Ngày 5-5, Trường đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức hội nghị triển khai quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về công tác cán bộ.
Theo đó, PGS.TS Vũ Ngọc Anh – nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý doanh nghiệp, Bộ Xây dựng – được bổ nhiệm giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Kiến trúc Hà Nội kể từ ngày 1-5.
PGS.TS Vũ Ngọc Anh, 54 tuổi, quê Hưng Yên, là phó giáo sư, tiến sĩ khoa học kỹ thuật.
Ông Ngọc Anh tốt nghiệp Trường đại học Xây dựng năm 1996, sau đó tham gia giảng dạy tại khoa xây dựng Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, giữ chức vụ Bí thư Đoàn trường.
Từ năm 2003 đến 2009, ông được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp học bổng du học tại Pháp, lần lượt hoàn thành các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ. Trong thời gian này, ông đặc biệt quan tâm đến các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến kết cấu bê tông cốt thép, bê tông dự ứng lực bị ăn mòn bởi môi trường nước biển.
Năm 2009, trở về nước, ông tiếp tục công tác tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, được bổ nhiệm các vị trí Phó khoa, sau đó là Trưởng khoa xây dựng.
Năm 2014, ông nhận chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng miền Trung, năm 2018 được bổ nhiệm làm Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi trường, Bộ Xây dựng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn ngoại ngữ cần thoát khỏi lối mòn điểm số

Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.
Giáo Dục
Hơn 170.000 thí sinh đăng ký thi đánh giá năng lực đợt 2, tăng hơn 77%

Trưa 26-4, Đại học Quốc gia TP.HCM đã công bố thông tin về đăng ký thi đánh giá năng lực đợt 2 năm 2026 với hơn 170.000 thí sinh. Quy mô mở rộng, số lượng thí sinh tiếp tục tăng cho thấy sức hút ngày càng lớn của phương thức tuyển sinh này.
Tính đến hạn cuối đăng ký ngày 25-4, kỳ thi đánh giá năng lực đợt 2 năm 2026 do Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức có 172.622 thí sinh đăng ký, trong đó 169.935 thí sinh đã hoàn tất đóng lệ phí.
Trong số này, 109.957 thí sinh đã tham dự đợt 1 và 59.978 thí sinh chỉ đăng ký dự thi đợt 2. So với đợt 2 năm 2025 (97.387 thí sinh), số lượng đăng ký năm nay tăng 77,25%, phản ánh mức độ quan tâm ngày càng lớn từ thí sinh và các cơ sở giáo dục đại học.
Theo kế hoạch ban đầu, đợt 2 sẽ diễn ra ngày 24-5 tại các điểm thi thuộc 9 tỉnh, thành phố gồm: Huế, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Đồng Tháp và An Giang.
Tuy nhiên trước tình hình thí sinh đăng ký dự thi đợt 2 tăng đột biến, Đại học Quốc gia TP.HCM đã phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng bổ sung thêm các điểm thi tại tất cả các địa phương đã tổ chức thi ở đợt 1; qua đó nâng tổng số địa phương tổ chức thi đợt 2 năm 2026 lên 15 tỉnh, thành phố (sau sáp nhập).
Việc mở rộng địa điểm thi không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh, mà còn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong công tác tổ chức kỳ thi quy mô lớn, hướng đến phục vụ người học ngày càng tốt hơn.
Đại học Quốc gia TP.HCM lưu ý thí sinh được phép điều chỉnh địa điểm dự thi và hoàn tất thanh toán lệ phí thi đến hết ngày mai (27-4).
Đại học Quốc gia sẽ gửi email thông báo đến các thí sinh thuộc khu vực được bổ sung điểm thi để lựa chọn lại địa điểm phù hợp. Thí sinh cần kiểm tra, cập nhật chính xác thông tin cá nhân để tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình dự thi.
Đại học Quốc gia đang phối hợp với các trường đối tác, địa phương và các bên liên quan để chuẩn bị cơ sở vật chất, nhân sự, bảo đảm kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế.
Đợt 1 của kỳ thi đã diễn ra ngày 5-4, với 133.489 thí sinh tham gia, đạt tỉ lệ dự thi 98,33% so với số đăng ký. Bước sang đợt 2, lượng thí sinh tiếp tục tăng, cho thấy sức hút ổn định của phương thức xét tuyển này.
Sau 8 năm triển khai (2018-2025), kỳ thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia TP.HCM dần khẳng định vai trò là một kênh tuyển sinh quan trọng. Hiện có hơn 110 cơ sở giáo dục đại học sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Từ 10.5.2026, Điều lệ mới đối với trường tiểu học, trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (gọi chung là trường phổ thông) sẽ có hiệu lực thi hành.
Thông tư này thay thế các thông tư ban hành điều lệ riêng cho từng bậc học trước đây (điều lệ trường tiểu học năm 2020, điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học năm 2020).
Theo đó, trường phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông. Trường phổ thông được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Điều lệ quy định có các loại hình trường phổ thông gồm trường phổ thông có một cấp học (trường tiểu học, trường THCS, trường THPT) và trường phổ thông có nhiều cấp học (trường tiểu học và THCS; trường THCS và THPT; trường tiểu học, THCS và THPT).
Bên cạnh đó có trường chuyên biệt gồm trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú; trường THPT chuyên, trường phổ thông năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao và các trường năng khiếu khác; trường, lớp dành cho người khuyết tật; trường giáo dưỡng...
Thông tư 19 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư năm 2024 quy định về dạy thêm học thêm, có hiệu lực từ 15.6, yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Giáo viên đang dạy học tại các trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm.
UBND cấp xã có trách nhiệm phải thiết lập và công khai niêm yết số điện thoại đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp xã (nếu có) hoặc tại trụ sở cơ quan UBND cấp xã để tiếp nhận, xử lý các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn quản lý.
Cũng theo quy định này, học tăng cường ngoại ngữ, giáo dục STEM không được coi là dạy thêm, học thêm. Theo đó, các hoạt động giáo dục về văn hóa, nghệ thuật, thể thao; tăng cường năng lực ngoại ngữ, giáo dục STEM/STEAM, giáo dục năng lực số, trí tuệ nhân tạo, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống và các nội dung giáo dục khác theo quy định nhằm giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh mà không thuộc nội dung chương trình các môn học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành không phải là dạy thêm học thêm và được thực hiện theo các quy định khác của pháp luật.
Nghị định Quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo được Chính phủ ban hành ngày 28.3, có hiệu lực từ ngày 15.5, cho thấy trong thời gian tới toàn bộ quá trình học tập của người học (hồ sơ học tập suốt đời) trong hệ thống giáo dục quốc dân sẽ được lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo và tích hợp lên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.
Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời được tạo lập bao gồm thông tin về học bạ ghi nhận toàn bộ quá trình học tập; kết quả học tập và rèn luyện của người học đối với giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; thông tin về văn bằng, chứng chỉ được cấp sau khi người học tốt nghiệp cấp học, hoàn thành chương trình giáo dục hoặc khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Bên cạnh đó là thông tin công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam, thông tin kết quả học tập của người học trong các chương trình giáo dục ĐH, giáo dục nghề nghiệp; chứng nhận kết quả đánh giá năng lực qua các kỳ thi hoặc kỳ kiểm tra; chứng nhận giải thưởng, thành tích học tập của người học...
Từ 15.5.2026, mỗi người học được cấp 1 mã hồ sơ học tập suốt đời theo số định danh cá nhân và trước 1.1.2027 sẽ hoàn thành cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời cho tất cả người học.
Mã số hồ sơ học tập suốt đời của cá nhân được dùng làm mã khóa truy cập để khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo.
Bộ GD-ĐT chịu trách nhiệm hoàn thành việc cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo cho tất cả các cá nhân có liên quan trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

