BS.CK2 Nguyễn Đức Thông, Trưởng Khoa Nội soi, Bệnh viện Nguyễn Trãi, bên lề hội nghị quốc tế cập nhật tiến bộ mới trong nội soi chẩn đoán và điều trị u ống tiêu hóa ngày 15/4, cho biết thực tế tại viện ghi nhận đa số người bệnh vẫn có tâm lý chờ xuất hiện các dấu hiệu như đau bụng, đi tiêu ra máu, thiếu máu, sụt cân… mới đi khám.
Theo bác sĩ, khi cơ thể đã “lên tiếng”, bệnh thường ở giai đoạn muộn. Lúc này, dù được phẫu thuật, tế bào ung thư có thể đã di căn đến cơ quan khác, khiến tiên lượng sống giảm đáng kể.
Để giảm nguy cơ tiến triển ung thư tiêu hóa, người dân cần thay đổi thói quen, chuyển từ “đợi có bệnh mới chữa” sang chủ động tầm soát khi còn khỏe mạnh. Mốc khuyến cáo bắt đầu nội soi dạ dày và đại tràng là từ 40 tuổi. Sau lần nội soi đầu tiên, tùy kết quả, bác sĩ sẽ xây dựng lịch theo dõi phù hợp. Người nguy cơ cao như nhiễm vi khuẩn HP, viêm teo, chuyển sản ruột cần nội soi định kỳ sát hơn, khoảng 1-2 năm một lần. Đặc biệt, người có tiền sử gia đình mắc ung thư đường tiêu hóa nên tầm soát từ sớm hơn.
Nội soi sớm mang lại lợi ích lớn vì giúp phát hiện và xử lý kịp thời các tổn thương tiền ung thư. Bác sĩ Thông dẫn chứng, nhiễm HP là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư dạ dày, có thể tiến triển qua các giai đoạn viêm teo, chuyển sản ruột và ung thư sớm. Với đại tràng, các polyp tuyến (adenoma) có nguy cơ cao trở thành khối u ác tính nếu không được phát hiện và cắt bỏ kịp thời.
Khi phát hiện polyp qua nội soi, bác sĩ có thể cắt bỏ ngay. Người bệnh gần như khỏi hoàn toàn, xuất viện trong ngày, tránh được phẫu thuật lớn và giảm nguy cơ ung thư đại tràng về sau.
Bên cạnh sự chủ động của người dân, năng lực chẩn đoán sớm của cơ sở y tế cũng đóng vai trò quan trọng. Bệnh viện đang đẩy mạnh ứng dụng các kỹ thuật hiện đại như nội soi nhuộm màu, nội soi phóng đại nhằm nâng cao khả năng phát hiện tổn thương. Nội soi siêu âm cũng được triển khai sâu hơn, giúp đánh giá chính xác khối u trong thành ống tiêu hóa, xác định lớp tổn thương để sinh thiết và lên kế hoạch điều trị.
BS.CK2 Lê Thanh Phong, Phó giám đốc Bệnh viện Nguyễn Trãi, nhấn mạnh nội soi tiêu hóa ngày càng giữ vai trò then chốt trong chẩn đoán sớm, đánh giá tổn thương và điều trị ít xâm lấn. Việc cập nhật tiến bộ y khoa và mở rộng hợp tác quốc tế là chiến lược trọng tâm nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, cải thiện chất lượng điều trị.
Tại hội nghị,PGS Osamu Dohi, Bộ môn Tiêu hóa – Gan mật Phân tử, Trường Đại học Y khoa Kyoto (Nhật Bản), đã trực tiếp trao đổi học thuật, hỗ trợ các bác sĩ trong nước hoàn thiện và nâng cấp kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc (ESD) lên những mức độ khó và chuyên sâu hơn.
Đây là phương pháp điều trị ung thư giai đoạn sớm qua nội soi, giúp loại bỏ tổn thương mà vẫn bảo tồn dạ dày, hạn chế biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện và giảm chi phí. Tại Nhật Bản, ESD được áp dụng rộng rãi nhờ chương trình tầm soát hiệu quả. Trước đây, người từ 40 tuổi được X-quang dạ dày cản quang rồi nội soi tầm soát hằng năm. Gần đây, khi tỷ lệ nhiễm HP giảm, Nhật Bản ghi nhận số ca ung thư dạ dày giảm dần và chuyển sang tầm soát định kỳ mỗi 2-3 năm cho người trên 50 tuổi.
Theo các bác sĩ, hiện nay nội soi gây mê đã trở nên phổ biến, giúp quá trình thực hiện nhẹ nhàng, không đau, góp phần xóa bỏ tâm lý e ngại, khuyến khích người dân chủ động tầm soát để bảo vệ sức khỏe.
Cứ vào mùa nấm tràm, rất đông người dân địa phương tại tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế... lại vào rừng tìm hái. Từ lâu loại nấm này được coi là món ăn bổ ích cho cơ thể, được ưa chuộng và tìm mua về chế biến.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, nấm tràm có hàm lượng nước rất cao, mật độ năng lượng cực thấp, rất phù hợp cho những người muốn kiểm soát cân nặng.
"Nấm tràm chứa nhiều protein, các loại khoáng chất như sắt, mangan, kali... cùng các loại vitamin nhóm B và các chất xơ thô. Với thành phần dinh dưỡng như trên, nấm tràm rất tốt cho hệ miễn dịch, hệ tiêu hóa - đường ruột, phù hợp với những người muốn kiểm soát cân nặng, tạo cảm giác no nhờ khối lượng chất xơ giãn nở trong dạ dày", bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền chia sẻ.
Với nguồn protein thực vật hoàn chỉnh, giàu axit amin thiết yếu, giúp ngăn ngừa nguy cơ giảm cơ bắp cùng các chất xơ kích thích nhu động ruột, nuôi vi khuẩn có lợi, giảm thời gian lưu trữ phân..., nấm tràm còn phù hợp với những người ăn chay, hạn chế thịt đỏ và người bị táo bón mạn tính, cần cải thiện hệ vi sinh đường ruột.
Mặc dù mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng đề cập nhóm người cần hạn chế hoặc không nên ăn nấm tràm.
Cụ thể, nấm tràm giải phóng lượng lớn các hợp chất hữu cơ purine chuyển hóa thành axit uric gây kết tủa tinh thể lại ở khớp, nên những người mắc bệnh gout không nên ăn nấm tràm. Nấm tràm giàu hàm lượng kali, những người bị suy thận cũng không nên sử dụng, bởi sẽ khiến thận không đào thải kịp, gây tăng kali máu dẫn đến rối loạn nhịp tim.
Phụ nữ mang thai và đang cho con bú cũng không nên ăn nấm tràm, bởi nguy cơ tích lũy sinh học kim loại nặng, chì và thủy ngân có thể xuyên qua hàng rào nhau thai gây khiếm khuyết thần kinh thai nhi, giảm IQ.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền, mỗi bữa ăn chỉ nên ăn khoảng 150 - 200 gam nấm tràm tươi cho người trưởng thành với tần suất ăn 1 - 2 lần/tuần.
Nếu ăn nấm tràm quá nhiều, sẽ gây ra các rủi ro như hội chứng khó tiêu, trào ngược dạ dày, tăng axit uric nguy hiểm kể cả những người chưa bị bệnh gout, tích lũy các kim loại nặng độc hại.
"Ung thư vú là bệnh có tỉ lệ mắc mới nhiều nhất trong số các ung thư ở phụ nữ, với xấp xỉ 25.000 người/năm. Hiệu quả điều trị căn bệnh này ở Việt Nam gần đây có nhiều thay đổi, tiệm cận với thế giới, kết quả này nhờ tỉ lệ người bệnh được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm đạt 3/4/tổng số ca, thay cho trước đây 3/4 người bệnh đến ở giai đoạn muộn" - PGS Quang cho biết tại hội thảo quốc tế về ung thư vú 2026, có chủ đề "Phối hợp đa mô thức kiểm soát ung thư vú trong kỷ nguyên y học chính xác", tổ chức trong 2 ngày 22 và 23-4 tại Hà Nội.
Theo thống kê chung của Bệnh viện K, ung thư vú hiện chiếm khoảng 1/4 tổng số ca mắc ung thư nói chung ở phụ nữ.
Mặc dù kết quả điều trị đã có bước tiến, nhưng các bác sĩ đánh giá ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng vẫn là căn bệnh thách thức với y khoa do yêu cầu phối hợp đa mô thức trong điều trị gồm phẫu thuật, điều trị toàn thân, chẩn đoán hình ảnh, sinh học phân tử và chăm sóc giảm nhẹ, tư vấn tâm lý, trong khi ở Việt Nam, dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ và tư vấn tâm lý cho người bệnh ung thư chưa được triển khai rộng rãi.
"So với các ung thư khác thì ung thư vú là một trong những nhóm bệnh ung thư có tiên lượng điều trị tốt, 85-90% bệnh nhân sống thêm từ 5 năm trở lên sau điều trị, nhiều người bệnh đã sống thêm trên 30 năm. Ghi nhận thực tế điều trị cho thấy những người bệnh đó đến bệnh viện vì những bệnh lý khác, không phải do ung thư vú, điều đó cho thấy bệnh ung thư vú đã được điều trị khỏi" - PGS Quang nói thêm.
PGS Quang cũng khuyến cáo việc chủ động khám, chăm sóc sức khỏe, tầm soát ung thư là chìa khóa để kiểm soát ung thư vú. "Hiệu quả điều trị phụ thuộc rất lớn và thời điểm phát hiện bệnh sớm hay muộn và giai đoạn của bệnh, chị em phụ nữ nên quan tâm đến sức khỏe của mình, tầm soát định kỳ hằng năm ở độ tuổi từ 40 hoặc khi có dấu hiệu bất thường" - PGS Quang thông tin.
Hội thảo quốc tế ung thư vú 2026 thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia Việt Nam và các nước Mỹ, Pháp, Nhật, Úc, Singapore...
Các chuyên gia cũng phân tích chuyên môn xung quanh vấn đề sàng lọc và tư vấn di truyền ở nhóm bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao; Các xu hướng can thiệp tối thiểu, hiệu quả tối đa; Ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh; Cập nhật các phương pháp điều trị toàn thân, điều trị đích; Hỗ trợ tâm lý và tư vấn cho bệnh nhân...
Đặc biệt các diễn giả sẽ có cuộc trao đổi với 150 bệnh nhân ung thư vú đang điều trị về các vấn đề liên quan đến tâm lý người bệnh và tác dụng phụ mà người bệnh đang gặp phải.
WHO: Hình thức lây truyền của virus Hanta khác với Covid-19
Theo bản tin mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến ngày 8/5, chùm ca bệnh trên tàu MV Hondius đã ghi nhận 8 trường hợp, trong đó có 3 ca tử vong. Trong số này 6 trường hợp được xét nghiệm xác định nhiễm virus Hanta, chủng virus Andes(ANDV).
Cập nhật đến ngày 12/5, tổng số ca nhiễm virus Hanta đã tăng lên 11, bao gồm 9 ca nhiễm chủng Andes và 2 trường hợp nghi ngờ.
WHO đánh giá mức độ nguy cơ đối với hành khách và thủy thủ đoàn trên tàu là ở mức trung bình, trong khi mức độ nguy cơ đối với dân số toàn cầu là ở mức thấp. WHO cũng nhấn mạnh hình thức lây truyền của virus Hanta khác với Covid-19. WHO tiếp tục theo dõi diễn biến dịch tễ và cập nhật đánh giá nguy cơ.
Về nguồn lây, tổ chức này cho biết vẫn đang tiếp tục điều tra. Các chuyên gia của WHO hướng đến giả thuyết hiện nay là ca bệnh đầu tiên có thể đã nhiễm virus trong quá trình tiếp xúc với môi trường hoặc chuột nhiễm virus thông qua hoạt động du lịch ngoài trời, trước khi lên tàu. Sau đó việc lây truyền hạn chế từ người sang người có thể đã diễn ra trên tàu qua quá trình tiếp xúc gần và kéo dài.
Do chưa có kết luận điều tra cuối cùng, người dân không nên suy diễn nguồn lây từ tàu, thực phẩm, nước uống hoặc các yếu tố khác khi chưa có thông tin chính thức.
Theo WHO, trong bối cảnh chùm ca bệnh hiện nay, những người có mặt trên tàu và các chuyến bay liên quan được khuyến cáo theo dõi sức khỏe trong 42 ngày sau lần có nguy cơ phơi nhiễm cuối cùng. Cần theo dõi các triệu chứng ban đầu, bao gồm đau đầu, chóng mặt, ớn lạnh, sốt, đau cơ và các vấn đề về đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng, và thường xuyên vệ sinh tay.
Đối với người tiếp xúc nguy cơ cao, WHO khuyến cáo theo dõi chủ động và cách ly tại nhà hoặc cơ sở phù hợp trong 42 ngày sau lần phơi nhiễm cuối cùng. WHO không khuyến cáo cách ly đối với người tiếp xúc nguy cơ thấp, nhóm này cần tự theo dõi sức khỏe và đi khám khi xuất hiện triệu chứng.
Nguy cơ bệnh do virus Hanta tại Việt Nam
Theo Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), đến nay, chưa ghi nhận công dân Việt Nam có liên quan đến chùm ca bệnh nêu trên. Cục đã có văn bản đề nghị các địa phương tăng cường giám sát tại cửa khẩu, giám sát tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; vệ sinh, khử khuẩn phương tiện; xử lý véc tơ, diệt chuột và chủ động các biện pháp phòng, chống bệnh phù hợp.
Ngoài ra, bệnh do virus Hanta không phải là vấn đề hoàn toàn mới trong giám sát dịch tễ. Tuy nhiên, qua rà soát thông tin khoa học hiện có, Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh do chủng virus Andes.
Một số nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu ghi nhận bằng chứng liên quan đến một số chủng virus Hanta khác, như virus Seoul hoặc các virus Hanta phát hiện trên động vật.
Vì vậy, người dân không hoang mang, lo lắng, cần theo dõi thông tin chính thống, không suy diễn chùm ca bệnh trên tàu du lịch quốc tế thành nguy cơ dịch lan rộng trong cộng đồng tại Việt Nam.
Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) khuyến cáo người dân tiếp tục thực hiện vệ sinh môi trường, phòng chống chuột để phòng mắc các bệnh lây truyền từ chuột sang người theo khuyến cáo.
Trường hợp sau khi tiếp xúc với chuột, chất thải của chuột hoặc khu vực có dấu vết chuột mà xuất hiện các biểu hiện như sốt, đau cơ, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, ho, tức ngực hoặc khó thở, người dân cần đến cơ sở y tế kịp thời. Đồng thời, thông báo tiền sử tiếp xúc để được tư vấn, khám, chẩn đoán và điều trị phù hợp.
Cục sẽ tiếp tục phối hợp với WHO và các cơ quan liên quan để cập nhật diễn biến tình hình, đánh giá nguy cơ và triển khai các biện pháp đáp ứng phù hợp, kịp thời thông tin cho người dân khi có diễn biến mới.