Bên cạnh thế mạnh truyền thống là lĩnh vực trồng, khai thác và chế biến cao su, thì lĩnh vực đầu tư, phát triển khu công nghiệp đang từng bước trở thành một trụ cột tăng trưởng quan trọng, mở ra không gian phát triển mới cho VRG.
Từ lợi thế quỹ đất đến hệ sinh thái khu công nghiệp quy mô lớn
Trong quá trình tái cơ cấu và phát triển đa ngành, VRG đã tận dụng hiệu quả lợi thế về quỹ đất rộng lớn và vị trí chiến lược tại nhiều địa phương để phát triển lĩnh vực khu công nghiệp. Ông Lê Thanh Hưng, Tổng giám đốc VRG, cho biết: “Tập đoàn hiện đang đầu tư vào 6 lĩnh vực kinh doanh cốt lõi được Chính phủ giao, bao gồm: trồng, khai thác, chế biến và kinh doanh cao su thiên nhiên; chế biến gỗ; sản phẩm công nghiệp cao su; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và đầu tư, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp”.
Trong tổng thể chiến lược phát triển của tập đoàn, lĩnh vực đầu tư, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp được xác định là một trong những trụ cột trọng yếu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa tạo động lực tăng trưởng mới, bền vững. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực mũi nhọn để tập đoàn thực hiện vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong việc tham gia thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần cùng cả hệ thống chính trị thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới.
Trên tinh thần đó, tập đoàn định hướng phát triển các khu công nghiệp theo mô hình hiện đại – xanh – thông minh – bền vững, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu.
Hiện nay, VRG đang quản lý và khai thác 14 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 4.200 ha, tập trung tại TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và Gia Lai. Các khu công nghiệp này đã thu hút hơn 820 nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra khoảng 260.000 việc làm cho người lao động.
Không chỉ đóng vai trò là điểm đến của các dự án sản xuất công nghiệp, các khu công nghiệp của VRG còn góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp – dịch vụ hiện đại, thúc đẩy phát triển đô thị và nâng cao đời sống người dân tại nhiều địa phương.
Song song đó, tập đoàn đang tiếp tục triển khai thêm 5 khu công nghiệp đã có chủ trương đầu tư, trong đó Khu công nghiệp Hiệp Thạnh (tỉnh Tây Ninh) đã được khởi công vào ngày 19.12.2025; Khu công nghiệp Rạch Bắp mở rộng đang tổ chức triển khai; cùng với các khu công nghiệp Nam Đồng Phú, Bắc Đồng Phú, Minh Hưng 3 dự kiến sẽ sớm được khởi công trong thời gian tới.
Sau khi hoàn thành, hệ thống khu công nghiệp của tập đoàn sẽ nâng lên 19 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 6.300 ha, tạo nền tảng quan trọng để tập đoàn phát triển mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực hạ tầng công nghiệp. Bên cạnh đó, tập đoàn còn sở hữu quỹ đất thu hút đầu tư khoảng 1.600 ha đất công nghiệp và 125 ha đất dịch vụ tại các địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp năng động như TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Gia Lai và Hải Phòng.
Quỹ đất này được xem là lợi thế lớn giúp VRG tiếp tục mở rộng lĩnh vực khu công nghiệp trong giai đoạn tới, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế.
Năm 2025 vừa qua tiếp tục là một năm thành công của lĩnh vực khu công nghiệp trong hệ sinh thái VRG khi hầu hết các khu công nghiệp đều hoàn thành và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong năm, các khu công nghiệp đã cho thuê mới khoảng 128 ha đất công nghiệp, đạt 100% kế hoạch năm và tăng 67,1% so với năm 2024. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy sức hút của các khu công nghiệp thuộc VRG trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa các khu công nghiệp trên cả nước.
Tổng doanh thu từ lĩnh vực khu công nghiệp hơn 2.770 tỉ đồng, bằng 103,5% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 1.250 tỉ đồng, tương đương 114,6% kế hoạch. Những con số này cho thấy hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng cao, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lĩnh vực khu công nghiệp trong cơ cấu doanh thu của tập đoàn.
Tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp hiện nay đạt hơn 90% trên tổng diện tích thương phẩm. Đây là mức cao, cho thấy sức hấp dẫn của hệ thống khu công nghiệp do VRG phát triển và quản lý. Tuy nhiên, tại một số khu công nghiệp, diện tích đất công nghiệp đã gần như được lấp đầy nên khả năng tăng trưởng cho thuê mới trong ngắn hạn không còn nhiều. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng và phát triển thêm các khu công nghiệp mới nhằm duy trì đà tăng trưởng trong tương lai.
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các nhà đầu tư, VRG đang triển khai nhiều dự án mở rộng và đầu tư mới các khu công nghiệp tại nhiều địa phương. Một số dự án tiêu biểu đang được triển khai gồm: Khu công nghiệp Hiệp Thạnh giai đoạn 1; Khu công nghiệp Nam Tân Uyên mở rộng giai đoạn 2; Khu công nghiệp Rạch Bắp mở rộng; Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú giai đoạn 2; Khu công nghiệp Nam Đồng Phú; Khu công nghiệp Minh Hưng 3 giai đoạn 2; Khu công nghiệp Nam Pleiku…
Bên cạnh đó, tập đoàn cũng phát triển các cụm công nghiệp như Minh Hưng 1, Minh Hưng 2, Phú Riềng, Thanh Phú, Long Tân… đồng thời nghiên cứu đề xuất chủ trương đầu tư cụm công nghiệp Tân Định 2. Các dự án này được kỳ vọng sẽ tạo thêm quỹ đất công nghiệp quy mô lớn, góp phần thu hút thêm các nhà đầu tư trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, logistics và công nghệ cao.
Việc mở rộng hệ thống khu công nghiệp không chỉ giúp VRG nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn tạo thêm động lực phát triển kinh tế cho nhiều địa phương.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế gắn liền với yêu cầu bảo vệ môi trường, VRG đang định hướng chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu theo mô hình khu công nghiệp xanh – thông minh – tuần hoàn. Đây được xem là xu hướng phát triển tất yếu của các khu công nghiệp hiện đại trên thế giới, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả vận hành.
VRG đang triển khai nhiều giải pháp nhằm “xanh hóa” các khu công nghiệp, từ việc phát triển hệ thống cây xanh, tối ưu hóa hạ tầng xử lý nước thải, tiết kiệm năng lượng cho đến ứng dụng công nghệ trong quản lý vận hành. Việc hướng tới mô hình khu công nghiệp sinh thái không chỉ giúp nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp mà còn tạo lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là các doanh nghiệp chú trọng tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững.
Trong năm 2026, VRG tiếp tục đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng đối với lĩnh vực khu công nghiệp nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Trước hết, tập đoàn sẽ hoàn thiện các thủ tục pháp lý, đầu tư xây dựng và đưa Khu công nghiệp Hiệp Thạnh giai đoạn 1 vào vận hành. Đồng thời, các thủ tục liên quan đến các khu công nghiệp mở rộng sẽ được hoàn tất để sớm triển khai xây dựng và kinh doanh cho thuê lại đất.
Song song đó, VRG sẽ thúc đẩy tiến độ xây dựng hạ tầng tại các khu công nghiệp đang thi công, đồng thời tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả vận hành hạ tầng tại các khu công nghiệp hiện hữu. Một nhiệm vụ quan trọng khác là thúc đẩy chủ trương đầu tư các khu và cụm công nghiệp mới trên đất cao su, thông qua việc phối hợp chặt chẽ với các địa phương để được chấp thuận chủ trương đầu tư trong quy hoạch phát triển công nghiệp.
Bên cạnh đó, VRG sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, mở rộng thị trường và thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp xanh và sản xuất bền vững.
Sự phát triển của hệ thống khu công nghiệp do VRG đầu tư không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội tại nhiều địa phương. Các khu công nghiệp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm cho người lao động, đồng thời thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, dịch vụ và đô thị.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, các khu công nghiệp của VRG tiếp tục được kỳ vọng sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế.
Khoảng 14h, lửa bùng lên tại khu sản xuất thành phẩm của Công ty TNHH Sam Well Furniture (KCN Tân Bình, phường Vĩnh Tân). Do bên trong chứa nhiều vật liệu dễ cháy như gỗ, bao bì, hóa chất, đám cháy lan nhanh, kèm nhiều tiếng nổ.
Công nhân và bảo vệ dùng hệ thống chữa cháy tại chỗ (bình chữa cháy, sprinkler, họng vách tường) nhưng không khống chế được. Khói đen bốc cao, nhiều người phải chạy ra ngoài.
Cảnh sát PCCC TP HCM điều 7 xe cùng 41 cán bộ, phối hợp 8 công an phường đến dập lửa. au hơn một giờ, đám cháy cơ bản được khống chế.
Không có thiệt hại về người, nhưng toàn bộ tài sản và nhà xưởng rộng 4.000 m2 bị thiêu rụi. Nguyên nhân, thiệt hại đang được làm rõ. Công ty thuê lại nhà xưởng để sản xuất và làm kho chứa.
Trong báo cáo vừa gửi Chính phủ, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV - chủ đầu tư) cho biết việc huy động nhân sự trên công trường gặp nhiều trở ngại, làm gia tăng rủi ro chậm tiến độ ở dự án hàng không lớn nhất cả nước.
Sân bay Long Thành khởi công đầu năm 2021 trên 5.000 ha tại xã Long Thành, là dự án trọng điểm quốc gia với tổng mức đầu tư gần 337.000 tỷ đồng. Theo kế hoạch, dự án hoàn thành và đưa vào khai thác cuối năm nay.
Tuy nhiên, theo ACV, thời gian qua xuất hiện tình trạng kỹ sư, công nhân rời công trường giữa chừng ở dự án thành phần 3 (đường cất hạ cánh, nhà ga hành khách...) để chuyển sang các dự án khác. Dù liên tục đôn đốc nhà thầu bổ sung lực lượng, đến giữa tháng 4 tổng nhân sự mới đạt khoảng 8.457 người, tương đương 60% nhu cầu, trong khi kế hoạch cần khoảng 14.000 người.
Tại gói thầu 5.10 (nhà ga hành khách), trước ngày 26/1 mỗi ngày có khoảng 5.300 lao động, sau đó giảm còn 1.500 người. Gần đây, lực lượng tăng lên khoảng 3.400 người nhưng vẫn thiếu đáng kể so với nhu cầu khoảng 6.000 người.
Tương tự, gói thầu 4.8 (hạ tầng cảng, giao thông) từng duy trì khoảng 1.500 lao động mỗi ngày, sau đó giảm còn 1.200 người, thấp hơn nhu cầu khoảng 1.900 người. Ngoài ra, việc thiếu nhân sự tư vấn thiết kế và giám sát ở một số gói thầu cũng ảnh hưởng đến quản lý chất lượng và quy trình thanh toán.
ACV nhận định nguồn lao động bị cạnh tranh mạnh từ các dự án hạ tầng lớn trong khu vực như cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, mở rộng cao tốc TP HCM – Long Thành, cũng như các hạng mục khác trong chính dự án sân bay. Điều kiện làm việc nắng nóng, nhiều bụi tại công trường cũng khiến việc thu hút và giữ chân lao động gặp khó.
Đại diện một nhà thầu cho biết vướng mắc thanh toán từ phía chủ đầu tư là nguyên nhân chính khiến nhiều nhân sự rời dự án. Trong bối cảnh giá xăng dầu tăng, chi phí đầu vào leo thang, dòng tiền bị gián đoạn tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp thi công.
Một nhà thầu khác cho hay vẫn bám tiến độ hợp đồng, song do một số hạng mục đã hoàn thành nên lao động được điều chuyển sang công trình khác. Đồng thời, thị trường xây dựng phía Nam đang sôi động với nhiều dự án mới, mức thu nhập hấp dẫn hơn cũng khiến một bộ phận công nhân chuyển việc.
Không chỉ thiếu nhân lực, biến động giá nhiên liệu và vật liệu cũng tác động đáng kể đến tiến độ. ACV cho biết giá bêtông nhựa tăng 40-50% so với trước, trong khi chi phí vận hành thiết bị tăng mạnh do giá nhiên liệu gần như gấp đôi.
Hiện trên công trường có khoảng 2.500 thiết bị thi công như máy xúc, máy ủi, xe lu, cần cẩu, trạm trộn bêtông... Tuy nhiên, áp lực chi phí khiến một số nhà thầu phải bù lỗ cho mỗi ca làm việc, thậm chí có tâm lý thi công cầm chừng, chờ nguồn cung ổn định hoặc điều chỉnh cơ chế.
Bên cạnh đó, dự án còn gặp vướng mắc về thiết kế, pháp lý và quy trình thanh toán, ảnh hưởng đến tiến độ chung. Chủ đầu tư kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương hỗ trợ ổn định nguồn cung vật liệu, nhiên liệu, đồng thời tháo gỡ các tồn tại để đảm bảo tiến độ.
Sân bay Long Thành được chia làm ba giai đoạn. Sau 5 năm thi công, các hạng mục giai đoạn 1 dần hoàn thiện. Trong đó, dự án thành phần 3 có quy mô lớn nhất, vốn hơn 86.000 tỷ đồng, đã thực hiện khoảng 64.000 tỷ, tương đương 74% giá trị hợp đồng.
Các dự án thành phần 1, 2 và 4 cơ bản bám tiến độ. Dự án 1 (trụ sở hành chính) và dự án 2 (tháp không lưu) đã hoàn thành phần lớn. Cuối năm trước, hệ thống kỹ thuật tháp không lưu được đưa vào vận hành, phục vụ các chuyến bay đầu tiên hạ cánh an toàn.
Theo kế hoạch khai thác, ACV đề xuất chuyển dần chuyến bay quốc tế từ Tân Sơn Nhất sang Long Thành từ cuối năm 2026, hướng tới phục vụ khoảng 90% khách quốc tế khu vực TP HCM vào năm 2027. Gần đây, đơn vị cũng thông báo tuyển dụng nhân sự, chuẩn bị cho mục tiêu vận hành sân bay vào cuối năm 2026.
Ngày 8.5, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng tổ chức diễn đàn đối thoại doanh nghiệp năm 2026 chủ đề "Khơi thông vướng mắc, bứt phá thành công", thu hút hơn 250 doanh nghiệp đang hoạt động tham gia. Tại diễn đàn, nhiều doanh nghiệp kiến nghị thành phố sớm tháo gỡ các điểm nghẽn về quy hoạch, giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng cơ chế hỗ trợ thực chất hơn cho nhà đầu tư sau khi hợp nhất địa giới hành chính.
Không khí đối thoại trở nên sôi nổi khi nhiều doanh nghiệp thẳng thắn nêu những khó khăn trong quá trình triển khai dự án đầu tư, đặc biệt tại khu vực phía nam thành phố (địa bàn thuộc tỉnh Quảng Nam cũ).
Theo phản ánh của doanh nghiệp, sau hợp nhất địa giới hành chính, cộng đồng đầu tư kỳ vọng Đà Nẵng sẽ có định hướng phát triển đô thị đồng đều hơn giữa khu vực phía bắc và phía nam, đồng thời hình thành các cơ chế linh hoạt để khai thác hiệu quả quỹ đất, hạ tầng và tiềm năng du lịch ven biển.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cho rằng thực tế vẫn còn không ít bất cập trong công tác quy hoạch và triển khai thủ tục hành chính, ảnh hưởng đến chiến lược đầu tư dài hạn. Quy hoạch là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả đầu tư, song hiện có tình trạng quy hoạch thay đổi nhưng doanh nghiệp không được cập nhật kịp thời, dẫn đến bị động trong kế hoạch phát triển và huy động vốn.
Một số dự án ban đầu được định hướng phát triển du lịch, thương mại nhưng sau điều chỉnh quy hoạch lại thay đổi mục đích sử dụng đất, ảnh hưởng lớn đến phương án đầu tư.
Ngoài ra, nhiều dự án dù đã được giao đất nhiều năm nhưng hạ tầng giao thông kết nối vẫn chưa hoàn thiện, gây khó khăn trong triển khai xây dựng và khai thác.
Đáng chú ý, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục là vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm nhiều nhất.
Theo phản ánh, quá trình xin cấp phép xây dựng hiện còn kéo dài do doanh nghiệp phải thực hiện đồng thời nhiều thủ tục liên quan như môi trường, phòng cháy chữa cháy, an toàn lao động… khiến thời gian xử lý hồ sơ có thể kéo dài nhiều tháng.
Ông Phạm Văn Đào, một chủ doanh nghiệp tại Khu kinh tế mở Chu Lai, chia sẻ trước đây ở địa bàn phía nam (thuộc tỉnh Quảng Nam cũ) ông đi ăn sáng, uống cà phê cũng có thể gặp được lãnh đạo. Vài tháng qua, cơ hội tiếp xúc không còn duy trì được như cũ.
Nhiều ý kiến cũng đề xuất thành phố đổi mới hình thức đối thoại theo hướng thực chất hơn, tổ chức các buổi làm việc theo từng khu vực hoặc cụm công nghiệp để xử lý các vấn đề đặc thù.
Đại diện doanh nghiệp Aman tại Đà Nẵng kiến nghị thành phố thành lập đường dây nóng hoặc ban chuyên trách để tiếp nhận và xử lý nhanh các phản ánh trong quá trình giải quyết hồ sơ.
"Mong thành phố có một đường dây nóng hoặc một ban chuyên trách để xử lý tình trạng có thể xảy ra nhũng nhiễu doanh nghiệp, tháo gỡ ngay các vướng mắc làm chậm tiến độ hồ sơ", đại diện doanh nghiệp Aman đề xuất.
Tại diễn đàn, ông Nguyễn Vĩnh Trân, Tổng giám đốc Công ty TNHH Phát triển Nam Hội An (đơn vị phát triển tổ hợp nghỉ dưỡng Hoiana), cho rằng để Đà Nẵng tiếp tục bứt phá và nâng cao năng lực cạnh tranh ở cấp độ khu vực, thành phố cần ưu tiên xử lý các vấn đề nền tảng, đặc biệt là giải phóng mặt bằng và cơ chế dành cho các dự án quy mô lớn, có tính đặc thù cao.
Theo ông Trân, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thủ tục pháp lý và khả năng dự báo tiến độ triển khai dự án.
Ông cho biết, sau sáp nhập, công tác giải phóng mặt bằng (bao gồm thu hồi đất, tái định cư và bàn giao đất) hiện chưa theo kịp tiến độ phát triển và kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng quỹ đất bị chia cắt, "da beo", gây khó khăn cho công tác quy hoạch tổng thể và triển khai xây dựng thực tế.
Dẫn chứng tại dự án Hoiana, ông Trân cho biết tổng diện tích đã ghi nhận giải phóng mặt bằng hơn 500 ha, tuy nhiên diện tích đất sạch đủ điều kiện triển khai xây dựng liền khối hiện chỉ khoảng 150 ha.
"Nhà đầu tư không chỉ cần thủ tục nhanh hơn, mà cần một quy trình rõ ràng, đồng bộ và có thể dự báo được, với khung thời gian cụ thể cho từng giai đoạn - từ giải phóng mặt bằng, giao đất, cấp phép đến triển khai xây dựng", ông Trân nói.
Lãnh đạo Công ty TNHH Phát triển Nam Hội An cũng kiến nghị Đà Nẵng cần có cơ chế phù hợp cho các dự án tạo hiệu ứng lan tỏa lớn đối với nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng cao cấp và bất động sản dịch vụ.
"Hoiana cam kết sẽ tiếp tục đồng hành lâu dài cùng thành phố, chung tay xây dựng Đà Nẵng trở thành điểm đến hàng đầu của khu vực và một trung tâm thu hút đầu tư chiến lược trong nhiều thập kỷ tới", ông Nguyễn Vĩnh Trân khẳng định.
Tại buổi đối thoại, đại diện các sở, ngành cũng trực tiếp trả lời và làm rõ nhiều vướng mắc mà doanh nghiệp nêu ra nhằm sớm tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai dự án.
Phát biểu kết luận diễn đàn, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, khẳng định thành phố không chỉ dừng lại ở việc lắng nghe mà sẽ tập trung xử lý thực chất các kiến nghị của doanh nghiệp.
Theo ông Hùng, ngay trong tuần tới, thành phố sẽ bắt tay giải quyết những vấn đề đã được nêu tại diễn đàn, đồng thời yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị và các sở, ngành chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, hỗ trợ phát triển.
"Không được đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; phải chấm dứt tình trạng hồ sơ chạy vòng vèo nhiều tháng mà không giải quyết xong", ông Hùng nhấn mạnh.
Ông Hùng cũng cho biết thời gian tới Đà Nẵng sẽ duy trì nhiều hình thức đối thoại linh hoạt với doanh nghiệp như tiếp nhận phản ánh qua điện thoại, tin nhắn, tổ chức các buổi làm việc hằng tuần để xử lý khó khăn phát sinh; đồng thời triển khai các cuộc đối thoại chuyên đề theo từng lĩnh vực như du lịch, công nghệ cao, xăng dầu…
Định kỳ từ 3 - 6 tháng, thành phố sẽ tổ chức các cuộc làm việc chuyên sâu nhằm trao đổi các định hướng phát triển lớn với cộng đồng doanh nghiệp.
"Thành phố không chỉ lắng nghe mà sẽ cùng doanh nghiệp đi đến tận cùng để giải quyết các vướng mắc. Sự phát triển của doanh nghiệp cũng chính là sự phát triển của thành phố", Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng khẳng định.