Tôi hỏi con trai, sau này con muốn làm gì. Cậu con trai 8 tuổi, không cần nghĩ lâu, trả lời ngay: ‘Con muốn làm chú bộ đội’.
Câu trả lời đến nhanh như một phản xạ, có lẽ bởi từ nhỏ, con đã nghe nội kể về những người lính – những con người đã đi qua chiến tranh bằng lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng.
Tôi nhìn con, vừa thấy thương, vừa thấy trách nhiệm, bởi để nói với một đứa trẻ về chiến tranh và cả hòa bình không phải là chuyện dễ.
Tháng Tư, người lớn nhắc nhiều đến ngày đất nước thống nhất. Những câu chuyện lịch sử, những thước phim cũ, những ký ức được kể lại. Nhưng với một đứa trẻ 8 tuổi, “chiến tranh” là khái niệm rất xa. Con không biết thế nào là bom rơi, không hiểu cảm giác chia ly, càng không hình dung được cái giá của độc lập. Có lẽ, đó chính là điều may mắn nhất.
Tôi không muốn kể với con về chiến tranh bằng những hình ảnh đau thương mình gom nhặt suốt hơn 40 năm. Tôi chọn cách khác. Tôi nói với con rằng, ngày xưa, đất nước mình có lúc không được yên. Khi ấy, có những người đã phải rời gia đình, đi rất xa, để giữ cho đất nước này được bình yên như hôm nay. Họ không phải là những người thích đánh nhau, mà là những người muốn bảo vệ.
Nghe kể chuyện xưa, cậu con thường im lặng, chăm chú nghe, thi thoảng lại hỏi: “Vậy bây giờ mình còn phải đánh nhau không ba?”. Tôi lắc đầu. “Không. Bây giờ là lúc mình giữ gìn hòa bình”.
Con lại hỏi: “Giữ bằng cách nào?”. Tôi chợt nhận ra, câu hỏi của con cũng chính là câu hỏi của người lớn, chỉ là chúng ta ít khi nói ra. Giữ hòa bình không chỉ là việc của những người lính. Giữ hòa bình còn là cách mỗi người sống với nhau mỗi ngày.
Tôi nói với con rằng nếu con muốn làm chú bộ đội thì trước hết con phải học cách không làm tổn thương người khác: không đánh bạn, không nói lời ác ý, không giành giật… Một người biết kiềm chế cơn giận của mình, biết nhường nhịn, biết lắng nghe – đó cũng là một người đang góp phần giữ hòa bình. Con có vẻ chưa hiểu hết, nhưng gật đầu.
Tôi kể thêm cho con nghe về ông cố. Rằng ngày xưa ông cũng từng là người lính. Ông không kể nhiều về những trận đánh, mà chỉ hay nhắc đến đồng đội, đến những ngày hành quân, đến cái đói, cái rét và cả niềm vui rất nhỏ khi được nhận một lá thư từ quê nhà. Ông cũng không nói nhiều về chiến thắng, mà nói nhiều về nỗi nhớ. Có lẽ, người đã đi qua chiến tranh thường không muốn kể lại sự khốc liệt. Họ chỉ mong những điều đó không lặp lại.
Thực ra, giáo dục lòng yêu nước cho con không phải là dạy con những điều lớn lao mà là dạy con sống tử tế, bởi tôi tin, mỗi người tử tế là một người biết tôn trọng người khác. Mỗi người tử tế là một người không gây tổn thương. Và khi đủ nhiều người tử tế, xã hội sẽ ít đi những xung đột, ít đi những mầm mống của bạo lực.
Yêu nước, ở một nghĩa rất bình dị là sống sao cho đất nước này trở nên tốt đẹp hơn, bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Là không xả rác bừa bãi. Là biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Là không gian dối. Là biết giúp đỡ người khác khi có thể…
Tất cả những điều ấy nghe có vẻ không liên quan đến “hòa bình” nhưng thật ra đó chính là nền tảng của hòa bình.
Thật vậy, một xã hội đầy những người nóng giận, ích kỷ, thiếu trách nhiệm thì dù không có chiến tranh, cũng khó mà gọi là bình yên. Ngược lại, một xã hội nơi con người biết nghĩ cho nhau, biết dừng lại trước khi làm điều sai thì đó đã là một dạng hòa bình rất sâu chắc.
Buổi tối ít ỏi của chuyến về quê trước lễ, trước khi đi ngủ, con lại hỏi tôi: “Sau này con có được làm chú bộ đội không ba?”. Tôi nói: “Được chứ. Nhưng dù con làm gì, con cũng có thể là người giữ hòa bình”.
Con cười, có lẽ cậu chưa hiểu hết. Nhưng tôi tin, những điều này sẽ lớn dần trong con theo cách rất tự nhiên như tôi từng nghe ngoại kể chuyện hòa bình, thống nhất thuở ấu thơ.
Tháng Tư, với người lớn, là ký ức nhưng với con, tháng Tư nên là một lời nhắc nhở, rằng hòa bình không phải là điều sẵn có mãi mãi mà cần được giữ gìn, mỗi ngày, bằng cách chúng ta sống với nhau. Và nếu một ngày nào đó, con vẫn muốn trở thành một người lính, tôi sẽ nói thêm với con một điều là, người lính dũng cảm không chỉ là người biết cầm súng mà còn là người biết giữ cho lòng mình không có chiến tranh.
Ai cũng biết mạng xã hội như con dao hai lưỡi nhưng cũng có những điều tích cực khi ta có thể học ngoại ngữ, luyện trí tuệ nhân tạo AI, kết nối với người khác hay để học theo kiểu mới hiện nay qua clip ngắn hoặc hình ảnh.
Đó cũng là nơi để có thể làm những điều ý nghĩa khác như đã có không ít hoạt động thiện nguyện ý nghĩa lan tỏa mạnh mẽ nhờ vào sức mạnh của mạng xã hội.
Thế nên vấn đề đặt ra là người lớn đang đồng hành với trẻ đến đâu trong việc sử dụng mạng xã hội. Có nhiều câu hỏi cùng xuất hiện khi bàn chuyện "cấm hay không".
Thay vì cấm, chúng ta đã hướng dẫn học sinh sử dụng mạng xã hội thế nào cho hiệu quả để không trở thành nạn nhân.
Những chuyên đề kỹ năng số giúp trẻ hình thành năng lực cần thiết để sử dụng công nghệ, Internet, các thiết bị kỹ thuật số một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm đã làm ra sao.
Không cho con dùng mạng xã hội, thời gian trống dành cho việc gì hay lại hết học môn này đến học môn kia. Các thư viện có đủ chỗ và đủ sách cho trẻ đến đọc hay những hoạt động văn hóa giải trí lành mạnh cho trẻ đã tính toán ra sao?
Cả hoạt động thể dục thể thao, chương trình dã ngoại, hoạt động bảo vệ môi trường cho trẻ trải nghiệm cũng là cách giúp trẻ bớt thời gian cho mạng xã hội được đầu tư thế nào?
Mạng xã hội đã trở thành một phần của cuộc sống hiện nay nên nếu chỉ nhìn thấy đó là nguy chứng tỏ người lớn chưa tận dụng cơ hội đến từ mạng xã hội, chưa tìm ra cách hướng trẻ đi đúng.
Lượng kiến thức khổng lồ, phong phú hay hoạt động tương tác để kết nối bạn bè, học hỏi những điều mới lạ trên đó là tài nguyên hữu dụng khi được khai thác đúng và hiệu quả.
Trường con tôi đang học có phần mềm học online (phải đóng phí) để giáo viên gửi bài mẫu cho học sinh. Với 13 môn học, có khi các thầy cô đăng bài cùng lúc và học sinh phải vào xem để điểm danh.
Có video đến 30 phút buộc học sinh coi hết, không thể tua qua nhanh và ghi "Em đã xem" mới hoàn thành.
Giáo viên chủ nhiệm lập nhóm Zalo riêng với phụ huynh gửi lịch ôn thi hoặc tài liệu học tập để phụ huynh lưu về in cho con. Đồng thời có nhóm Zalo khác để trao đổi việc học trực tiếp với học sinh. Chưa kể bài tập giao về nhà học sinh phải lập nhóm trên mạng cùng nhau làm.
Nhiều ngày tan học về, con tôi chưa kịp ăn cơm liền phải vào phần mềm đó coi thầy cô gửi bài chưa để còn điểm danh.
Mỗi ngày tôi cho con dùng Internet 30 phút xem phim, 30 phút chơi game, học tiếng Anh online 30 phút... và không xài mạng xã hội. Laptop, điện thoại, tài khoản mạng xã hội đều của mẹ, con mượn sử dụng vào các việc trên còn con chỉ có điện thoại "cục gạch" để liên lạc.
Nhưng phần mềm online của trường, rồi nhóm để làm việc trên mạng buộc học sinh phải xài Internet thời gian dài. Nếu cha mẹ không quản lý thì đâu dám chắc ngoài xem bài chúng sẽ xem gì trên mạng?
Bàn chuyện cấm trẻ dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội cũng cần đưa ra chế tài ngay trong môi trường giáo dục. Phần mềm online và các nhóm Zalo đã vô tình đưa học sinh đến với mạng xã hội nhiều hơn bao giờ hết.
Tại Östermalm, khu dân cư đắt đỏ của thủ đô Stockholm, những chiếc du thuyền đỗ sát bến cảng. Trên đại lộ Strandvägen, các cửa hàng thời trang cao cấp nằm xen lẫn những bất động sản giá trị cao. Dù vậy, người dân hiếm khi bàn tán về tài khoản hay mức lương.
Lola Akinmade Åkerström, người viết sách về văn hóa Bắc Âu, cho biết tại Thụy Điển, tiền bạc là chủ đề nhạy cảm. "Việc khoe khoang sự giàu có hay hỏi về mức lương bị xem là cấm kỵ. Nhiều người thấy thoải mái hơn khi nói về đời sống cá nhân thay vì tài chính", bà nói.
Điều này xuất phát từ Jantelagen (Luật Jante) - khái niệm từ cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1933 của nhà văn Aksel Sandemose. Quy tắc này quy định không ai nên nghĩ rằng mình đặc biệt hoặc giỏi hơn người khác. Tư tưởng này đã tồn tại nhiều thế kỷ trong các cộng đồng nông thôn Bắc Âu để duy trì sự bình đẳng.
Nếu Jantelagen là "bộ luật" ứng xử với cộng đồng, thì Lagom chính là kim chỉ nam cho đời sống cá nhân của người dân Thụy Điển. Lagom có nghĩa là "chỉ vừa đủ". Triết lý này hướng đến sự cân bằng: làm việc vừa đủ, tiêu dùng vừa đủ. Việc phô trương vật chất bị coi là phá vỡ sự khiêm tốn của Jantelagen và sự vừa vặn của Lagom.
Sự kín tiếng của người Thụy Điển dễ khiến du khách lầm tưởng về sự thịnh vượng của họ. Theo dữ liệu từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2024, GDP bình quân đầu người của Thụy Điển đạt 57.125 USD. Quốc gia này đứng thứ 4 toàn cầu về Chỉ số Hạnh phúc Thế giới.
Người Thụy Điển không cần siêu xe để chứng minh sự thành công bởi phúc lợi xã hội, y tế và giáo dục của họ vốn đã ở mức cao. Quốc gia Bắc Âu này còn được ví như "Thung lũng Silicon của châu Âu" với mật độ tỷ phú cao kỷ lục.
Thống kê từ Forbes cho thấy quốc gia 10 triệu dân này có hơn 40 tỷ phú USD. Trung bình cứ một triệu dân Thụy Điển có khoảng 4 tỷ phú, cao gấp đôi tỷ lệ của Mỹ. Các tập đoàn như IKEA, H&M, Spotify hay Skype đều khởi nguồn từ đây. Dù vậy, các nhà sáng lập và giới tỷ phú Thụy Điển vẫn tự đi siêu thị, đạp xe đi làm và mặc đồ không in logo. Họ coi việc phô diễn tài sản là thiếu tinh tế.
Tuy nhiên, trong thời đại mạng xã hội, quy tắc này bắt đầu thay đổi. Nicole Falciani, một người hoạt động trên mạng xã hội tại Stockholm, thường công khai thu nhập từ các chiến dịch quảng cáo. "Nếu bạn làm việc và đạt được kết quả, bạn có quyền tự hào về nó", Falciani cho biết. Cô nói Jantelagen đang kìm hãm sự sáng tạo và ngăn cản các cuộc thảo luận cởi mở về tài chính.
Phó giáo sư Cornelius Cappelen tại Đại học Bergen cho biết mạng xã hội đã biến việc phô diễn lối sống thành một giá trị mới, đối chọi với truyền thống. Dù vậy, đối với phần lớn người dân, sự khiêm tốn vẫn là trụ cột xã hội.
Natalia Irribara, người Chile sống tại Stockholm, cho biết ở quê hương cô, thành công luôn đi kèm sự phô trương. "Ở đây, sự khiêm tốn khiến giá trị vật chất trở nên nhẹ nhàng hơn. Bạn không cảm thấy bị áp lực phải chạy theo người khác", cô nói.
Chùa Thập Tháp, còn gọi Thập Tháp Di Đà Tự, tọa lạc tại phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai (trước thuộc Bình Định). Đây là một trong những tổ đình cổ kính, tiêu biểu của Thiền phái Lâm Tế ở miền Trung, lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa đặc sắc của vùng đất từng là kinh đô vương quốc Champa.
Chùa do Thiền sư Nguyên Thiều, người khai lập dòng Lâm Tế tại Đàng Trong sáng lập năm 1668 và được xếp hạng di tích quốc gia ngày 9/1/1990. Trải qua hơn 350 năm, chùa không chỉ là biểu tượng tôn giáo mà còn như “bảo tàng sống” về kiến trúc, điêu khắc cổ.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tô Lan, nghiên cứu viên cao cấp Viện Triết học, trong dòng chảy lịch sử văn hóa Việt Nam, di sản Hán Nôm, đặc biệt là thư tịch Phật giáo giữ vai trò như “ký ức vật chất” lưu giữ tri thức và đời sống tinh thần qua nhiều thế kỷ.
Đáng chú ý, chùa Thập Tháp ở Gia Lai là một trung tâm lưu trữ quan trọng với khối lượng lớn tư liệu Phật giáo Hán văn, có giá trị không chỉ trong nước mà còn ở khu vực Đông Á.
Điểm nhấn của di sản này là bộ Đại tạng kinh Gia Hưng (Gia Hưng Tạng) đang lưu giữ tại chùa, gồm khoảng 1.377 tập thuộc 479 bộ, tương đương gần 4.826 quyển, bao quát đầy đủ các hệ kinh, luật, luận và ngữ lục. Đây là một trong những bộ tạng kinh Hán văn còn khá đầy đủ ở Việt Nam trong bối cảnh nhiều thư tịch Phật giáo đã thất tán qua biến động lịch sử.
Tiến sĩ Nguyễn Tô Lan cho biết bộ kinh Phật Gia Hưng Tạng được truyền lại hơn 300 năm trước, đến nay vẫn tương đối hoàn chỉnh.
“Tất cả những bộ kinh Phật khác được truyền nhập vào Việt Nam chỉ còn những mảnh rời rạc trong các thư viện. Bộ kinh Phật Gia Hưng Tạng có thể coi là trọn vẹn duy nhất ở Việt Nam. Vì vậy, xét về giá trị tư liệu, đây là di sản độc nhất vô nhị”, Tiến sĩ Lan nói.
Trên bình diện thế giới, Gia Hưng Tạng còn tương đối toàn vẹn so với các mảnh rời rạc đang lưu giữ ở nhiều quốc gia khác. Đáng chú ý, đến nay chưa xác định được bộ kinh này có tổng cộng bao nhiêu quyển.
“Khoảng 10 năm trước, một chiến dịch quốc tế được triển khai nhằm số hóa các phần còn lại để phục dựng bộ đại tạng kinh hoàn chỉnh”, Tiến sĩ Lan nói thêm.
Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Huyện, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai cũng nhấn mạnh, Gia Hưng Tạng ở chùa Thập Tháp là một thư tịch Phật giáo đặc biệt quý giá ở Việt Nam còn nguyên vẹn. Bộ kinh có cấu trúc đầy đủ và lịch sử lưu truyền qua nhiều thế kỷ, có ý nghĩa đặc biệt đối với Phật giáo Việt Nam.
Bộ kinh Phật này minh chứng cụ thể tỉnh Bình Định trước đây là một trung tâm Phật giáo quan trọng của miền Trung trong thế kỷ XVII-XVIII. Bộ kinh cũng phản ánh đầy đủ quá trình giao lưu văn hóa, văn học giữa Phật giáo của tỉnh Bình Định, Việt Nam và không gian Phật giáo của Đông Nam Á.
Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Huyện cho rằng cần số hóa và đẩy mạnh nghiên cứu sâu về bộ kinh, đồng thời triển khai các chương trình, hành động cụ thể gắn với phát triển kinh tế, du lịch và văn hóa để phát huy giá trị di sản.