùng lãnh thổ.
Cùng với đó là sự tham gia của các thiết chế định hình chính sách và dòng chảy nguồn lực như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ủy ban châu Âu (European Commission), Liên minh toàn cầu vì giáo dục (Global Partnership for Education), Viện quốc tế về quy hoạch giáo dục của UNESCO (IIEP UNESCO)...
Tham dự lễ công bố báo cáo với tư cách học giả Chevening ngành lãnh đạo Giáo dục tại ĐH UCL (Vương quốc Anh), tôi cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quy mô hội nghị, mà ở cách các vấn đề được đặt lại một cách có hệ thống. Đặc biệt là câu chuyện về công bằng giáo dục. Điểm cốt lõi của báo cáo nằm ở 3 câu hỏi.
Một trao đổi với tiến sĩ Manos Antoninis, Giám đốc Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu (GEM), đã gợi mở thêm cho tôi một điểm đáng suy nghĩ. Điều ông quan tâm không chỉ là tốc độ mở rộng hệ thống giáo dục, mà là cách một quốc gia lựa chọn ưu tiên khi nguồn lực luôn hữu hạn.
Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là mở rộng hệ thống giáo dục bao nhiêu, mà là sự mở rộng đó đang tạo khác biệt ở đâu và cho ai.
Mở rộng tiếp cận cơ hội được đi học cho mọi người, nhưng chưa chắc đồng nghĩa với thu hẹp bất bình đẳng. Một hệ thống có thể tăng nhanh về quy mô mà vẫn giữ nguyên, thậm chí làm sâu thêm, khoảng cách giữa những nhóm người học có xuất phát điểm khác nhau, khi việc mở rộng chủ yếu diễn ra ở điểm đầu vào, trong khi chất lượng học tập, các lộ trình học tiếp và cơ hội sau giáo dục lại phân bổ rất không đồng đều.
Trong trường hợp đó, bất bình đẳng trong giáo dục không biến mất mà dịch chuyển qua các tầng của hệ thống. Việc người ta quan tâm không chỉ là ai được đi học. Mà là được đi học trong điều kiện nào, ai có nhiều lựa chọn hơn sau khi học, ai có thể chuyển hóa giáo dục thành cơ hội phát triển trong cuộc đời.
Trên giấy tờ, không ít quốc gia đã có những định hướng đúng về giáo dục, từ mở rộng tiếp cận, cải thiện chất lượng đến thúc đẩy công bằng giáo dục. Nhưng khi đi vào thực tế, khoảng cách giữa cam kết và kết quả lại xuất hiện, không phải vì thiếu chính sách, mà vì chính sách không đi trọn được đến lớp học.
Điểm nghẽn thường không nằm ở cấp chính sách quốc gia, mà ở cách chính sách được triển khai qua nhiều tầng nấc thang. Từ quy định chung, đến hướng dẫn cụ thể, rồi đến thực hành trong từng nhà trường, mỗi bước đều có thể làm "hao hụt" ý định ban đầu. Khi xuống đến lớp học, giáo viên thường phải đối diện với những tình huống rất khác với giả định trong chính sách, trong khi không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện hoặc không gian để điều chỉnh.
Bên lề chương trình, khi chúng tôi trao đổi với ông Sobhi Tawil, Giám đốc Ban tương lai học tập và đổi mới của UNESCO, câu chuyện được mở rộng sang vai trò của giáo viên trong bối cảnh AI. Theo ông, điều cần quan tâm không chỉ là công nghệ đi vào nhà trường nhanh đến đâu, mà là giáo viên có được chuẩn bị để sử dụng công nghệ theo hướng hỗ trợ người học hay không. Trong một môi trường học tập ngày càng nhiều nguồn tri thức, vai trò của giáo viên không giảm đi, mà chuyển sang yêu cầu cao hơn về định hướng, lựa chọn và dẫn dắt việc học.
Công bằng giáo dục, trong nhiều trường hợp, không đến từ việc phân bổ đồng đều, mà từ khả năng hướng nguồn lực đến những điểm cần thiết nhất, đặc biệt với những nhóm người học có nguy cơ bị gián đoạn hành trình học tập.
Chúng tôi có một trao đổi ngắn với giáo sư Giuseppe Valditara, Bộ trưởng Giáo dục và Trọng dụng năng lực của Ý. Khi nói về công bằng trong giáo dục, ông không đặt trọng tâm vào việc mở rộng cơ hội theo nghĩa hình thức, mà vào cách hệ thống sử dụng các công cụ tài chính cụ thể, đặc biệt là học bổng và các chương trình hỗ trợ đi kèm, để giữ người học ở lại trong hành trình học tập.
Khi được thiết kế đúng, các công cụ này không chỉ giảm bớt rào cản tài chính trực tiếp, mà còn tạo ra điều kiện để người học có thể tiếp tục theo đuổi việc học một cách ổn định hơn.
Trong cách tiếp cận đó, công bằng không nằm ở việc tất cả đều nhận được như nhau, mà ở việc những học sinh có nguy cơ bị bỏ lại phía sau được hỗ trợ đủ để không rơi khỏi hệ thống.
Điều này đòi hỏi các chính sách tài chính không chỉ dừng ở mức phân bổ ngân sách, mà phải đi kèm với những chương trình cụ thể, có khả năng theo sát và hỗ trợ người học trong suốt quá trình.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những kỳ vọng rất lớn, từ tăng trưởng kinh tế đến chuyển dịch sang một nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, công bằng giáo dục vì thế không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục.
Trong một thời gian dài, mở rộng cơ hội đi học được xem là thước đo quan trọng nhất của giáo dục. Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn bao giờ hết, câu hỏi đặt ra không còn dừng ở việc bao nhiêu người có thể bước vào, mà chuyển sang một điều khó hơn nhiều, ai có thể đi đến cùng, và đi đến cùng với chất lượng ra sao.
Chính ở điểm chuyển này, câu chuyện về giáo dục không còn là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà bắt đầu chạm trực tiếp đến năng lực tăng trưởng của mỗi quốc gia. Khi những khác biệt trong hành trình học tập không được giải quyết, chúng không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động, năng suất và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ và AI đang định hình lại cách con người học và làm việc, những khác biệt về điều kiện học tập nếu không được xử lý sớm sẽ không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động và cơ hội phát triển sau này. Khi đó, bất bình đẳng trong giáo dục không còn là một vấn đề xã hội thuần túy, mà trở thành một giới hạn trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Vì vậy, tiếp cận và công bằng không chỉ là những mục tiêu cần đạt được, mà là điều kiện để hệ thống giáo dục có thể thực hiện được vai trò của mình. Một hệ thống có thể mở rộng rất nhanh, nhưng nếu không giữ được sự cân bằng giữa các nhóm người học, thì chính tốc độ đó có thể tạo ra những khoảng cách mới.
Đại học Cát Lâm cho biết Giáo sư Hartmut Michel sẽ gia nhập Bệnh viện số 1 của trường với tư cách là "nhân sự hạt nhân" trong chiến lược thu hút nhân tài quốc tế.
Theo lãnh đạo trường, xây dựng một đại học tầm cỡ thế giới phụ thuộc lớn vào việc thu hút và nuôi dưỡng những bộ óc hàng đầu. Họ kỳ vọng ông Michel sẽ tạo ra những đột phá trong nghiên cứu và thắt chặt hơn nữa quan hệ hợp tác khoa học quốc tế.
Ông Michel đánh giá trường có nền tảng học thuật vững chắc, có nhiều bước tiến vượt bậc những năm gần đây. Nhà khoa học Đức bày tỏ mong muốn sát cánh cùng các cộng sự để đẩy mạnh nghiên cứu về sinh học cấu trúc, phát triển thuốc và y học chuyển dịch, đồng thời hỗ trợ đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ.
Trước khi sang Trung Quốc, phần lớn sự nghiệp của ông Michel gắn liền với Viện Lý sinh học Max Planck ở Frankfurt (Đức). Đây là một trong những trung tâm nghiên cứu protein màng tế bào hàng đầu thế giới. Ông giữ chức Giám đốc từ năm 1987, nghỉ hưu tại đây năm 2007.
Năm 1988, ông đoạt giải Nobel Hóa học nhờ công trình giải mã cơ chế quang hợp ở cấp độ phân tử.
Giáo sư Michel có mối duyên lâu năm với nền khoa học Trung Quốc. Từ đầu thập niên 1980, ông đã tích cực thúc đẩy sự phát triển của ngành sinh học tại nước này qua hơn 30 chuyến thăm và làm việc. Ông từng giảng dạy và nghiên cứu tại nhiều cơ sở uy tín như Đại học Thanh Hoa, Đồng Tế hay Tứ Xuyên.
Bến đỗ mới của ông Michel - Bệnh viện số 1 thuộc Đại học Cát Lâm (còn gọi là Bệnh viện Bethune số 1) - có lịch sử từ năm 1949. Đây là một trong những bệnh viện thực hành danh tiếng nhất khu vực Đông Bắc Trung Quốc, nổi bật trong cả ba lĩnh vực: điều trị lâm sàng, đào tạo y khoa và nghiên cứu khoa học.
Những năm gần đây, Trung Quốc tích cực thu hút các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và chuyên gia nước ngoài. Tiêu biểu là chương trình tuyển dụng nhân tài cấp cao "Ngàn Tài năng", tạo điều kiện thuận lợi về visa và ưu đãi tài chính hào phóng.
Thông tin tiến sĩ Hoàng Trọng Nghĩa (39 tuổi), cựu học sinh Trường Phổ thông năng khiếu (ĐH Quốc gia TP.HCM), hiện là giảng viên Trường Khoa học và Kỹ thuật máy tính, ĐH Bang Washington (WSU, Mỹ), đạt giải thưởng sự nghiệp của Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ, được đích thân giáo sư Partha Pratim Pande, Hiệu trưởng nơi tiến sĩ Nghĩa công tác, chúc mừng.
NSF CAREER Award được xem là một trong những giải thưởng danh giá nhất của Mỹ dành cho các nhà khoa học trẻ không chỉ ghi nhận những công trình nghiên cứu xuất sắc, mà còn xem xét tầm nhìn nghiên cứu dài hạn, khả năng tạo ra đột phá khoa học và vai trò đào tạo thế hệ khoa học tiếp theo của người được trao giải.
Giải thưởng trị giá 600.000 USD (tương đương 15,6 tỉ đồng) trao cho tiến sĩ Nghĩa cho thấy Hội đồng khoa học quốc gia Mỹ đã đánh giá cao tính nền tảng và sáng tạo của các kết quả nghiên cứu, khả năng mở ra các ứng dụng liên ngành quan trọng của AI và tiềm năng đào tạo thế hệ nhà khoa học AI tiếp theo.
Chia sẻ với phóng viên Báo Thanh Niên, tiến sĩ Hoàng Trọng Nghĩa cho biết: "Đây là một cột mốc quan trọng đối với phòng thí nghiệm của chúng tôi, và điều này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ liên tục của các đồng nghiệp cấp cao và sự nỗ lực của các nghiên cứu sinh tiến sĩ và sinh viên ĐH mà tôi hướng dẫn trong 3 năm qua".
Theo tiến sĩ Nghĩa, giải thưởng này đưa anh đến gần hơn với mục tiêu thời thơ ấu là trở thành một học giả, theo con đường của cha anh, GS-TS khoa học Hoàng Văn Kiếm, nguyên Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước ngành công nghệ thông tin, chuyên gia nghiên cứu ứng dụng AI tại Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ thông tin (ĐH Quốc gia TP.HCM).
"Nhìn lại, tôi cảm thấy vô cùng biết ơn sự hỗ trợ và những cơ hội mà tôi đã nhận được trong 10 năm qua. Tôi mang ơn rất nhiều gia đình, sự hướng dẫn từ người hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi, và những lời phê bình và góp ý liên tục từ cộng sự thân thiết nhất của tôi", tiến sĩ Nghĩa bày tỏ.
Chia sẻ về sự phát triển của AI tại Việt Nam, tiến sĩ Hoàng Trọng Nghĩa cho rằng Việt Nam đang đứng trước một cơ hội rất lớn. Trong vài năm gần đây, trí tuệ nhân tạo đã nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ cả phía Nhà nước, các trường ĐH, viện nghiên cứu cũng như cộng đồng doanh nghiệp công nghệ. Nhiều chương trình đào tạo về AI, khoa học dữ liệu và học máy đã được đầu tư và phát triển rất bài bản tại các trường ĐH.
"Chúng ta có lực lượng sinh viên và nghiên cứu viên trẻ rất năng động, có khả năng tiếp cận nhanh với các xu hướng nghiên cứu mới của thế giới. Trong thời gian gần đây, tôi nhận thấy nhiều chương trình và hoạt động nghiên cứu AI tại các trường ĐH phát triển khá mạnh. Cá nhân tôi cũng có cơ hội tham gia hướng dẫn và cộng tác nghiên cứu với nhiều bạn sinh viên trong nước, và tôi thực sự ấn tượng với năng lực nghiên cứu cũng như khả năng tự học và cập nhật của các bạn. Nhiều bạn đã có các công trình được công bố tại những hội nghị quốc tế hàng đầu về AI và học máy, sau đó tiếp tục theo đuổi nghiên cứu tiến sĩ tại các trường ĐH hàng đầu trên thế giới", tiến sĩ Nghĩa nhìn nhận.
Được đào tạo trong nước ở bậc ĐH, tiến sĩ Nghĩa cho biết ngay từ giai đoạn đầu của con đường nghiên cứu, anh có cơ hội học hỏi từ nhiều thầy cô và đồng nghiệp rất giỏi trong lĩnh vực AI và học máy. Trong quá trình làm việc và trao đổi học thuật sau này, anh khẳng định Việt Nam hiện có rất nhiều nhà nghiên cứu với tầm nhìn học thuật sâu và rộng.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội đó, theo tiến sĩ Nghĩa, nước ta vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết nếu muốn xây dựng năng lực AI mang tính bền vững và có ảnh hưởng quốc tế trong dài hạn.
"Trước hết là bài toán đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ có khả năng theo đuổi các nghiên cứu nền tảng và dài hạn. Một trong những thách thức quan trọng hiện nay là làm sao xây dựng được lực lượng nghiên cứu chuyên sâu và có tính kế thừa trong dài hạn", tiến sĩ Nghĩa nêu.
Những đầu tư mang tính bền vững, theo chủ nhân giải thưởng khoa học Mỹ, chính là đầu tư dài hạn cho khoa học và công nghệ, đặc biệt là các hướng nghiên cứu AI có tính liên ngành và kết hợp giữa nghiên cứu cơ bản với các bài toán ứng dụng thực tiễn. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chú trọng đến chất lượng và chiều sâu của nghiên cứu, thay vì chỉ chạy theo số lượng công bố hoặc các xu hướng ngắn hạn.
Cùng với đó, việc hình thành được các nhóm nghiên cứu có bản sắc học thuật riêng và theo đuổi những bài toán dài hạn cũng là điều rất quan trọng đối với sự phát triển của AI Việt Nam trong tương lai. Đồng thời, tiến sĩ Nghĩa cho rằng việc tăng cường kết nối giữa ĐH, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cũng có vai trò rất quan trọng để các kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành các ứng dụng thực tiễn, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
Hiện tại, tiến sĩ Hoàng Trọng Nghĩa vẫn duy trì liên hệ và trao đổi học thuật khá thường xuyên với các đồng nghiệp và cộng đồng nghiên cứu trong nước, với một số hợp tác nghiên cứu đã được duy trì trong nhiều năm.
"Trong quá trình đó, tôi cũng có cơ hội làm việc với nhiều sinh viên tại Việt Nam và đã cùng các bạn thực hiện một số công trình được công bố tại các hội nghị quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực AI và học máy như ICML, NeurIPS, AISTATS và UAI. Điều khiến tôi cảm thấy rất vui là nhiều bạn sau này tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu ở bậc tiến sĩ tại các trường ĐH hàng đầu trên thế giới, và một số hiện cũng đang là nghiên cứu sinh trong nhóm nghiên cứu của tôi", tiến sĩ Nghĩa thông tin.
Về lâu dài, tiến sĩ Nghĩa mong muốn có thêm cơ hội hợp tác với các trường ĐH và các nhà nghiên cứu tại Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như thực hiện các dự án nghiên cứu chung, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và sinh viên cao học, tổ chức seminar học thuật, hoặc tham gia giảng dạy các chuyên đề về AI khi có điều kiện phù hợp.
"Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta tiếp tục xây dựng được những cầu nối học thuật mạnh giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời tạo thêm cơ hội để các bạn sinh viên và nghiên cứu viên trẻ được tham gia vào các môi trường nghiên cứu chất lượng cao thì cộng đồng AI Việt Nam sẽ còn phát triển rất mạnh trong thời gian tới và có thêm nhiều đóng góp có ý nghĩa cho khoa học và công nghệ trên thế giới", tiến sĩ Nghĩa chia sẻ.