Vào lúc 18h44 ngày 6-4 (tức 5h44 ngày 7-4 theo giờ Việt Nam), tàu Orion chở bốn phi hành gia thực hiện sứ mệnh Artemis II đã di chuyển vào vùng khuất sau Mặt trăng, khiến liên lạc với Trái đất bị gián đoạn trong khoảng 40 phút.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do sóng vô tuyến và laser – vốn truyền theo đường thẳng – không thể xuyên qua lớp vật chất dày đặc của Mặt trăng.
Theo Đài BBC, trong suốt 40 phút, con tàu nằm hoàn toàn ở “ngoài vùng phủ sóng”, lặng lẽ hành trình giữa khoảng không vô tận của vũ trụ.
Phi hành gia Victor Glover cho biết: “Chúng ta đang ở phía sau Mặt trăng và mất liên lạc với mọi người, hãy coi đó là một cơ hội. Hãy cầu nguyện, hy vọng và gửi những suy nghĩ tốt đẹp, để chúng ta có thể sớm kết nối với phi hành đoàn”.
Theo BBC, các phi hành gia đã tận dụng khoảng thời gian gián đoạn để tiến hành quan sát Mặt trăng ở cự ly gần, chụp ảnh, nghiên cứu địa chất bề mặt và ghi nhận những hình ảnh trực tiếp từ vùng không gian hiếm người đặt chân tới.
Khi tàu Orion trở lại vùng phủ sóng sau gần 40 phút, nữ phi hành gia Christina Koch chia sẻ: “Thật tuyệt khi được nghe tin từ Trái đất một lần nữa. Gửi đến châu Á, châu Phi, châu Úc – chúng tôi đang ngắm nhìn và lắng nghe các bạn”.
Trên thực tế, các sứ mệnh Apollo trước đây cũng từng trải qua hiện tượng gián đoạn liên lạc khi tàu bay vào vùng khuất sau Mặt trăng, cho thấy đây là một phần quen thuộc của hành trình chinh phục không gian.
Đặc biệt, trong sứ mệnh Apollo 11 năm 1969, phi hành gia Michael Collins đã một mình điều khiển mô-đun chỉ huy bay quanh Mặt trăng, trong khi hai đồng đội của ông, Neil Armstrong và Buzz Aldrin, đang thực hiện những bước đi đầu tiên của nhân loại trên bề mặt Mặt trăng.
Phi hành gia Michael Collins mô tả khi tàu mất liên lạc suốt 48 phút, ông cảm thấy “thực sự cô độc”, như bị tách khỏi mọi sự sống đã biết. Tuy nhiên, thay vì sợ hãi, ông cho biết mình cảm nhận được một sự bình yên hiếm có giữa khoảng lặng vô tận của vũ trụ.
Trên Trái đất, khoảng thời gian “mất tín hiệu” cũng là thử thách không nhỏ với các kỹ sư. Tại Trạm Goonhilly (Anh), những ăng ten khổng lồ vẫn luôn theo dõi hành trình của Orion, xác định vị trí và truyền dữ liệu về NASA.
Giám đốc công nghệ tại Trạm Goonhilly – ông Matt Cosby – cho biết đây là lần đầu tiên trạm theo dõi một tàu vũ trụ có người bay xa đến vậy. Khi con tàu khuất sau Mặt trăng, lo lắng là điều khó tránh, nhưng niềm vui sẽ vỡ òa khi tín hiệu trở lại và phi hành đoàn vẫn an toàn.
Các nhà khoa học kỳ vọng trong tương lai, những khoảng “mất kết nối” sẽ dần được xóa bỏ, đặc biệt khi con người hướng tới xây dựng căn cứ lâu dài trên Mặt trăng và tiến xa hơn vào không gian sâu.
Cụ thể, trong bài viết đăng trên chuyên san Scientia Sinica Informationis, ông Duan Baoyan, kiến trúc sư chủ chốt của dự án năng lượng mặt trời vũ trụ "Zhuri", cho hay hệ thống năng lượng trên quỹ đạo thế hệ mới không chỉ phục vụ mục đích truyền tải điện, mà còn có thể hỗ trợ các chức năng như liên lạc, định vị, trinh sát, tác chiến điện tử và điều khiển từ xa. Công nghệ này sử dụng các chùm vi sóng cực hẹp, có thể điều khiển chính xác để truyền năng lượng từ không gian xuống trái đất. Về nguyên tắc, khả năng này cũng có thể được ứng dụng để gây nhiễu mục tiêu hoặc bảo mật thông tin liên lạc quân sự.
Khác với các tấm pin mặt trời trên mặt đất, vốn bị hạn chế bởi thời tiết và chu kỳ ngày đêm, hệ thống đặt trên quỹ đạo có thể thu năng lượng gần như liên tục. Điện năng được chuyển đổi thành vi sóng và truyền xuống các trạm thu trên trái đất, tạo ra nguồn năng lượng ổn định quy mô lớn. Tuy nhiên, chính đặc tính này cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng bị khai thác cho mục đích quân sự, đặc biệt trong việc hỗ trợ các cơ sở ở khu vực xa xôi hoặc nhạy cảm, theo South China Morning Post.
Song song với không gian, Trung Quốc cũng đẩy mạnh phát triển năng lực dưới biển. Nước này đã công bố các mẫu tàu ngầm không người lái cỡ siêu lớn (XXLUUV), trong đó có những phương tiện dài tới hơn 40 m - vượt xa các thiết kế hiện tại của Mỹ. Sự xuất hiện của dòng phương tiện này mở ra một lớp năng lực mới trong trinh sát, giám sát và phòng thủ ven biển, theo Sri Lanka Guardian.
Các chuyên gia Trung Quốc cho biết các hệ thống này chủ yếu phục vụ mục tiêu phòng thủ khu vực. Tuy nhiên, quy mô và khả năng của chúng vẫn khiến giới phân tích quốc phòng Mỹ phải đánh giá lại các chiến lược răn đe và khả năng sẵn sàng của hải quân Mỹ.
Việc kết hợp giữa công nghệ không gian và phương tiện không người lái dưới nước cho thấy cách tiếp cận tích hợp của Trung Quốc trong chiến tranh thế hệ mới. Các công nghệ lưỡng dụng này giúp Bắc Kinh vừa tăng cường năng lực quân sự, vừa duy trì "vùng xám" giữa mục tiêu dân sự và quân sự, qua đó tạo lợi thế chiến lược và tránh việc quy trách nhiệm.
Giới quan sát nhận định sự hội tụ giữa năng lượng không gian, hệ thống không người lái và tác chiến điện tử đang định hình một mô hình răn đe bất đối xứng mới, cho phép mở rộng phạm vi ảnh hưởng mà không cần tham gia vào các cuộc xung đột quy mô lớn. Theo tờ South China Morning Post, những phát triển trên có thể là yếu tố làm thay đổi cán cân sức mạnh tại các khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong thời gian tới.
Theo tờ New York Times, "hạm đội muỗi" tập hợp các tàu nhỏ, nhanh và linh hoạt, là nòng cốt của hải quân thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), tách biệt với hải quân chính quy.
Cùng với tên lửa và máy bay không người lái phóng (drone) từ trên bờ, các tàu nhỏ này được xem là mối đe dọa chính với hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz.
Các tàu này đem theo vũ khí, thường ẩn trong các hang động được đào dọc ven biển và có thể được triển khai chỉ trong vài phút. Rất khó để phát hiện những con tàu này thông qua vệ tinh.
Theo giáo sư khoa học chính trị Saeid Golkar - một chuyên gia về IRGC, nhiệm vụ duy trì việc đóng cửa eo biển Hormuz thuộc về hải quân IRGC, một lực lượng được ông ví như "du kích trên biển".
Ông giải thích rằng hải quân IRGC triển khai chiến thuật bất đối xứng ở vịnh Ba Tư và eo biển Hormuz: "Thay vì dựa vào các tàu chiến lớn và hải chiến kinh điển, lực lượng này dùng chiến thuật đánh nhanh rút nhanh".
Kể từ khi xung đột Mỹ - Israel với Iran nổ ra ở Trung Đông, Cơ quan Hàng hải quốc tế của Liên hợp quốc cho biết ít nhất 20 tàu đã bị tấn công.
IRGC hiếm khi nhận trách nhiệm về các vụ này, trong khi các nhà phân tích cho rằng có nhiều khả năng các vụ tấn công được thực hiện bởi drone phóng từ trên bờ và rất khó truy vết.
Hôm 8-4, sau khi công bố lệnh ngừng bắn hai tuần, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Dan Caine tuyên bố hơn 90% hạm đội hải quân chính quy của Iran, bao gồm cả các tàu chiến chủ lực, "đã nằm dưới đáy đại dương". Tướng Caine cũng ước tính một nửa số tàu tấn công nhanh của hải quân IRGC đã bị đánh chìm.
Dù vậy Đô đốc Gary Roughead - một cựu chỉ huy trong Hải quân Mỹ - nhận định đây vẫn là "lực lượng gây rối đáng kể" và rất khó để tìm ra ý định thực sự của các tàu này.
Lực lượng Lục quân IRGC được thành lập sau Cách mạng Hồi giáo Iran 1979, do Lãnh tụ tối cao Ruhollah Khomeini không tin tưởng quân đội chính quy. Hải quân IRGC được bổ sung vào khoảng năm 1986, trong bối cảnh chiến tranh Iran - Iraq.
Theo ông Farzin Nadimi - chuyên gia về Hải quân IRGC tại Viện Washington, trong cuộc chiến tranh Iran - Iraq, hải quân chính quy Iran đã tỏ ra miễn cưỡng khi tấn công các tàu chở dầu của các nước hỗ trợ tài chính cho Iraq là Kuwait và Saudi Arabia.
Khi các cuộc tấn công leo thang, Mỹ triển khai tàu chiến để hộ tống các tàu chở dầu. Iran đối đầu với các tàu Mỹ bằng thủy lôi, trong đó đã làm hư hại tàu USS Samuel B. Roberts. Trong một trận chiến sau đó, Hải quân Mỹ đã đánh chìm hai tàu khu trục nhỏ của Iran và một số tàu chiến khác.
Ba năm sau, Iran chứng kiến Mỹ giành chiến thắng trước quân đội Iraq trong Chiến tranh vùng Vịnh.
Theo ông Nadimi, những sự kiện này khiến Iran nhận ra rằng họ không thể thắng nếu đối đầu trực diện với Mỹ. Từ đó Iran bắt đầu xây dựng những lực lượng bí mật để gây rối tại vùng Vịnh.
Hải quân IRGC hiện có khoảng 50.000 quân, được chia thành 5 khu vực dọc vịnh Ba Tư, hiện diện trên nhiều trong số 38 hòn đảo mà Iran kiểm soát. Lực lượng này đã xây dựng ít nhất 10 căn cứ kiên cố, được ngụy trang kỹ cho các tàu tấn công, trong đó căn cứ Farur là trung tâm của lực lượng đặc nhiệm hải quân.
Iran đã phát triển lực lượng này theo thời gian, ban đầu là các tàu dân sự gắn súng máy, hiện tại là các tàu nhỏ chuyên dụng, tàu ngầm mini, xuồng không người lái và thậm chí là các tàu chiến lớn, tinh vi hơn.
Hải quân IRGC từ lâu đã chơi trò "mèo vờn chuột" với quân đội Mỹ. Trong thập niên 1990 - 2000, các tàu nhỏ thường lao nhanh về phía tàu Mỹ rồi rẽ hướng ở khoảng cách rất gần.
Bộ tư lệnh không quân Ukraine cho biết quân đội Nga đã triển khai 619 máy bay không người lái (UAV) tự sát và mồi bẫy, 12 tên lửa đạn đạo Iskander-M và đạn phòng không S-400 hoán cải, một tên lửa hành trình Iskander-K phóng từ mặt đất, 29 tên lửa hành trình Kh-101 phóng từ oanh tạc cơ chiến lược và 5 quả đạn hải quân Kalibr trong đòn tập kích hiệp đồng rạng sáng nay.
"Các đơn vị phòng không đã bắn hạ và gây nhiễu 580 UAV, cùng 26 tên lửa hành trình Kh-101 và 4 quả đạn Kalibr. 13 tên lửa và 36 UAV đã đánh trúng 23 địa điểm, mảnh vỡ rơi xuống 9 vị trí. Chúng tôi chưa thu được thông tin về 4 tên lửa còn lại", cơ quan này cho biết.
Điều này đồng nghĩa phòng không Ukraine đã để lọt toàn bộ tên lửa đạn đạo Iskander-M và S-400 hoán cải, cũng như một số quả Kh-101, Kalibr và Iskander-K.
Bộ tư lệnh không quân Ukraine thêm rằng hướng tập kích chính của Nga là khu vực dọc sông Dnieper, trong khi các tỉnh Kiev, Kharkov, Chernihiv, Sumy và Odessa cũng bị tấn công.
Giới chức Ukraine cho biết có 6 người bị thương trong đợt tập kích, gồm hai người ở thành phố Dnipro thuộc tỉnh Dnipropetrovsk, hai nạn nhân ở thành phố Kherson và hai người ở tỉnh Kharkov. Chưa rõ có trường hợp thiệt mạng hay không.
AMK Mapping, tài khoản X chuyên theo dõi dữ liệu tình báo nguồn mở về chiến sự Ukraine, ước tính phòng không Ukraine đã bắn hạ được ít nhất 23 tên lửa hành trình các loại. "Tuy nhiên, phần lớn hoặc toàn bộ tên lửa đạn đạo đã đánh trúng mục tiêu", tài khoản này cho hay.
Bộ Quốc phòng Nga chưa bình luận về thông tin.
Cuộc tập kích diễn ra 3 ngày sau khi Tổng thống Volodymyr Zelensky bày tỏ lo ngại Ukraine thiếu hụt tên lửa Patriot do xung đột Trung Đông. Theo ông, quân đội Ukraine chỉ nhận được số lượng vũ khí rất hạn chế vì năng lực sản xuất của Mỹ có hạn, dù nguồn cung đến nay chưa bị gián đoạn.
Phương Tây đã viện trợ cho Ukraine nhiều hệ thống phòng không hiện đại, trong đó uy lực nhất là Patriot và SAMP/T. Các hệ thống Patriot Ukraine được trang bị tên lửa PAC-3 MSE hiện đại nhất do Mỹ sản xuất, có giá trung bình 4 triệu USD mỗi quả và khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo ở khoảng cách 60 km.
Tuy nhiên, lưới phòng không Ukraine gần đây thường rơi vào tình trạng quá tải và cạn kiệt đạn dược, nhiều tổ hợp Patriot cũng bị nhắm mục tiêu và phá hủy. Giới chức Ukraine thừa nhận Patriot đối mặt thách thức nghiêm trọng do tiêu hao tên lửa nhanh hơn tốc độ viện trợ của đối tác, khi mỗi khẩu đội thường phải phóng nhiều đạn đắt tiền để hạ một tên lửa Iskander-M Nga.
Trong cuộc phỏng vấn được truyền thông Đức công bố hôm 14/4, Tổng thống Zelensky tiết lộ tình trạng hiện nay "không thể tệ hơn được nữa". Một chỉ huy đơn vị Patriot Ukraine cho biết họ chỉ còn khai hỏa một quả đạn để đối phó mỗi tên lửa Nga, thay vì 2-4 quả như học thuyết phòng không tiêu chuẩn.