Nhớ lại những năm 1997, bà ngô Tường Vy – CEO Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu Trái cây Chánh Thu (Chánh Thu Group) – cho biết lúc đó công ty khởi đầu chỉ là một vựa thu mua nhỏ tại Bến Tre. Ban đầu, công ty đưa các lô chôm chôm, nhãn sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch, giá trị mỗi lô chỉ vài trăm triệu đồng.
Và bước ngoặt đến với công ty bà Thu là khi xuất khẩu chuyển dần sang chính ngạch, gắn liền các nghị định thư giữa hai nước. “Quy mô xuất khẩu tăng lên hàng chục lần, thậm chí gần 50 lần so với giai đoạn đầu”, bà Vy nói.
Chánh Thu hiện tăng trưởng hàng năm 30-40%, mặt hàng chủ lực là sầu riêng tươi và mít, xoài đông lạnh. Năm nay, công ty đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 40%, với thuận lợi là Trung Quốc vừa mở cửa thêm cho chanh, bưởi.
Nghị định thư với hai mặt hàng này vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam cùng Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) ký hôm 15/4 tại Bắc Kinh, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
“Mỗi nghị định thư được ký kết đều mở ra cơ hội lớn. Trong đó, bưởi là sản phẩm được đánh giá có tiềm năng cao tại Trung Quốc, khi đã nhận được sự quan tâm từ các hệ thống phân phối lớn ngay từ sớm”, bà Vy nhận định.
Hiện 16 loại nông sản của Việt Nam đã được xuất khẩu chính ngạch, mang về doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm. Vào 2025, người Trung Quốc chi 5,5 tỷ USD để mua rau quả Việt. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả, mục tiêu xuất khẩu rau quả sang nước này vượt 6 tỷ USD năm nay có thể đạt được, nếu các mặt hàng chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.
“Việc bưởi và chanh vừa ký nghị định thư xuất khẩu chính ngạch được xem là bước mở cửa quan trọng, giúp đa dạng hóa danh mục sản phẩm và tạo thêm dư địa tăng trưởng trong thời gian tới”, ông Bình nói thêm.
Không chỉ rau quả, nhiều sản phẩm khác cũng hút hàng. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết Trung Quốc đại lục & Hong Kong là thị trường lớn nhất quý I, kim ngạch 764 triệu USD, tăng 45% so với cùng kỳ.
“Đây không chỉ là mức tăng cao nhất trong các thị trường chủ lực, mà còn là yếu tố quyết định giúp toàn ngành duy trì tăng trưởng dương”, bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký VASEP, nêu. Theo bà, Trung Quốc tiếp tục là động lực chính giai đoạn tới.
Nhận định chung tại hội thảo đầu năm, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, cho rằng xuất khẩu sang Trung Quốc năm nay vẫn có cơ hội tăng trưởng ở mức hai con số, khoảng trên 14%, nếu hai nước tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của nhau.
Triển vọng này phần nào bù đắp nguy cơ suy giảm ở các thị trường khác do biến động thương mại toàn cầu và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15-16%. Năm ngoái, kim ngạch sang Trung Quốc đạt 70,4 tỷ USD, tăng 14,85% so với 2024.
Thập kỷ qua, kim ngạch xuất khẩu đã tăng hơn 4 lần. Đến 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch song phương đạt 256,5 tỷ USD, gấp gần 4 lần năm 2015 (66,17 tỷ USD). Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN.
Theo Bộ Công Thương, thương mại còn nhiều dư địa tăng trưởng, nhờ các thỏa thuận song phương, cũng như FTA gồm Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
Không chỉ tích cực về thương mại, hợp tác đầu tư cũng mở rộng với tốc độ nhanh không kém. Trong 5 năm qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc tăng 3 lần (1,86 tỷ USD năm 2020 lên 5,69 tỷ USD năm 2025). Nước này thành nhà đầu tư lớn thứ hai trong năm ngoái, chiếm 14,8% vốn FDI vào Việt Nam.
Các doanh nghiệp trong ngành logistics cũng thể hiện rõ sự sôi động. Tháng 11/2024, “ông lớn” logistics toàn cầu Maersk đưa vào vận hành kho ngoại quan đầu tiên tại miền Bắc, nhằm tăng năng lực logistics tích hợp hành lang sản xuất thương mại Hà Nội – Hải Phòng, khu vực trọng điểm của doanh nghiệp điện tử và hàng tiêu dùng đến từ Trung Quốc.
“Chúng tôi đang đẩy mạnh năng lực logistics xuyên biên giới thông qua đầu tư vào hạ tầng, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng sản xuất trong khu vực Mekong”, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong, A.P. Moller – Maersk, cho biết.
Các nhà đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam phần lớn trong lĩnh vực sản xuất, chế biến – chế tạo và ngày càng có hàm lượng công nghệ cao. Đến nay, nhiều doanh nghiệp điện tử như Foxconn, Pegatron, Goertek, Compal hay Luxshare-ICT đã đầu tư hàng tỷ USD. Riêng Luxshare-ICT đã đầu tư hơn 1,8 tỷ USD và nhắm đến quy mô doanh số không dưới 10 tỷ USD ở Việt Nam.
Phân tích xu hướng này, các chuyên gia nhận định doanh nghiệp hoạt động tại châu Á ngày càng đẩy mạnh tái cấu trúc mạng lưới sản xuất và logistics sang các mô hình chuỗi cung ứng đa quốc gia và kết nối chặt chẽ trên toàn khu vực.
Với xu hướng này, Việt Nam nổi lên như một trong những điểm đến chiến lược nhất trong cả chuỗi giá trị khu vực lẫn toàn cầu, vượt xa vai trò đơn thuần là bổ trợ trong mô hình China+1, theo Maersk.
Lợi thế địa lý gần Trung Quốc đang thúc đẩy mô hình sản xuất song phương (dual-country production) tại Việt Nam. Đồng thời, thị trường Mekong, bao gồm Việt Nam, cũng nổi lên như trung tâm tiêu dùng mới cho hàng hóa nước này.
“Trong làn sóng chuyển dịch, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng mang tính chiến lược hơn”, Maersk nhận định. Công ty cũng cho rằng sự bổ trợ giữa hai nền kinh tế đang thúc đẩy phát triển các hệ sinh thái chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Phát biểu ở hội thảo ngày 15/4, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Sơn Đông tại Việt Nam, xác nhận Việt Nam ngày càng thu hút quan tâm của doanh nghiệp sản xuất Trung Quốc, bởi điều kiện thuận lợi để kết nối, vươn ra ASEAN và toàn cầu.
Chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt dần tìm thấy cơ hội đầu tư bên cạnh giao thương. Tính đến 2024, đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Trung Quốc đại lục và Hong Kong đạt 95,6 triệu USD, với 76 dự án còn hiệu lực, theo Cục Thống kê.
Đơn cử, Trung Nguyên Legend cho biết đã có 15 nhà nhập khẩu, 300 nhà phân phối thứ cấp, 30.000 điểm bán trên kênh offline (bao gồm các đại siêu thị), hàng vạn cửa hàng trên kênh online như JD, Amazon, Taobao, Tmall, Century Mart… và trên 15 triệu người dùng cà phê G7 thường xuyên tại Trung Quốc.
“Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, không chỉ ở vai trò cung ứng nguyên liệu, mà khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị từ sản phẩm chế biến, thương hiệu đến không gian trải nghiệm”, tập đoàn này nhận định. Trung Nguyên Legend xúc tiến phát triển gần 130 quán trong năm 2026, mở đầu cho kế hoạch dài hạn 1.000 quán tại Trung Quốc.
Còn nhiều triển vọng hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn tới. Tại cuộc hội kiến Thủ tướng Lý Cường chiều 15/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc xác lập tầm cao mới cho hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch, tăng cường hợp tác thương mại cân bằng, bền vững hơn; thúc đẩy liên kết kinh tế, tạo đột phá về kết nối hạ tầng chiến lược, dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác đường sắt, đẩy mạnh kết nối với Trung Á và châu Âu.
Lãnh đạo hai nước cũng thống nhất tạo điều kiện để Việt Nam tham gia chuỗi hoạt động “Chia sẻ thị trường lớn – Xuất khẩu Trung Quốc”, mở cửa cho hàng nông thủy sản và chăn nuôi Việt Nam, thúc đẩy hợp tác đầu tư chất lượng cao, hợp tác khoa học công nghệ, tài chính, nông nghiệp, môi trường…
Trong tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc được công bố hôm 17/4, sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cũng khẳng định hai nước tiếp tục làm sâu sắc quan hệ, thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác.
Trong đó, về kinh tế, Việt – Trung nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường. Hai bên cũng thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực tài chính, các lĩnh vực công nghệ và năng lượng như AI, bán dẫn, 5G, dữ liệu lớn và liên kết lưới điện qua biên giới…
Trung Quốc hoan nghênh Việt Nam tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu tại nước này. Đồng thời, Trung Quốc cam kết tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường tỷ dân này.
Với Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình, Trung Quốc vẫn là thị trường “bao la”. Khi láng giềng phát tín hiệu tăng mua, ông cho rằng cần nắm bắt cơ hội, tiếp cận bài bản và khôn ngoan hơn, thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
“Doanh nghiệp phải đầu tư đúng mức để nâng giá trị gia tăng, đồng thời xây dựng chuỗi sản xuất khép kín, từ chọn giống, canh tác đến đóng gói, logistics theo hướng chuyên nghiệp”, ông khuyến nghị.
CEO Chánh Thu Ngô Tường Vy đồng quan điểm, thừa nhận thị trường Trung Quốc khắt khe dần. Các yêu cầu về chất lượng, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ. “Trung Quốc không còn là thị trường dễ tính. Muốn tồn tại và phát triển phải đi từ chất lượng và thích nghi với thị hiếu tiêu dùng”, bà nói.
Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HoSE) vừa đưa cổ phiếu BMI của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh vào diện cảnh báo kể từ ngày 10-4 tới.
Lý do tổ chức kiểm toán có ý kiến kiểm toán ngoại trừ đối với báo cáo tài chính tổng hợp năm 2025 đã được kiểm toán của tổ chức niêm yết.
Trước đó, BMI đã công bố báo cáo tài chính năm 2025 đã qua kiểm toán PwC Việt Nam kiểm toán. Theo đó, kiểm toán viên đưa ra ý kiến ngoại trừ về khoản tài sản thiếu chờ xử lý với giá trị hơn 155,9 tỉ đồng của BMI.
"Chúng tôi không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán phù hợp liên quan đến khả năng thu hồi của khoản này. Do đó, chúng tôi không thể xác định liệu có cần thiết phải lập dự phòng phải thu khó đòi đối với khoản này hay không", kiểm toán viên lưu ý.
Trong văn bản giải trình gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, BMI cho biết đây là tài sản chênh lệch, phát sinh trong một vụ gian lận có liên quan đến một nhân viên Tổng công ty đối với một tài khoản thanh toán của ở một ngân hàng trong nước.
"Vụ việc này hiện đang trong quá trình xác định nguyên nhân và chờ quyết định xử lý của cơ quan chức năng", BMI cho hay.
Cũng theo văn bản thì Tổng công ty này đã chủ động gửi đơn tố giác vụ việc đến cơ quan công an để trình báo, đồng thời thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết nhằm làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Do vụ việc đang trong quá trình điều tra của cơ quan chức năng nên PwC Việt Nam không thể thu thập được bằng chứng kiểm toán phù hợp liên quan đến khả năng thu hồi của khoản này. Đồng thời không xác định được liệu có cần thiết phải lập dự phòng phải thu khó đòi đối với khoản này hay không, do đó kiểm toán viên đã đưa ý kiến ngoại trừ đối với khoản phải thu này.
Bảo Minh được thành lập từ năm 1994, giai đoạn đầu hình thành thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đây cũng là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lớn tại Việt Nam.
Hiện cổ đông lớn nhất là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) nắm 50,7% vốn, tiếp đến là Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm AXA (Pháp) với tỉ lệ 16,65%, còn Firstland Company Limited hơn 5%.
Về hoạt động kinh doanh, Bảo Minh hiện đứng thứ 3 thị phần doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành, sau PVI và Bảo Việt. Theo báo cáo tài chính năm 2025, công ty này ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm thuần 5.059 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế 257 tỉ đồng.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu tiềm ẩn nhiều biến động do tình hình địa chính trị tại Trung Đông, việc hoàn thành nâng công suất tái hóa kho LNG nhằm đáp ứng yêu cầu cấp khí cho phát điện mùa khô để khẳng định năng lực chủ động, linh hoạt trong đảm bảo nguồn cung trong nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Theo đó, ngày 2-4, chi nhánh logistics - đơn vị trực thuộc PV Gas đã phối hợp cùng các bên liên quan hoàn thành chương trình chạy thử nâng công suất tái hóa kho LNG Thị Vải, sau các đợt triển khai vào ngày 18 đến 19-3 và 1 đến 2-4.
Kết quả cho thấy hệ thống vận hành an toàn, ổn định ở mức 288 tấn/giờ (so với công suất thiết kế ban đầu 171 tấn/giờ), tương đương khoảng 9,5 triệu sm³/ngày, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và điều kiện vận hành.
PV Gas cho hay toàn bộ hệ thống đã được kiểm định, đánh giá theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, với sự giám sát của tổ chức đăng kiểm DNV.
Việc nâng công suất giúp PV Gas gia tăng đáng kể năng lực cấp khí, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu huy động cho các nhà máy điện theo điều độ của Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) trong cao điểm mùa khô.
Đơn vị có thị phần cung cấp khí lớn nhất nước cho hay, việc vận hành kho LNG Thị Vải ổn định ở mức công suất cao hơn thiết kế ban đầu đòi hỏi trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm vận hành cao. Việc chạy thử được duy trì giám sát liên tục 24/7, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các thông số vận hành then chốt như nhiệt độ, áp suất, độ rung và chuyển vị thiết bị.
Việc nâng công suất kho LNG Thị Vải có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu tiềm ẩn rủi ro. Hạ tầng này tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung cấp khí, góp phần đảm bảo nguồn nhiên liệu ổn định cho sản xuất điện tại khu vực Đông Nam Bộ.
Với nền tảng hạ tầng ngày càng hoàn thiện, năng lực vận hành được khẳng định và khả năng thích ứng linh hoạt, PV Gas tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong ngành công nghiệp khí Việt Nam, góp phần đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của nền kinh tế.
Hôm 8/4, Quốc hội phê chuẩn ông Ngô Văn Tuấn giữ chức Bộ trưởng Tài chính nhiệm kỳ 2026-2030. Ông Tuấn nhận nhiệm vụ khi Việt Nam đang ở bước ngoặt với mục tiêu đột phá, duy trì tăng trưởng trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới để trở thành nước phát triển vào 2045.
"Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra yêu cầu rất lớn với ngành tài chính", ông Tuấn nói khi nhậm chức và cho rằng bối cảnh hiện nay, ngoài quản lý thu - chi, Bộ còn giữ vai trò tham mưu chiến lược điều hành kinh tế vĩ mô.
Ông nói thêm "thu ngân sách, điều hành chi tiêu đến huy động vốn đầu tư phát triển sẽ phải được nâng tầm, bảo đảm chủ động, linh hoạt và hiệu quả".
Thực tế, bức tranh tài khóa 5 năm qua với nhiều gam màu sáng là nền tảng cho nhà điều hành. Tổng thu ngân sách 2021-2025 ước đạt 9,75 triệu tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra nhờ cải cách quản lý thuế và số hóa. Chi thường xuyên được siết chặt, giúp bội chi ngân sách neo ở mức thấp 3,1-3,2% GDP. Đặc biệt, nợ công giảm từ 42,7% GDP năm 2021 xuống quanh 36-37% GDP vào 2025, thấp hơn nhiều mức trần Quốc hội cho phép.
TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng dư địa tài chính này cho phép "Chính phủ mạnh dạn huy động vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn mà vẫn đảm bảo an toàn tài chính quốc gia".
Cơ cấu thu ngân sách cũng đang chuyển dịch theo hướng bền vững hơn khi các nguồn thu chủ lực (trừ từ dầu thô) đều tăng. Năm ngoái, tỷ trọng thu nội địa chiếm hơn 86% tổng thu ngân sách nhà nước. Thu từ xuất nhập khẩu cũng tăng gần 18% so với cùng kỳ năm 2024 nhờ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ghi nhận mức kỷ lục hơn 920 tỷ USD.
Riêng khoản thu từ dầu thô giảm 18% so với cùng kỳ 2024. Việc ngân sách không còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên, như dầu thô, mà dựa vào nội lực của nền kinh tế cho thấy "sức khỏe" tài chính công ngày càng vững chắc hơn trước các cú sốc từ bên ngoài.
Tuy nhiên, ông Việt lưu ý "điểm tựa" này có thể lung lay nếu nguồn thu tiếp tục phụ thuộc vào các khoản mang tính chu kỳ, như đất đai. Giới chuyên môn từng dẫn thống kê từ năm 2005 đến nay cho thấy tỷ lệ thu ngân sách từ đất, gồm tiền sử dụng đất là lớn nhất, chiếm 13,1-16% tổng thu nội địa. Dòng tiền này lại phụ thuộc vào biến động thị trường bất động sản.
TS Việt cho rằng, thu ngân sách hiện có dấu hiệu chững lại do hiệu ứng nền cao từ các năm trước và khó khăn nội tại của nền kinh tế. Điều này đặt ra rủi ro hụt thu trong thời gian tới.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Tiếp đến là áp lực tháo gỡ điểm nghẽn giải ngân đầu tư công. Giai đoạn 2021-2025, dù giá trị giải ngân năm sau luôn cao hơn năm trước, tình trạng chậm tiến độ vẫn chưa được khắc phục dứt điểm. Hạn chế mang tính chu kỳ của giải ngân vốn công là thường xuyên bị "dồn toa" vào quý cuối năm. Đơn cử năm ngoái, theo dữ liệu của Bộ Tài chính đến cuối tháng 11 còn hơn 360.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 40% kế hoạch) vẫn chưa thể giải ngân.
Chậm giải ngân ảnh hưởng đáng kể tới sức bật của nền kinh tế, bởi đầu tư công vẫn được xem là động lực tăng trưởng quan trọng. Theo tính toán trong giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ giải ngân vốn công tăng 1%, GDP có thêm 0,058 điểm phần trăm.
"Nhà điều hành cần cải cách thể chế để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, giúp khu vực tư nhân hấp thụ vốn hiệu quả hơn", ông Việt nêu quan điểm. Cùng với đó, mô hình đối tác công - tư (PPP) cần minh bạch hơn để kích hoạt dòng vốn tư nhân và nước ngoài vào các lĩnh vực hạ tầng xanh, công nghệ cao.
Ngoài thể chế, TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) lưu ý ngành tài chính cũng cần gắn việc phân bổ ngân sách với các chỉ số KPI đo lường được. "Cần kiên quyết cắt giảm các khoản chi kém hiệu quả để dồn lực cho hạ tầng trọng điểm, không dàn trải", ông nói thêm.
Tìm "điểm tựa" vốn ngoài ngân sách cũng là thách thức với tân Bộ trưởng Tài chính ở nhiệm kỳ này. Để giữ nhịp tăng trưởng liên tục trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới, nền kinh tế cần "bơm" khoảng 8,22 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công - gấp gần 3 lần giai đoạn trước. Dòng vốn này, theo Chính phủ, sẽ được ưu tiên tối đa cho các dự án mang tính đột phá, chuyển đổi và xoay chuyển tình thế như dự án trọng điểm, chiến lược quốc gia.
Bài toán này đặt ra áp lực điều hành khi chính sách tài khóa phải đảm bảo chính sách tài khóa linh hoạt, được "mở van" đúng lúc, hỗ trợ tăng trưởng. Đồng thời, kỷ luật ngân sách cũng cần được siết chặt để không tạo áp lực trả nợ quá lớn cho giai đoạn sau.
Trong khi vốn ngân sách có hạn, các kênh huy động vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển tương xứng. Điều này khiến tín dụng ngân hàng trở thành kênh dẫn vốn chủ lực. TS Việt cho rằng lúc này tân Bộ trưởng Tài chính cần có các quyết sách mạnh mẽ để vực dậy thị trường trái phiếu doanh nghiệp - mạch máu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, qua đó giảm áp lực nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
Ông đề xuất cần thiết lập cơ chế đặc thù (sandbox thể chế) để xử lý dứt điểm nợ xấu, khơi thông các dự án "đắp chiếu" trong lĩnh vực bất động sản, năng lượng. "Việc này giúp giảm áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng, tạo dư địa tài khóa mà Nhà nước không phải bơm thêm tiền trực tiếp", ông Việt bình luận.
Cùng quan điểm, TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) cho rằng nhà chức trách cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, cũng như đẩy nhanh hoàn thiện các trung tâm tài chính tại Đà Nẵng, TP HCM theo chuẩn quốc tế.
Dù vậy, yếu tố quyết định thành công của chính sách tài khóa vẫn là con người. TS Trường cho rằng đội ngũ công chức ngành tài chính cần đáp ứng tốt nhất yêu cầu về tư duy - kỹ năng số, đồng thời phải có nhiệt huyết và liêm chính.
"Thực tế, một số cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương thực thi không đúng chủ trương tạo điểm nghẽn trong điều hành. Do đó, cần xử lý vấn đề này để tăng hiệu quả chính sách", ông nói thêm.