Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết trước ngày 1/7, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) hằng tháng sẽ hết hiệu lực theo quy định của Luật BHXH năm 2024. Trường hợp còn hiệu lực được dùng tiếp tới hết 30/6. Sau đó, người hưởng vẫn cần ủy quyền thì lập văn bản hoặc chuyển sang tài khoản ngân hàng để không bị gián đoạn.
Ủy quyền nhận lương hưu là việc người thụ hưởng đồng ý cho người khác thay mặt đến nhận khoản tiền hàng tháng tại điểm chi trả khi không thể tự đến nhận vì sức khỏe, ở xa hoặc lý do cá nhân.
Luật hiện hành quy định người hưởng lương hưu có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác để thực hiện chế độ. Giấy ủy quyền hiệu lực tối đa 12 tháng kể từ ngày xác lập và phải được chứng thực. Quy định trước đây cho phép ủy quyền, thời hạn do các bên tự thỏa thuận và ghi rõ, trường hợp để trống thì thời hạn là một năm kể từ ngày xác lập.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết quy định tối đa 12 tháng của văn bản ủy quyền nhằm phòng ngừa rủi ro trong chi trả, bảo đảm đúng người, đúng chế độ trong bối cảnh 3,4 triệu người thụ hưởng. Trong số này nhiều trường hợp tuổi cao, sức yếu, cư trú xa nơi nhận chế độ. Đơn cử như phường Việt Hưng, TP Hà Nội sau rà soát có gần 2.400 trường hợp cần thực hiện thủ tục liên quan ủy quyền. Một số địa phương khác đang đôn đốc thông qua tổ trưởng dân phố, cổng thông tin hoặc nhóm cộng đồng.
Cơ quan này yêu cầu ngành dọc địa phương tập trung rà soát trường hợp người hưởng từ 90 trở lên, trùng mã số BHXH; ủy quyền nhưng chưa cập nhật đầy đủ trạng thái, thông tin hoặc đã hết thời hạn. Bảo hiểm xã hội tỉnh thành phối hợp với bưu điện, trung tâm phục vụ hành chính công hoặc địa phương cư trú xác minh thông tin, hướng dẫn người dân, khuyến khích người hưởng mở tài khoản ngân hàng.
Người hưởng kiểm tra thời hạn văn bản ủy quyền, không chờ đến sát 30/6 mới thực hiện. Khi lập văn bản ủy quyền hoặc thay đổi phương thức nhận, người dân liên hệ trực tiếp cơ quan Bảo hiểm xã hội, bưu điện, trung tâm phục vụ hành chính công hoặc tới địa phương nơi cư trú. Cơ quan này không nhắn tin hoặc gửi đường link qua mạng xã hội, người dân cần cẩn trọng.
Cả nước có 3,4 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp với các mức khác nhau: hơn 11.500 người hưởng 20 triệu đồng mỗi tháng trở lên; gần 418.500 người hưởng 10 đến dưới 20 triệu đồng; 1,063 triệu người hưởng 6 đến dưới 10 triệu đồng; 1,347 triệu người hưởng 3 đến dưới 6 triệu đồng; 144.850 người hưởng 2,34 đến dưới 3 triệu đồng và gần 419.400 người hưởng dưới 2,34 triệu đồng – tương đương mức lương cơ sở.
Tin Gốc: Vnexpress

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

Hành trình ấy không phải mới bắt đầu, mà đã âm thầm diễn ra từ lâu, xuất phát từ đạo lý "uống nước nhớ nguồn", từ trách nhiệm thiêng liêng của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong việc đi tìm những người hùng chưa trở về.
Không phải ngẫu nhiên mà Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ chọn Thành cổ Quảng Trị để tổ chức lễ phát động. Bởi nơi đây từng được ví là "nghĩa trang không mộ bia" lớn nhất cả nước, nơi nằm lại của các anh hùng liệt sĩ…
Đã rất nhiều lần, khi đặt chân đến Thành cổ Quảng Trị, tôi cố để trong đầu mình thôi văng vẳng những câu hát của nhạc sĩ Tân Huyền: Cỏ non Thành cổ một màu xanh non tơ/Nào có ai ngờ nơi đây một thời máu đổ…, nhưng chưa bao giờ làm được. Nhìn những thảm cỏ xanh mọc tràn ra cả lối đi, phất phơ theo từng đợt gió thổi từ bờ sông Thạch Hãn, lòng chợt tự hỏi: liệu có nơi nào cỏ xanh hơn mảnh đất này?
Quá khứ đã lùi xa, khi máu đã tan trong nước, xương đã quyện vào đất, bước trên những mét đất này giờ chỉ còn thấy màu cỏ xanh. Khu di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 1994. Do phải gánh chịu khối lượng bom đạn khổng lồ (riêng trận chiến Thành cổ được ước tính hứng chịu lượng bom tương đương sức công phá của nhiều quả bom nguyên tử), sau ngày hòa bình lập lại, nơi đây chỉ còn dấu tích của một số đoạn thành, lao xá, cổng tiền, cổng hậu…
Cách Thành cổ không xa là dòng sông Thạch Hãn, nơi những câu thơ của nhà thơ Lê Bá Dương dường như đã khắc sâu vào tâm khảm bao người: Đò lên Thạch Hãn, ơi… chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó, bạn tôi nằm/Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.
Ở Thành cổ, người ta bảo rằng mỗi nhát cuốc cũng có thể chạm phải hài cốt liệt sĩ. Vì thế, hầu như không có gia đình nào ở vùng đất này không lập bàn thờ vọng, bái vọng vong linh các anh hùng liệt sĩ, những người vì hoàn cảnh mà chưa được tìm thấy, chưa được trở về với gia đình hay chưa được nằm cạnh đồng đội nơi nghĩa trang linh thiêng.
Ở đây, cứ vào các dịp 30.4, 27.7, 2.9 và những ngày cận tết, người ta lại tìm thấy di hài của các anh. Bà con vẫn nói với nhau rằng các anh "về". Càng vào những ngày kỷ niệm, các anh lại "về" nhiều hơn, để những người đang sống nhận ra, quy tập, cất bốc và an táng các anh chu toàn.
Gần đây nhất, vào tháng 9.2025, trong quá trình cải tạo khuôn viên di tích lịch sử Trường Bồ Đề (khu phố 3, phường Quảng Trị), lực lượng chức năng đã phát hiện và quy tập được 2 hài cốt liệt sĩ. Sau khi nhận thông tin, Đội tìm kiếm hài cốt 584 (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị) lập tức có mặt tại hiện trường. Các hài cốt được chôn sâu khoảng 60 cm, bọc trong tăng võng của bộ đội, cùng nhiều di vật như xẻng bộ binh, mũ cối, hộp tiếp đạn AK… Đây là khu vực gắn liền với chiến dịch Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Sau đó không lâu, cơ quan chức năng tiếp tục tìm thấy 32 hài cốt liệt sĩ trong khu vực khu di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị. Cụ thể, từ ngày 14.9 - 16.10.2025, trong quá trình tu bổ, tôn tạo các hạng mục tại đây, đơn vị thi công phát hiện nhiều di vật của bộ đội. Chính quyền địa phương đã báo cáo UBND tỉnh và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh để tổ chức khảo sát, tìm kiếm. Kết quả, Đội 584 đã quy tập được 32 hài cốt liệt sĩ cùng nhiều di vật như mũ cối, xẻng bộ binh, hộp tiếp đạn AK…
Toàn bộ hài cốt sau đó được quàn tại Nhà tiếp đón khu di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phối hợp với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể địa phương tổ chức hương khói, bảo quản chu đáo trước khi an táng.
Thêm 34 hài cốt liệt sĩ được tìm thấy trong khu vực Thành cổ là thêm những mảnh ký ức thiêng liêng được nối lại. Mỗi hài cốt, mỗi di vật được trao trả là một sự trở về - trở về với đồng đội, với quê hương trong sự mong ngóng của người thân.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 vẫn in đậm trong tâm khảm nhiều thế hệ. Nơi đây đã trở thành vùng đất linh thiêng, thấm đẫm máu xương của hàng vạn người con trên khắp mọi miền đất nước.
Dưới lớp cỏ xanh hôm nay, vẫn còn đó biết bao linh hồn chưa trở về với quê hương, gia đình. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ vì thế trở thành hành trình tri ân sâu sắc đối với những người đã anh dũng hy sinh. Trên từng tấc đất Thành cổ, dấu tích chiến tranh vẫn còn hiện hữu. Công việc tìm kiếm chưa bao giờ ngơi nghỉ. Đó không chỉ là trách nhiệm với quá khứ, mà còn là lời tri ân đối với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trung tá Nguyễn Trung Thành, Phó đội trưởng Đội quy tập hài cốt liệt sĩ 584, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị, chia sẻ: "Tìm được hài cốt liệt sĩ ở khu vực này, chúng tôi rất xúc động. Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm để đền đáp công lao của các liệt sĩ đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc…". Trong quá trình tìm kiếm không ngơi nghỉ đó, từng lớp đất được bóc tách cẩn trọng. Những di vật của người lính giải phóng quân vẫn còn nằm bên các anh, gần như nguyên vẹn. Mỗi di vật không chỉ là vật chứng, mà còn là minh chứng cho lịch sử, cho sự anh dũng của các thế hệ đi trước...
Dưới lớp cỏ non Thành cổ, vẫn còn những linh hồn bất tử nằm lại, nhắc nhở chúng ta về một thời hoa lửa không thể nào quên. Công tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ vẫn tiếp tục, với "500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" và lâu hơn nữa, như một hành trình tri ân không dừng lại, như niềm tin rằng ngày trở về của các anh sẽ không còn xa.(còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 5.5, TS-BS Nguyễn Duy Tân, Trưởng khoa Ngoại tim mạch - lồng ngực, Bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM), cho biết đơn vị vừa kịp thời cứu sống bệnh nhân D.C.T (38 tuổi, ở TP.HCM) bị vết thương tim trong tình trạng nguy kịch. Bệnh nhân D.C.T là tài xế xe công nghệ.
Trước đó, do mâu thuẫn với một người bạn, tài xế D.C.T bị "đối phương" dùng vật sắc nhọn đâm xuyên tim và gục tại chỗ. Ngay sau đó, bệnh nhân được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Thống Nhất.
Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng mất máu nhiều, với vết thương ngực trái dài khoảng 3 cm, chảy máu liên tục. Qua thăm khám và siêu âm tại Khoa Cấp cứu, các bác sĩ ghi nhận tình trạng tràn máu màng tim và tràn máu màng phổi trái. Huyết áp giảm dần, tri giác suy giảm nhanh và xấu.
Ngay lập tức, ê kíp đã kích hoạt báo động đỏ toàn viện, chuyển bệnh nhân lên Khoa Phẫu thuật gây mê - hồi sức để phẫu thuật khẩn cấp, đồng thời hoàn tất các thủ tục hành chính sau. Các bác sĩ tiến hành mở ngực cấp cứu, vừa phẫu thuật vừa hồi sức tích cực, bù máu để duy trì huyết áp.
Khi mở lồng ngực, ê kíp ghi nhận khoảng 800 ml máu trong màng tim gây chèn ép tim và khoảng 1.800 ml máu cục lẫn máu loãng trong khoang màng phổi trái.
Sau khi hút sạch máu trong khoang ngực, các bác sĩ phát hiện nhiều tổn thương nghiêm trọng: vết thương thủng tim (thất phải) dài khoảng 6 - 7 cm, vết rách màng tim trái và tổn thương thùy dưới phổi trái dài khoảng 6 cm.
Đáng chú ý, bệnh nhân có tiền sử bỏng nặng 60% cơ thể cách đây 6 năm, để lại sẹo co rút vùng ngực, cổ và miệng, gây khó khăn trong quá trình gây mê và đặt nội khí quản. Sự biến dạng da và thành ngực do vết bỏng cũ cũng làm tăng mức độ phức tạp của ca mổ.
Theo TS-BS Trương Nguyễn Hoài Linh, Khoa Ngoại tim mạch - lồng ngực, Bệnh viện Thống Nhất, vết thương thủng thất phải dài khoảng 6 - 7 cm, nằm giữa hai động mạch vành lớn - vị trí đặc biệt nguy hiểm, đòi hỏi kỹ thuật khâu vá chính xác tuyệt đối. Nếu khâu quá chặt có thể gây tắc động mạch vành dẫn đến nhồi máu cơ tim, trong khi khâu không kín sẽ gây nguy cơ chảy máu sau mổ.
Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyên khoa, vết thương tim đã được xử trí thành công, kiểm soát tốt tình trạng chảy máu và bảo tồn chức năng tim. Sau quá trình điều trị tích cực, sức khỏe tài xế xe công nghệ đã ổn định và dự kiến sẽ xuất viện trong vài ngày tới.
Tin Gốc: Thanh Niên

