Ngày 12-4, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị, Hội Hữu nghị Việt Nam – Campuchia, Hội Hữu nghị Việt Nam – Lào, Hội Hữu nghị Việt Nam – Đông Nam Á TP.HCM đã tổ chức lễ hội Tết cổ truyền dành cho sinh viên Lào và Campuchia đang học tập ở TP.HCM.
Tại lễ hội, các đại biểu và sinh viên đã cùng thực hiện nghi thức tụng kinh chúc phúc và buộc chỉ cổ tay – nghi thức không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của nước Lào (Bunpimay) và Campuchia (Chol Chnam Thmay); tham quan và tìm hiểu về tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia (do Bảo tàng Tôn Đức Thắng trưng bày ngay tại sân Trường THPT Phú Nhuận)…
Đặc biệt, lễ hội còn có sự tham gia của một số sinh viên Việt Nam và học sinh Trường THPT Phú Nhuận. Các sinh viên, học sinh của Việt Nam – Lào – Campuchia đã cùng giao lưu văn hóa – ẩm thực , biểu diễn văn nghệ, trải nghiệm những hoạt động thể dục thể thao cùng nhau với các môn bóng đá, cầu lông, cờ thủy tinh châu…
Dịp này, Hội Hữu nghị Việt Nam – Campuchia và Hội Hữu nghị Việt Nam – Lào TP.HCM trao 80 phần quà cho sinh viên Lào và Campuchia đang học tập tại TP.HCM.
Kongmanila Panyasup, sinh viên Lào đang học năm thứ ba tại Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cho biết: “Tôi rất vui và thấy ấm áp khi tham gia lễ hội này. Chúng tôi vừa được ôn lại văn hóa truyền thống trong ngày Tết cổ truyền của đất nước mình, vừa được vui chơi, giao lưu với học sinh, sinh viên Việt Nam và Campuchia. Đây là lễ hội thực sự ý nghĩa với sinh viên xa nhà như chúng tôi”.
Phát biểu tại lễ hội, ông Hồ Xuân Lâm, Phó chủ tịch thường trực Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị thành phố, Phó chủ tịch thường trực Hội Hữu nghị Việt Nam – Lào TP.HCM, nhấn mạnh: “Lễ hội này nhằm giúp các sinh viên Lào, Campuchia được hưởng trọn vẹn mùa Tết ấm áp của quê nhà ngay trên quê hương thứ hai của các em – TP.HCM văn minh, hiện đại, nghĩa tình”.
TP.HCM hiện có gần 1.800 sinh viên, học viên Lào và Campuchia đang học tập tại 33 trường đại học, học viện, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn thành phố.

Bộ GD-ĐT vừa công bố thống kê thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026 theo môn thi. Cụ thể như sau:
Theo đó, ngoài 2 môn bắt buộc là ngữ văn và toán, lịch sử là môn thi được thí sinh lựa chọn nhiều nhất với 570.800 thí sinh, tăng so với con số 499.357 thí sinh của năm 2025. Đây cũng là môn có số lượng thí sinh lựa chọn tăng nhiều nhất so với năm trước.
Tiếp đến là môn địa lý với 448.725 thí sinh; môn ngoại ngữ có 347.455 thí sinh lựa chọn, giảm so với năm 2025 (364.979 thí sinh).
Tuy nhiên, một số môn khoa học tự nhiên cũng ghi nhận số thí sinh đăng ký lựa chọn tăng nhẹ với năm trước. Cụ thể, môn vật lý có 389.630 thí sinh lựa chọn, tăng so với năm 2025 (354.298 thí sinh); môn hóa học cũng từ 246.700 thí sinh của năm 2025 lên 253.966;
Môn tin học tăng mạnh từ 7.716 thí sinh năm 2025 lên 18.691 đăng ký dự thi năm nay; môn công nghệ công nghiệp tăng lên 7.402 trong khi năm trước là 2.428 thí sinh… Dù vậy, đây vẫn là môn có số lượng thí sinh lựa chọn thấp nhất trong số các môn thi tự chọn.
Bộ GD-ĐT cho rằng xu hướng chọn môn thi cho thấy đã có tín hiệu tích cực khi thí sinh quan tâm hơn tới lĩnh vực STEM, công nghệ và định hướng nghề nghiệp tương lai.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 diễn ra ngày 11-12.6. Thí sinh lớp 12 dự thi sẽ phải làm 4 môn thi, trong đó có 2 môn bắt buộc là toán và ngữ văn. Ngoài ra, các em chọn hai trong số các môn: hóa học, vật lý, sinh học, địa lý, lịch sử, giáo dục kinh tế và pháp luật, tin học, công nghệ và ngoại ngữ.
Trong công thức tính điểm xét tốt nghiệp, điểm các môn thi chiếm 50%; còn lại là điểm học bạ lớp 10, 11, 12 (50%) và điểm ưu tiên nếu có. Hầu hết đại học sử dụng kết quả kỳ thi này để xét tuyển đầu vào.
Thống kê của Bộ GD-ĐT, tính đến 17 giờ ngày 5.5, thời điểm kết thúc đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT, số liệu trên hệ thống cho thấy cả nước có tổng số 1.223.776 thí sinh đăng ký, cao nhất trong nhiều năm qua.
Trong đó, thí sinh đang học lớp 12 là 1.159.932 (chiếm 94,78%); thí sinh tự do là 63.844 (chiếm 5,22%), cũng là con số "kỷ lục" từ năm 2020.
Thí sinh miễn thi ngoại ngữ là 7.952 (chiếm 0,65%). Số thí sinh đăng ký trực tuyến là 1.204.806 (chiếm 98,45%); thí sinh đăng ký trực tiếp là 18.970 (chiếm 1,55%).
Tin Gốc: Thanh Niên

Năm 2026, hội thi "Học sinh, sinh viên giỏi nghề" do Thành Đoàn TP.HCM phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM tổ chức với 14 nghề.
Giành giải nhất hội thi ở nghề thiết kế kỹ thuật cơ khí, Đàm Duy Mạnh - sinh viên Trường cao đẳng Công nghệ cao Đồng An (TP.HCM) - cho biết đề thi kéo dài ba tiếng, toàn bộ thực hiện trên máy tính.
Phần mở đầu là bài trắc nghiệm tiếng Anh khoảng 40-45 phút, xoay quanh các tình huống đời sống, câu hỏi về giáo dục và bối cảnh xã hội, đòi hỏi khả năng đọc hiểu nhanh và vốn từ. Sau phần tiếng Anh là các nội dung chuyên môn. Một dạng bài đầy thách thức là mô hình chi tiết máy móc không có sẵn kích thước trên phần mềm.
Thí sinh phải quan sát, phân tích và xác định các thông số như chiều sâu, bán kính bo góc, cấu trúc hình học. Dạng bài này gần với thực tế sản xuất, đòi hỏi người làm kỹ thuật cần đọc hình và suy ra cấu tạo.
Mạnh và các thí sinh sẽ xử lý trên phần mềm SolidWorks - các công cụ cho phép dựng mô hình 3D, đo đạc, kiểm tra va chạm và xuất bản vẽ kỹ thuật 2D.
Một phần thi khác yêu cầu lắp ráp cơ cấu cơ khí trong môi trường số. Thí sinh được cung cấp bộ chi tiết gồm bánh răng, ly hợp… và phải hoàn thiện hệ thống vận hành đúng nguyên lý. Nếu lắp sai ràng buộc hoặc xảy ra va chạm, mô hình sẽ không hoạt động. "Phải hiểu rõ cấu tạo và nguyên lý, chỉ cần sai một khớp là đứng yên", Mạnh nói.
Bài thi còn có các yêu cầu như xuất video mô phỏng, xuất bản vẽ 2D hoàn chỉnh và phân tích chi tiết. Theo Mạnh, áp lực nằm ở việc vừa đảm bảo độ chính xác, vừa phải thao tác nhanh, đặc biệt là tận dụng phím tắt.
Vượt qua ba tiếng và chín phần thi, Mạnh đạt số điểm cao và giành giải nhất. Mạnh nói thời gian ôn tập tập trung chỉ hơn một tuần, nhưng nền tảng được học trước đó, đặc biệt là về vẽ 3D, đã giúp bạn tự tin hơn khi làm bài.
Duy Mạnh hiện là sinh viên năm 2 ngành cơ khí. Bạn chia sẻ quyết định theo ngành đến từ sở thích thiết kế và mong muốn tạo ra sản phẩm cụ thể. "Mình thích thiết kế vì từ đó có thể làm ra nhiều thứ. Một ý tưởng có thể phát triển thành sản phẩm", Mạnh nói.
Sinh ra và lớn lên tại Đắk Lắk, sau khi tốt nghiệp THPT năm 2024, Mạnh chọn học thẳng cao đẳng thay vì xét tuyển đại học để tiếp cận thực hành sớm và đi làm nghề nhanh hơn. Gia đình để bạn tự quyết, anh trai là người ủng hộ vì hướng đi này tiết kiệm chi phí và phù hợp với mục tiêu của em.
Theo Mạnh, chương trình cao đẳng thích hợp hơn với bạn vì tập trung nhiều vào thực hành, đặc biệt trong xưởng và các học phần kỹ thuật. Sinh viên ra trường có thể tham gia công việc ngay nếu nắm vững kỹ năng.
"Bắt đầu từ đâu không quan trọng bằng việc đi tiếp như thế nào. Điều cần thiết là liên tục bổ sung kỹ năng và nhận ra điểm yếu của mình để cải thiện", Mạnh nói.
Ngoài chương trình chính khóa, bạn tự học thêm các phần mềm như AutoCAD và SolidWorks để nâng cao khả năng thiết kế. Đồng thời Mạnh học thêm tiếng Trung nhằm mở rộng cơ hội việc làm.
"Có ngoại ngữ thì sẽ có nhiều lựa chọn hơn. Mình muốn mình có quyền lựa chọn công việc", bạn chia sẻ. Về kế hoạch dài hạn, Mạnh dự định sau khi tốt nghiệp sẽ đi làm 1-2 năm để tích lũy kinh nghiệm. Khi có nền tảng tốt hơn, bạn sẽ học liên thông đại học nếu cần thiết.
Mục tiêu của Mạnh là trở thành người thiết kế có tay nghề vững, đồng thời có thể tham gia đào tạo nghề trong tương lai. "Thiết kế là nền tảng. Từ đó có thể làm được rất nhiều thứ, quan trọng là mình có ý tưởng và theo đuổi đến cùng", Mạnh nói.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

