Những vụ ngộ độc thực phẩm liên tiếp gần đây, với không ít trường hợp là trẻ em, cho thấy kiến thức an toàn thực phẩm đóng vai trò thiết yếu, đặc biệt trong giai đoạn nắng nóng khi nguy cơ thực phẩm nhiễm khuẩn tăng cao.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, Phó trưởng Khoa Nhi và Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), mức độ nặng hay nhẹ của ngộ độc thực phẩm không giống nhau ở mỗi người, mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trước hết là lượng thức ăn đã dùng, ăn càng nhiều, nguy cơ diễn tiến nặng càng cao. Tình trạng sức khỏe nền và thời điểm ăn cũng tác động đến mức độ nhiễm khuẩn.
Ăn sớm khi thực phẩm mới chế biến thì lượng vi khuẩn còn ít, trong khi ăn trễ khiến vi khuẩn có thời gian “nhân lên” nhiều hơn.
Ngộ độc do vi khuẩn: Do vi khuẩn sống xâm nhập vào thức ăn như Salmonella, E. coli, hoặc độc tố của vi khuẩn sẵn có trong thức ăn như Staphylococcus aureus, Bacillus cereus; thường xuất hiện với các triệu chứng tiêu hóa ban đầu như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng. Khi diễn tiến, vi khuẩn hay độc tố xâm nhập vào ruột và máu có thể gây sốt, đại tiện ra máu. Diễn tiến nặng có thể gây mất nước, sốc, nhiễm trùng huyết.
Ngộ độc do hóa chất: Từ các hóa chất nhiễm trong thực phẩm như thuốc trừ sâu, kim loại nặng, chất tẩy rửa, phụ gia cấm (hàn the, cồn công nghiệp). Thông thường ngộ độc do hóa chất khởi phát nhanh, diễn tiến nặng, có thể gây nôn dữ dội, co giật, rối loạn ý thức kèm dấu hiệu đặc hiệu của từng loại độc tố như tăng tiết đờm dãi, co đồng tử (ngộ độc phốt pho hữu cơ).
Thời gian khởi phát có thể nhanh trong vài phút đến vài giờ nếu là hóa chất có độc tính cao. Thường nặng hơn và dễ gây tử vong nếu không xử trí kịp thời.
Ngộ độc do bảo quản kém: Đây không phải một nhóm riêng biệt mà là yếu tố nguy cơ, khiến vi khuẩn phát triển mạnh và sinh độc tố trong thức ăn, vì vậy bản chất thuộc nhóm ngộ độc do vi khuẩn. Ví dụ: Cơm để qua đêm, thức ăn nấu chín nhưng để ở nhiệt độ phòng lâu có thể nhiễm Bacillus cereus, Salmonella và Staphylococcus aureus.
Theo bác sĩ Hoàng Thạch, thời thời gian ủ bệnh là khác nhau và phụ thuộc vào tác nhân, cụ thể:
Bên cạnh đó, bác sĩ Thạch cho biết việc nhiều người cùng ăn một món ăn nhưng có người bị ngộ độc, có người lại không là rất điển hình trong các vụ ngộ độc thực phẩm, vì:
Liều nhiễm khác nhau: Người ăn nhiều thường có nguy cơ cao hơn; người ăn ít hoặc không ăn món nhiễm sẽ không bị ảnh hưởng.
Phân bố độc tố không đồng đều: Không phải tất cả suất ăn đều nhiễm độc như nhau. Một số phần có nồng độ vi khuẩn/độc tố cao hơn.
Cơ địa từng người: Thông thường trẻ nhỏ, người già, người có bệnh nền, đang dùng một số thuốc như thuốc ức chế axit dạ dày sẽ dễ nhiễm hơn.
Miễn dịch và hệ vi sinh ruột khác nhau: Người đã từng tiếp xúc với vi khuẩn/độc tố trước đó và có miễn dịch thường sẽ ngộ độc nhẹ hơn người chưa từng tiếp xúc.
“Cách xử trí ban đầu khi vừa phát hiện hoặc nghi ngộ độc thực phẩm cũng rất quan trọng mà nhiều người thường chủ quan. Người ngộ độc được can thiệp y tế sớm sẽ giúp giảm mức độ nghiêm trọng, ngược lại việc đến viện muộn hoặc tự điều trị tại nhà dễ làm tăng nguy cơ biến chứng”, bác sĩ Thạch nói thêm.
Bác sĩ Nguyễn Thị Yến Ngân, Khoa Dinh dưỡng - Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM, cho biết nhiều người cho rằng chỉ cần ăn nhạt hoặc loại bỏ hoàn toàn muối khỏi khẩu phần ăn là có thể bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là tim mạch.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy xung quanh việc sử dụng muối (chứa natri) vẫn tồn tại không ít hiểu lầm, khiến nhiều người vô tình áp dụng sai cách trong sinh hoạt hằng ngày.
Hiện nay, nhiều người cho rằng càng ăn ít muối càng tốt, thậm chí nên bỏ hẳn. Thực tế, natri là khoáng chất thiết yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa huyết áp, hỗ trợ hoạt động của hệ thần kinh và cơ bắp. Điều quan trọng không phải là loại bỏ hoàn toàn, mà sử dụng ở mức hợp lý.
Nhiều người tin rằng muối biển tốt hơn vì "tự nhiên" và ít natri hơn. Tuy nhiên, về bản chất, cả muối biển và muối ăn thông thường đều chứa khoảng 40% natri. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở hương vị và một số vi khoáng rất nhỏ, không ảnh hưởng đáng kể đến lượng natri nạp vào.
Không ít người nghĩ rằng chỉ cần giảm lượng muối khi nấu ăn là đủ. Trên thực tế, khoảng 75% lượng natri trong khẩu phần đến từ thực phẩm chế biến sẵn và các loại gia vị như nước mắm, nước tương, bột nêm… Vì vậy, việc đọc nhãn dinh dưỡng và kiểm soát thực phẩm tiêu thụ là rất cần thiết.
Giảm muối không có nghĩa là món ăn mất ngon. Người nội trợ hoàn toàn có thể tận dụng các gia vị tự nhiên như tỏi, ớt, chanh, thảo mộc… để tăng hương vị mà vẫn hạn chế natri.
Một số loại thuốc không kê đơn cũng có thể chứa lượng natri đáng kể. Do đó, người dùng cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo ý kiến nhân viên y tế khi cần thiết.
Nhiều thực phẩm quen thuộc như bánh mì, mì, súp hoặc các món chế biến sẵn có thể chứa natri dù không có vị mặn rõ rệt. Vì vậy, cảm nhận vị giác không phải là thước đo chính xác cho lượng natri.
Việc kiểm soát natri không chỉ dành cho người bị tăng huyết áp. Khuyến nghị chung là không nên tiêu thụ quá 2.300 mg natri mỗi ngày, và mức lý tưởng là khoảng 1.500 mg. Chỉ cần giảm khoảng 1.000 mg natri mỗi ngày cũng đã mang lại lợi ích rõ rệt cho sức khỏe tim mạch.
"Kiểm soát lượng natri không quá khó nếu mỗi người chủ động điều chỉnh từ những thói quen hằng ngày như ưu tiên thực phẩm tươi, hạn chế đồ chế biến sẵn, đọc nhãn dinh dưỡng và nấu ăn tại nhà. Những thay đổi nhỏ nhưng bền vững có thể tạo nên khác biệt lớn cho sức khỏe lâu dài", bác sĩ Yến Ngân khuyến cáo.
Bệnh nhân được đưa vào khoa Cấp cứu trong tình trạng đa chấn thương vùng ngực sau một vụ xô xát, huyết áp không đo được, dấu hiệu sốc mất máu rất nặng. Chỉ ít phút sau, người bệnh ngưng tim, ngưng thở. Kíp cấp cứu lập tức truyền máu, đồng thời ép tim ngoài lồng ngực liên tục trong 20 phút để duy trì sự sống, sau đó đẩy người bệnh vào phòng mổ, vừa phẫu thuật vừa hồi sức tích cực.
Ngày 3/5, PGS.TS.BS Trần Thanh Vỹ, chuyên gia Ngoại Lồng ngực - Mạch máu, người phẫu thuật trực tiếp, cho biết lồng ngực bệnh nhân có nhiều vết thương, trong đó nghiêm trọng nhất là vết thương vùng cổ bên trái chảy máu ồ ạt.
Quá trình phẫu thuật, bác sĩ ghi nhận bệnh nhân bị đứt lìa động mạch dưới đòn trái - một mạch máu lớn nằm gần tim. Lượng máu tràn vào khoang ngực trái khoảng 1,5 lít, cùng với hơn 1,5 lít máu thoát ra ngoài qua vết thương.
"Đây là tổn thương có nguy cơ tử vong rất cao nếu không xử trí trong thời gian cực ngắn", phó giáo sư Vỹ nói.
Nhờ sự phối hợp khẩn trương, êkíp đã kiểm soát được chảy máu, tái lập tuần hoàn và cứu sống bệnh nhân. Sau 5 ngày điều trị tích cực, bệnh nhân hồi phục tốt và vừa được xuất viện trong tình trạng ổn định.
BS.CK2 Võ Đức Chiến, Giám đốc Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cho biết đây là một trong những ca chấn thương nặng hiếm gặp nhưng được xử trí thành công, cho thấy năng lực cấp cứu chuyên sâu, phản ứng nhanh và sự phối hợp hiệu quả giữa các chuyên khoa. Thành công của ca bệnh không chỉ giúp giành lại sự sống cho người bệnh trong gang tấc, mà còn phản ánh bản lĩnh của y bác sĩ trong tình huống sinh tử.
Trong khi triglyceride tăng cao lại là dấu hiệu cảnh báo sớm các loại bệnh nguy hiểm như tim mạch, viêm tụy cấp, gan nhiễm mỡ, đái tháo đường, đột quỵ.
Tình trạng bệnh nhân nguy kịch do triglyceride gia tăng có ở nhiều bệnh viện.
Bệnh nhân Đ.C.T. (44 tuổi) nhập viện cấp cứu trong tình trạng đau tức vùng thượng vị, đau âm ỉ vùng mạn sườn trái và tăng dần theo thời gian. Bệnh nhân uống thuốc giảm đau nhưng không đỡ và xuất hiện cảm giác tức ngực, khó thở...
Kết quả xét nghiệm máu cho thấy chỉ số mỡ máu triglyceride của bệnh nhân lên tới 155,9 mmol/L - tăng gấp hơn 100 lần bình thường; mẫu huyết tương của bệnh nhân đục trắng như sữa - dấu hiệu điển hình của tình trạng tăng mỡ máu rất nặng.
"Triglyceride tăng gấp 100 lần bình thường là tình trạng cực kỳ hiếm và nguy hiểm, có thể dẫn đến hoại tử tụy, gây suy đa tạng, đe dọa tính mạng. May mắn, nhờ lọc máu liên tục 3 giờ, chỉ số mỡ máu của bệnh nhân đã giảm nhanh từ mức 155,9 xuống còn 5,3 mmol/L, và bệnh nhân đã được cứu sống", bác sĩ Lê Việt Long - khoa hồi sức tích cực (ICU) Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - cho biết.
Gần đây tình trạng các bệnh nhân nguy kịch do triglyceride diễn ra ở khắp các bệnh viện. Đáng chú ý nhiều người nguy kịch do tăng triglyceride không phải do uống rượu mà do mỡ máu âm thầm phát triển trong cơ thể.
Tương tự, chỉ trong thời gian ngắn khoa cấp cứu - hồi sức tích cực và chống độc Trung tâm Y tế khu vực Yên Lập (Phú Thọ) đã tiếp nhận và điều trị thành công liên tiếp 5 trường hợp viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu - một thể bệnh nguy hiểm, dễ diễn biến nặng.
Khi nhập viện, người bệnh đều có biểu hiện: đau bụng dữ dội vùng thượng vị, nôn nhiều, Amylase/Lipase tăng gấp 3 - 10 lần bình thường, triglyceride tăng cao 11 - 35 mmol/L (bình thường < 1,7 mmol/L). Trong đó có nhiều bệnh nhân là do tiền sử rối loạn mỡ máu.Bác sĩ Lê Việt Long ở trung tâm này cho biết viêm tụy cấp do tăng triglyceride xảy ra khi nồng độ triglyceride trong máu tăng quá cao, gây tổn thương và kích hoạt phản ứng viêm tại tuyến tụy. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như sốc viêm, suy đa cơ quan, thậm chí đe dọa tính mạng.Bác sĩ Đinh Minh Trí (Hội Tim mạch Việt Nam) thông tin rất nhiều người khi đi xét nghiệm máu hay khi nói đến bệnh tim mạch và đột quỵ thường quan tâm nhiều đến các chỉ số LDL, HDL và mức cholesterol toàn phần trong các xét nghiệm mỡ máu mà bỏ qua chỉ số triglyceride.Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho biết chỉ số triglyceride trong kết quả xét nghiệm lipid cũng rất cần chú ý, vì chúng cũng là thủ phạm gây xơ vữa động mạch và là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh tim mạch chuyển hóa và đột quỵ.Trong khi thực tế triglyceride tăng cao lại là dấu hiệu cảnh báo sớm của rối loạn chuyển hóa, có liên quan trực tiếp đến bệnh tim mạch, viêm tụy cấp nguy hiểm, gan nhiễm mỡ, kháng insulin và đái tháo đường. Điều đáng nói là triglyceride cao thường không có triệu chứng rõ ràng, nên nhiều người chủ quan cho đến khi bệnh tiến triển nặng.Bác sĩ Trí phân tích nồng độ triglyceride bình thường thấp hơn 150mg/dL, 150 - 199mg/dL là cao nhẹ, 200 - 499mg/dL được gọi là cao, và ở mức cao hơn 500mg/dL được gọi là rất cao. Tăng triglyceride máu và các rối loạn do tăng triglyceride máu gây ra thực sự khá nguy hiểm. Tăng triglyceride máu làm tăngnguy cơ mắc bệnh động mạch vành, dẫn đến góp phần vào việc tắc nghẽn các động mạch khác của cơ thể và cuối cùng sẽ dẫn đến một cơn đau tim hoặc cơn đột quỵ.Người bị bệnh đái tháo đường, bệnh thận hoặc suy giáp có nguy cơ cao khi kèm tăng triglyceride máu. Nồng độ triglyceride máu vượt quá 500mg/dL có thể dẫn đến bệnh viêm tụy cấp, đe dọa tính mạng.Tin Gốc: Tuổi Trẻ