Tổ chức Times Higher Education (THE) ở Anh vài ngày trước công bố bảng xếp hạng ĐH tốt nhất châu Á năm 2026. Đáng chú ý, kỳ xếp hạng năm nay chứng kiến 6/9 ĐH Việt Nam giảm bậc, gồm các ĐH là Quốc gia Hà Nội, Bách khoa Hà Nội, Tôn Đức Thắng, Huế, Kinh tế TP.HCM và Mở TP.HCM. Trong khi đó, 3 trường còn lại là Quốc gia TP.HCM, Duy Tân và Y Hà Nội đều giữ nguyên thứ hạng so với năm trước.
Tuy nhiên, so với lần đầu tiên xuất hiện, đa số ĐH đều tụt hạng, chỉ duy nhất Y Hà Nội còn trụ vững thứ hạng đã đạt được sau khi ra mắt vào năm ngoái. Trong đó, ĐH Quốc gia Hà Nội sụt mạnh nhất trong số các trường Việt, từ nhóm 201-250 cách đây 10 năm xuống 601-800, tức giảm ít nhất 351 bậc. ĐH Bách khoa Hà Nội xếp thứ nhì khi rơi ít nhất 301 bậc, bắt đầu từ nhóm 251-300 vào 2020, nay chỉ thuộc nhóm 601-800.
Quốc gia Hà Nội cũng là đơn vị có số lần tụt hạng nhiều nhất với tổng cộng 5 lần, trong đó có 4 lần liên tiếp hạ bậc. Theo sau đó là Tôn Đức Thắng, với 4 lần rơi hạng liên tiếp từ khi ra mắt tới nay.
Nhìn chung, kể từ khi Việt Nam có đại diện lọt vào bảng xếp hạng ĐH tốt nhất châu Á của THE, không trường nào lên được vị trí cao hơn xuất phát điểm ban đầu. Thành tích tốt nhất một ĐH Việt Nam từng đạt ở bảng xếp hạng này là vị trí thứ 73, thuộc về Trường ĐH Tôn Đức Thắng ở năm 2022. Còn với năm nay, ĐH Kinh tế TP.HCM dẫn đầu Việt Nam ở hạng 184 toàn châu Á, thế nhưng cũng giảm 48 bậc so với năm ngoái.
Ngoài ra, chu kỳ xếp hạng năm nay còn ghi nhận thêm 2 đại diện mới từ Việt Nam, song đều ở vị trí khiêm tốn, gồm Trường ĐH Nguyễn Tất Thành (hạng 501-600) và ĐH Đà Nẵng (801+).
Dưới đây là thứ hạng các trường Việt Nam ở bảng xếp hạng châu Á của THE trong 7 năm qua.
Ngược lại, trên bảng xếp hạng ĐH tốt nhất châu Á của Quacquarelli Symonds (QS) ở Anh, bức tranh tăng giảm có phần đa dạng hơn, trong đó 8/17 trường có vị trí thấp hơn lần đầu xuất hiện, 7 trường có vị trí cao hơn và 2 trường giữ nguyên thứ hạng là ĐH Bách khoa Hà Nội và Mở TP.HCM. Còn lại là 8 đại diện mới ra mắt trong kỳ xếp hạng năm 2026, trong đó 1 ĐH vào top 300 là Công nghiệp TP.HCM (hạng 287), 4 ĐH ngoài top 500 và 3 ĐH ngoài top 1.000.
QS cùng với THE là hai tổ chức xếp hạng uy tín, nhiều năm kinh nghiệm và sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu. Cả hai bắt đầu xếp hạng các ĐH trên thế giới từ 2004 tới nay và lập bảng xếp hạng riêng cho các trường châu Á từ hai thập kỷ qua. Trong đó, các ĐH Việt Nam ra mắt ở bảng xếp hạng của THE từ năm 2020, còn của QS là từ năm 2009.
Riêng với bảng xếp hạng ĐH tốt nhất châu Á của QS, chúng tôi chỉ khảo sát từ chu kỳ năm 2017 trở đi – cũng là thời điểm lần đầu Việt Nam có đại diện vào top 150. Còn về giai đoạn trước đó, theo nghiên cứu đăng năm 2017 trên tạp chí Khoa học ĐHQGHN của hai tác giả Đinh Ái Linh (ĐH Quốc gia TP.HCM) và Trần Trí Trinh (Học viện Hành chính Việt Nam), thứ hạng các trường dao động trong nhóm 161-170 đến 351-500.
Như vậy, về phía gương mặt cũ, ĐH Văn Lang là đơn vị có cú thăng hạng ngoạn mục nhất, vươn từ nhóm 701-750 lên vị trí 251, tăng ít nhất 450 bậc từ khi ra mắt và hiện đứng thứ 5 Việt Nam. ĐH Quốc gia Hà Nội thì được gọi tên ở vị trí ổn định nhất khi sau 10 năm trường vẫn chưa từng rời top 200 và đang dẫn đầu Việt Nam ở hạng 158 – thành tích tương tự một thập kỷ trước, chỉ tụt 19 bậc.
Cũng trong top 5 Việt Nam năm nay, một gương mặt kỳ cựu khác là ĐH Quốc gia TP.HCM hiện xếp thứ 175, tụt 28 hạng so với 10 năm trước và từng có một lần rời khỏi top 200 châu Á. Trong khi đó, Trường ĐH Tôn Đức Thắng có 5 năm liên tiếp lọt vào top 200, nhưng đã rời khỏi nhóm này ở chu kỳ xếp hạng năm nay khi giữ vị trí số 231.
Ngược lại, ĐH Duy Tân tăng ít nhất 286 bậc, từ nhóm 451-500 lên hạng 165 song vẫn kém thành tích tốt nhất (hạng 115 vào năm 2024). Duy Tân cũng là ĐH từng tiến gần nhóm top 100 châu Á nhất nhưng đã không thành công vào top như điều ĐH này và Trường ĐH Tôn Đức Thắng từng thực hiện ở bảng xếp hạng của THE.
Dưới đây là thứ hạng các trường Việt ở bảng xếp hạng châu Á của QS trong 10 năm qua.
Nhìn tổng thể, giáo dục ĐH Việt Nam đang trên đường đạt được một trong những mục tiêu quan trọng nêu trong Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đó là phấn đấu có ít nhất 8 cơ sở giáo dục ĐH vào nhóm 200 trường hàng đầu châu Á đến năm 2030.
Cụ thể, ở chu kỳ xếp hạng năm 2026 của THE và QS, có 4/21 trường thực hiện được mục tiêu này, gồm Kinh tế TP.HCM, Quốc gia Hà Nội, Quốc gia TP.HCM và Duy Tân. Tất cả đều là ĐH đa ngành với nhiều trường thành viên và đều là những gương mặt nổi bật ở 3 thành phố lớn Việt Nam: Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM.
Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Tinh thần đổi mới ấy đã được thể hiện rõ nét tại Hội nghị Toàn quốc Khoa học Xã hội và Ngôn ngữ 2026, do Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) phối hợp cùng Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM (UEF) tổ chức.
Ghi nhận 145 bài báo toàn văn đến từ 35 cơ sở đào tạo và nghiên cứu trong nước cùng nhiều trường đại học quốc tế như Đại học Quốc lập Thanh Hoa, Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh và Học viện Công nghệ Bắc Kinh (Trung Quốc), sự kiện trở thành ‘điểm hẹn’ nghiên cứu, thu hút đông đảo nhà khoa học, học giả tham gia.
GS.TS. Lê Văn Cảnh - Phó hiệu trưởng HUTECH - cho rằng: "Các nhà nghiên cứu cần chủ động thích ứng, khai thác hiệu quả công nghệ mới, đồng thời bảo tồn các giá trị nhân văn và cảm xúc con người.
Đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để khoa học xã hội khẳng định vị thế trong hệ sinh thái tri thức hiện đại".
GS.TS. Lê Văn Cảnh phát biểu khai mạc chương trình - Ảnh: NTCC
Mở đầu phiên toàn thể, 4 tham luận tiêu biểu đến từ các báo cáo viên thuộc nhiều trường đại học uy tín đã tập trung vào các vấn đề trọng tâm của khoa học xã hội và ngôn ngữ trong bối cảnh chuyển đổi số.
Nội dung các báo cáo bao quát nhiều hướng tiếp cận như hệ giá trị văn hóa, giáo dục ngôn ngữ, nghiên cứu liên ngành và các xu hướng quản lý trong lĩnh vực mới, thể hiện bức tranh đa chiều của hoạt động nghiên cứu hiện nay.
Các tham luận gắn với thực tiễn, thu hút nhiều ý kiến trao đổi đa chiều - Ảnh: NTCC
Bên cạnh phiên toàn thể, hội nghị tổ chức 06 tiểu ban chuyên môn gồm: Khoa học xã hội; Khoa học giáo dục; Luật học và Quan hệ quốc tế; Du lịch bền vững; Khoa học chính trị và các ngành ngôn ngữ (Trung Quốc học, Hàn Quốc học, Nhật Bản học, Ngôn ngữ Anh).
Tại đây, hơn 40 báo cáo viên đã trình bày, trao đổi và phản biện các kết quả nghiên cứu trong môi trường học thuật, tăng cường kết nối chuyên môn và thúc đẩy hợp tác liên ngành.
Hơn 40 báo cáo viên trình bày tại các phiên tiểu ban - Ảnh: NTCC
Góp phần khuyến khích các hình thức truyền đạt và tiếp cận tri thức sáng tạo, hội nghị đã trưng bày hơn 20 poster nghiên cứu về đa dạng các vấn đề khoa học xã hội và ngôn ngữ.
Hoạt động không chỉ ghi nhận nỗ lực của các tác giả mà còn tạo nên không gian học thuật năng động, thúc đẩy các ý tưởng mới đến cộng đồng nghiên cứu trẻ.
Chia sẻ về điểm đặc biệt của hội nghị năm nay, PGS.TS. Phạm Văn Việt - Trưởng phòng Khoa học Công nghệ HUTECH cho biết, lần đầu tiên hội nghị áp dụng hệ thống quản lý bài nộp trực tuyến thực hiện hoàn toàn trên nền tảng số.
Các bản thảo đều được kiểm tra trùng lặp, phân công biên tập viên chuyên môn phụ trách và đánh giá bởi hai phản biện độc lập theo mô hình ‘mù đôi’. Qua đó nâng cao chất lượng học thuật và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế trong xuất bản khoa học.
Theo thống kê của Phòng CSGT Công an tỉnh Gia Lai, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 65 vụ tai nạn giao thông liên quan học sinh, chiếm gần 24% tổng số vụ tai nạn. Các vụ việc khiến 34 học sinh tử vong và 27 em khác bị thương.
Không chỉ tai nạn giao thông gia tăng, tình trạng học sinh vi phạm quy định về an toàn giao thông cũng diễn biến đáng lo ngại, đặc biệt ở lứa tuổi THCS và THPT.
Dọc nhiều tuyến đường, không khó để bắt gặp hình ảnh học sinh chưa đủ điều kiện nhưng vẫn điều khiển xe máy điện, xe gắn máy, thậm chí mô tô đến trường. Nhiều em không đội mũ bảo hiểm, chạy quá tốc độ, lạng lách, đánh võng, vượt đèn đỏ hoặc không chấp hành hiệu lệnh giao thông.
Qua công tác tuần tra, kiểm soát trong 6 tháng đầu năm, lực lượng CSGT đã phát hiện và xử lý 1.310 trường hợp học sinh vi phạm giao thông. Các lỗi phổ biến gồm điều khiển phương tiện khi chưa đủ tuổi, không đội mũ bảo hiểm, lạng lách, nẹt pô…
Đáng chú ý, một bộ phận phụ huynh vẫn còn lơ là, thậm chí "tiếp tay" khi giao xe cho con em dù chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện theo quy định.
Theo cơ quan chức năng, một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thực trạng này là tác động tiêu cực từ mạng xã hội. Nhiều video "test tốc độ", "độ xe", "bốc đầu" lan truyền tràn lan trên TikTok, Facebook đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của giới trẻ, khiến không ít học sinh xem đó là cách thể hiện cá tính và bản lĩnh.
Bên cạnh đó, tình trạng học sinh sử dụng xe đạp điện, xe máy điện độ, chế cũng đang trở thành vấn đề báo động, tiềm ẩn nguy cơ cao gây tai nạn giao thông.
Trước tình trạng vi phạm và tai nạn giao thông liên quan lứa tuổi học sinh diễn biến phức tạp, Phòng CSGT Công an tỉnh Gia Lai đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh.
Mới đây, ngày 11.5, Phòng CSGT Công an tỉnh đã có công văn gửi Sở GD-ĐT đề nghị phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, xử lý nghiêm học sinh vi phạm, đặc biệt là các trường hợp sử dụng xe máy, xe điện độ chế.
Lực lượng chức năng cũng tăng cường tuyên truyền, yêu cầu phụ huynh không giao xe mô tô cho con em sử dụng khi chưa đủ điều kiện và chưa đủ tuổi theo quy định pháp luật.
Những năm qua, công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông cho học sinh, sinh viên được các nhà trường chú trọng triển khai. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nhận thức của một bộ phận học sinh còn hạn chế nên tình trạng vi phạm luật Giao thông đường bộ vẫn xảy ra.
Thượng tá Lương Thị Thu Quỳnh, Trưởng phòng CSGT Công an tỉnh Gia Lai, cho biết song song với công tác tuyên truyền, lực lượng CSGT sẽ tiếp tục tăng cường tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp học sinh vi phạm trật tự an toàn giao thông.
"Đặc biệt là các trường hợp học sinh chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện, không đội mũ bảo hiểm, chạy quá tốc độ quy định; các trường hợp phụ huynh giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông", thượng tá Lương Thị Thu Quỳnh nhấn mạnh.
Theo các cơ quan chức năng, để kéo giảm tai nạn giao thông học sinh, ngoài sự vào cuộc của lực lượng công an, rất cần sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Cha mẹ cần quản lý chặt việc sử dụng phương tiện của con em, nhà trường cần đẩy mạnh giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, trong khi mỗi học sinh phải nhận thức rõ hậu quả của hành vi vi phạm giao thông.