Áp lực công việc, kỳ vọng xã hội hay thiếu điểm tựa tâm lý đang khiến nhiều người trẻ rơi vào trạng thái kiệt sức, stress kéo dài. Thế nhưng thay vì tìm đến sự trợ giúp chăm sóc sức khỏe tâm thần, không ít người trẻ loay hoay với những cách tự “chữa lành”.
Người trẻ cần chăm sóc sức khỏe tinh thần như thế nào cho tốt?
Sau gần một năm làm việc tại một công ty truyền thông, Linh (24 tuổi) quyết định nghỉ việc khi liên tục rơi vào trạng thái mất ngủ, lo âu vì áp lực deadline. Cô dành hai tháng đi du lịch, hạn chế tiếp xúc công việc với hy vọng “lấy lại năng lượng”.
Thế nhưng khi quay trở lại, cảm giác mệt mỏi vẫn không biến mất. Thậm chí cô gái trẻ còn lo lắng hơn về tài chính và tương lai khi phải loay hoay đi tìm việc mới. “Khi mới nghỉ việc, tôi thấy vô cùng thoải mái như đã trút bỏ được “gánh nặng”. Nhưng sau khi trở lại, đi xin việc tôi lại lo lắng bởi biết đâu tôi lại gặp công việc như trước đó”, Linh bộc bạch.
Không riêng Linh, nhiều người trẻ hiện nay đang lựa chọn “rút lui” như một cách tự cứu mình. Trang (25 tuổi), nhân viên ngân hàng, từng xin nghỉ phép năm ngày để “thở” sau áp lực doanh số. Nhưng khi trở lại, khối lượng công việc dồn lại khiến cô càng căng thẳng hơn. Thậm chí việc nghỉ phép quá nhiều khiến cô bị doanh nghiệp đánh giá thiếu trách nhiệm, ảnh hưởng đến sự phát triển công việc sau này.
Với những người trẻ, khi “chuyển giao” từ môi trường học tập sang môi trường làm việc không phải điều dễ dàng. Đặc biệt trong môi trường công sở, những nhân viên văn phòng trong mọi lĩnh vực đều phải chịu áp lực về tiến độ công việc, chỉ tiêu doanh số… khiến họ vừa chịu áp lực về thể chất vừa âm thầm tác động lên sức khỏe tâm thần.
Thế nhưng điều đáng lo ngại là không phải ai gặp vấn đề tâm lý cũng dễ nhận ra. Nhiều người cho rằng đó chỉ là cảm xúc nhất thời, công việc không phù hợp… và tự tìm cách “chữa lành”. Từ việc nghỉ phép, nghỉ việc, đi du lịch… đến tham gia những khóa học “chữa lành” mà trì hoãn việc tìm đến sự hỗ trợ của chuyên gia, chăm sóc sức khỏe tâm thần.
Thực tế tại nhiều doanh nghiệp hiện nay, các chương trình chăm sóc sức khỏe đối với nhân viên vẫn chủ yếu tập trung vào khám sức khỏe thể chất định kỳ theo quy định của Luật Lao động. Trong khi đó sức khỏe tâm thần gần như chưa được chú ý đúng mức.
Theo số liệu của Bộ Y tế, tỉ lệ mắc các bệnh rối loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm, lo âu, rối loạn cảm xúc… tại nước ta chiếm gần 15% dân số nhưng phần lớn không được điều trị.
Theo bác sĩ Lê Công Thiện – Viện sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, đa phần người lao động vẫn chú trọng đến sức khỏe thể chất hơn sức khỏe tâm thần. Trong khi đó áp lực công việc, học tập và cuộc sống đang khiến các vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng, đặc biệt ở người trẻ. “Nếu các vấn đề sức khỏe tâm thần không được quan tâm đúng mức sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động, giảm khả năng tạo ra của cải vật chất cho xã hội”, bác sĩ Thiện chia sẻ.
Trước thực trạng đó, mới đây Bộ Y tế đã lấy ý kiến dự thảo thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Trong đó, thông tư đề xuất đưa các yếu tố nguy cơ như áp lực học tập, áp lực công việc, stress kéo dài… vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần. Dự thảo cũng đề xuất việc giám sát sẽ được triển khai theo hai hình thức chính gồm giám sát thường xuyên và điều tra định kỳ. Theo kế hoạch, cứ năm năm sẽ tổ chức các cuộc điều tra quy mô quốc gia và chuyên đề, điều tra chuyên đề định kỳ về sức khỏe tâm thần…
Hoạt động giám sát không chỉ diễn ra tại các cơ sở y tế mà còn thực hiện tại các cơ sở giáo dục như trường học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Giám sát tại nơi làm việc, khu công nghiệp và các cơ sở lao động tập trung nhằm phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động. Theo các chuyên gia, đây là bước đi cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh áp lực công việc ngày càng tăng cao.
Để phòng ngừa các rối loạn tâm thần liên quan đến áp lực công việc, chuyên gia tâm lý Nguyễn Ngọc Hoàng – thành viên Hội Tâm lý học Việt Nam – cho rằng mỗi cá nhân không chỉ cần nhận diện sớm căng thẳng mà quan trọng hơn là phải chủ động điều chỉnh cách làm việc và lối sống hằng ngày.
Trước hết cần thiết lập ranh giới giữa công việc và đời sống cá nhân. Theo chuyên gia, nhiều người trẻ hiện nay rơi vào trạng thái “luôn trong giờ làm việc” do thói quen kiểm tra email, tin nhắn ngoài giờ. Điều này khiến não bộ không có thời gian phục hồi, dẫn đến căng thẳng kéo dài.
Việc đặt ra những nguyên tắc rõ ràng, như không xử lý công việc sau một khung giờ nhất định, tắt thông báo công việc khi nghỉ ngơi giúp tạo khoảng “ngắt kết nối” cần thiết để tái tạo năng lượng tinh thần.
Bên cạnh đó, người lao động cũng cần phân bổ thời gian hợp lý giữa làm việc và nghỉ ngơi. Làm việc liên tục trong thời gian dài không đồng nghĩa với hiệu quả cao, ngược lại còn làm suy giảm khả năng tập trung và tăng nguy cơ kiệt sức. Vì vậy nên chia nhỏ thời gian làm việc, xen kẽ các khoảng nghỉ ngắn để não bộ được “reset”, từ đó duy trì hiệu suất ổn định hơn.
Người lao động cũng cần học cách từ chối những yêu cầu vượt quá khả năng. Trong môi trường công sở, nhiều người trẻ có xu hướng nhận thêm việc để thể hiện năng lực hoặc vì ngại từ chối. Tuy nhiên việc ôm đồm quá nhiều nhiệm vụ dễ dẫn đến quá tải, mất kiểm soát và gia tăng áp lực. Việc từ chối một cách khéo léo, có lý do rõ ràng không chỉ giúp cá nhân giữ được cân bằng mà còn thể hiện sự chuyên nghiệp trong quản lý công việc.
Một giải pháp khác mà chuyên gia này khuyến cáo là hãy chia nhỏ mục tiêu công việc. Khi đối diện với khối lượng công việc lớn, cá nhân dễ rơi vào trạng thái áp lực, lo âu. Việc tách mục tiêu lớn thành các bước nhỏ, cụ thể sẽ giúp tạo cảm giác kiểm soát, đồng thời mỗi lần hoàn thành một phần việc cũng mang lại động lực tích cực, giảm gánh nặng tâm lý.
Giấc ngủ là yếu tố nền tảng đối với sức khỏe, song nhiều cuộc khám sức khỏe định kỳ hiện nay vẫn chưa chú trọng đúng mức đến các rối loạn liên quan đến giấc ngủ.
Theo một bài phân tích mới của các nhà khoa học thần kinh tại Đại học Northwestern (Mỹ), chứng ngưng thở khi ngủ hiện ảnh hưởng gần 1 tỉ người trên toàn thế giới nhưng vẫn thường xuyên không được chẩn đoán, đặc biệt ở phụ nữ và nhiều nhóm bệnh nhân khác.
Loại phổ biến nhất của căn bệnh này là ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA), xảy ra khi đường hô hấp bị tắc nghẽn lặp đi lặp lại trong lúc ngủ.
Người bệnh có thể ngáy to, đau đầu hoặc buồn ngủ ban ngày. Tuy nhiên, nhiều trường hợp gần như không nhận ra mình đã ngừng thở hàng chục, thậm chí hàng trăm lần mỗi đêm.
Các nhà nghiên cứu cho biết mỗi lần ngưng thở thường kéo dài khoảng 20 giây và có thể xảy ra hơn 100 lần trong một giờ ngủ, theo trang ScienceAlert ngày 8-5.
Việc thiếu oxy lặp đi lặp lại khiến huyết áp và nhịp tim tăng cao, gây áp lực lớn lên hệ tim mạch. Nếu không điều trị, bệnh có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp, suy tim, đột quỵ và nhiều bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer.
Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, chứng ngưng thở khi ngủ còn liên quan đến suy giảm chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ tai nạn giao thông và kéo theo chi phí y tế lớn cho cá nhân lẫn xã hội.
Tuy vậy, căn bệnh này vẫn thường bị xem nhẹ trong các lần khám định kỳ. Theo các chuyên gia, nguyên nhân một phần đến từ định kiến lâu nay rằng người mắc bệnh chủ yếu là nam giới lớn tuổi và béo phì.
Thực tế phụ nữ mắc chứng ngưng thở khi ngủ thường có biểu hiện khác như mất ngủ, đau đầu hoặc trầm cảm - những triệu chứng không được nhấn mạnh trong nhiều công cụ sàng lọc hiện nay.
Ngoài ra, nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị hiện nay được xây dựng chủ yếu từ nghiên cứu trên người da trắng.
Một số thiết bị đo oxy trong máu dùng để phát hiện bệnh cũng kém chính xác hơn ở người có màu da sẫm, khiến mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể bị đánh giá thấp.
Trong 20 năm qua, việc điều trị chứng ngưng thở khi ngủ đã có nhiều tiến bộ. Phương pháp phổ biến nhất là sử dụng máy CPAP, thiết bị tạo luồng khí liên tục để giữ đường thở không bị xẹp xuống khi ngủ.
Ngoài ra còn có các thiết bị kích thích thần kinh cấy ghép, dụng cụ chỉnh hàm và các bài tập tăng cường cơ lưỡi, cổ họng.
Cuối năm 2024, Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cũng phê duyệt thuốc tirzepatide để hỗ trợ điều trị bệnh thông qua giảm cân.
Bước đầu tiên để điều trị hiệu quả là nhận diện bệnh sớm.
Hiện nay, nhiều xét nghiệm giấc ngủ có thể thực hiện ngay tại nhà thay vì phải nhập viện qua đêm. Theo đó, chỉ cần chủ động trao đổi với bác sĩ về tình trạng ngáy ngủ, mệt mỏi kéo dài hay khó thở khi ngủ cũng có thể giúp mở ra cơ hội chẩn đoán và cải thiện sức khỏe lâu dài.
Đột quỵ đang có xu hướng trẻ hóa và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Tuy vậy, những thói quen nhỏ vào buổi sáng, nếu duy trì đều đặn, có thể góp phần cải thiện sức khỏe tim mạch và hỗ trợ giảm nguy cơ đột quỵ.
Uống thuốc tim mạch đúng chỉ định
Một trong những cách tương đối đơn giản để góp phần giảm nguy cơ đột quỵ là tuân thủ việc dùng thuốc, đặc biệt là thuốc huyết áp và cholesterol khi có chỉ định. Người mắc bệnh tim mạch có thể đặt thuốc ở vị trí dễ thấy để hạn chế quên liều.
Kiểm soát huyết áp đóng vai trò quan trọng. Tăng huyết áp thường được xác định khi chỉ số đo tại phòng khám từ 140/90 mmHg trở lên. Những người có nguy cơ cao nên duy trì huyết áp ở mức thấp hơn, chẳng hạn khoảng 120/80 mmHg hoặc theo mục tiêu bác sĩ khuyến nghị, có thể mang lại lợi ích.
Thiền hoặc kết nối cảm xúc
Giảm căng thẳng ngay từ đầu ngày có thể giúp bảo vệ tim mạch. Thiền, cầu nguyện hoặc đọc những nội dung tích cực đều có thể hỗ trợ hạ huyết áp.
Một cách đơn giản khác trò chuyện với người thân hoặc chơi cùng thú cưng. Tiếp xúc cơ thể giúp giảm hormone căng thẳng (cortisol). Nếu không quen thể hiện bằng hành động, bạn có thể gọi điện hoặc nhắn tin cho bạn bè để duy trì kết nối xã hội.
Tránh chất tạo ngọt nhân tạo trong cà phê
Uống cà phê buổi sáng không gây hại nếu tổng lượng caffeine mỗi ngày dưới 400 mg, tương đương khoảng 4 tách. Tuy nhiên, nên ưu tiên cà phê nguyên chất, hạn chế các chất tạo ngọt nhân tạo như sorbitol hoặc xylitol.
Các chất tạo ngọt nhân tạo có thể liên quan đến tăng nguy cơ hình thành cục máu đông và các biến cố tim mạch, bao gồm đột quỵ.
Tăng cường vận động
Tập thể dục buổi sáng là một lựa chọn tốt. Tuy vậy, nếu bận rộn, bạn vẫn có thể tăng vận động bằng những thay đổi nhỏ như đi bộ, đạp xe đi làm, đỗ xe xa hơn hoặc đi cầu thang.
Các thiết bị theo dõi vận động như đồng hồ thông minh có thể giúp duy trì thói quen này. Ngồi lâu một chỗ trong thời gian dài có thể làm giảm lưu thông máu, khiến huyết áp tăng cao và tăng nguy cơ đột quỵ.
Hút thuốc là một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất của đột quỵ. Ngay cả thuốc lá điện tử cũng không phải lựa chọn an toàn. Các chất trong thuốc lá điện tử đi trực tiếp vào máu, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ tim mạch. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa hút thuốc và nguy cơ đột quỵ.
Ăn sáng cân bằng
Bữa sáng góp phần quan trọng vào việc duy trì sức khỏe trong ngày. Một lựa chọn đơn giản là phô mai tươi kết hợp trái cây và hạt lanh - nguồn cung cấp omega-3 thực vật và chất xơ, tốt cho mạch máu.
Nên hạn chế thực phẩm nhiều đường bổ sung, vì chúng làm tăng nguy cơ tiểu đường - yếu tố nguy cơ hàng đầu của đột quỵ.
Cụ thể, theo hướng dẫn của Bộ Y tế, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ dưới 6 tuổi sẽ được tổ chức ít nhất 1 lần/năm trên phạm vi toàn quốc.
Trẻ sẽ được khám các dấu hiệu sinh tồn; đánh giá tình trạng dinh dưỡng; đánh giá sự phát triển tinh thần, vận động; đánh giá tiêm chủng.
Đồng thời thăm khám toàn thân và các bộ phận như da, đầu - cổ, tai mũi họng, răng miệng, hô hấp, tim mạch, bụng và cơ quan sinh dục, cơ xương khớp và thần kinh.
Trẻ sẽ được đánh giá nguy cơ tự kỷ qua kiểm tra trắc nghiệm, áp dụng cho trẻ từ 16-30 tháng tuổi.
Bộ Y tế cũng hướng dẫn quy trình thực hiện khám đầy đủ như khai thác tiền sử bệnh tật của trẻ khi sinh, khai thác tiền sử bệnh tật của mẹ trong thời gian mang thai.
Khám, ghi nhận kết quả, tư vấn can thiệp hoặc hướng dẫn theo dõi sức khỏe theo các mẫu giấy khám sức khỏe cho trẻ phù hợp độ tuổi.
Trong trường hợp trẻ có dấu hiệu bất thường, phát hiện bệnh tật, cần phải khám và điều trị bệnh, tư vấn chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để khám và điều trị kịp thời.
Kết quả khám được tổng hợp, đánh giá và lập sổ sức khỏe điện tử; liên thông, chia sẻ dữ liệu khám sức khỏe định kỳ và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành y tế với hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành.
Đồng thời các dữ liệu sổ sức khỏe điện tử đảm bảo liên thông với hệ thống thông tin quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế và cổng tiếp nhận dữ liệu của hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành.
Để thực hiện, Bộ Y tế hướng dẫn các đơn vị lập kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em dưới 6 tuổi; thông tin rộng rãi về buổi khám; thông báo đến cha, mẹ, người chăm sóc trẻ/người giám hộ trẻ ngày khám sức khỏe cụ thể.
Theo đó, nhân lực cho 1 dây chuyền khám như bác sĩ khám sức khỏe cho trẻ em dưới 6 tuổi; 1 y sĩ hoặc điều dưỡng hoặc hộ sinh thực hiện đo dấu hiệu sinh tồn, cân đo trọng lượng, chiều cao…; 1 nhân viên y tế hỗ trợ (nhân viên y tế công cộng, công tác xã hội…).
Bác sĩ tham gia khám sức khỏe phải có chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề có phạm vi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phù hợp theo quy định. Các nhân viên tham gia khám phải được tập huấn hoặc được phổ biến về nội dung khám.
Theo đó, địa điểm khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em dưới 6 tuổi ưu tiên tổ chức tại trạm y tế xã/phường khi bố trí nhân lực, trang thiết bị và dụng cụ khám đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
Ngoài ra có thể thực hiện điểm khám sức khỏe lưu động được bố trí hợp lý, thuận tiện cho cha mẹ, người giám hộ. Các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập các cấp khám chữa bệnh ban đầu và cơ bản...