Tuổi Trẻ Online đã có cuộc trò chuyện với anh Phan Đăng Khoa, chuyên viên tuyển dụng tại Công ty TNHH Nhựa Duy Tân (tỉnh Long An cũ). Anh Khoa đã có 6 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tuyển dụng nhân sự. Anh chia sẻ góc nhìn cá nhân.
* Nguyên nhân nào khiến người trẻ “ngại” làm vị trí quản lý, lãnh đạo mà chỉ muốn là một nhân viên giỏi chuyên môn, thưa anh?
– Dưới góc nhìn của người làm nhân sự, việc người trẻ “ngại” làm sếp xuất phát từ nhận thức trở thành một nhà lãnh đạo không phải là đích đến trong sự nghiệp.
Ngoài ra, người trẻ nhận thấy khi trở thành một nhà lãnh đạo, người quản lý hay sếp đồng nghĩa với áp lực rất lớn về rủi ro trách nhiệm, quản lý con người, khó cân bằng cuộc sống, trong khi mức thu nhập chưa chắc đã tương xứng với vị trí đảm nhiệm.
Để đảm nhiệm vai trò người sếp, cá nhân cần sở hữu các kỹ năng về quản trị nhân sự, tổ chức và lãnh đạo. Năng lực chuyên môn cao không đồng nghĩa với năng lực quản lý hiệu quả.
Với các yếu tố trên, người trẻ sẽ không mặn mà với vị trí này. Làm nhân viên giỏi chuyên môn, họ vẫn có thu nhập tốt, thậm chí rất cao và cân bằng được chất lượng cuộc sống của họ như mong muốn.
* Phải chăng đây là dấu hiệu của thiếu cầu tiến?
– Trong thực tế tuyển dụng, tôi vẫn thường gặp những ứng viên chia sẻ họ không có nhu cầu định hướng trở thành quản lý. Đồng thời cũng có những trường hợp đang giữ vị trí quản lý nhưng lại mong muốn quay về làm nhân viên.
Điều này không phải là dấu hiệu của sự thiếu cầu tiến, mà phản ánh định hướng phát triển nghề nghiệp theo những con đường khác nhau. Trở thành quản lý không phải là thước đo duy nhất để định nghĩa thành công.
Họ vẫn có tham vọng, nhưng thay vì tập trung vào việc “lên chức”, họ lựa chọn “nâng giá trị bản thân”. Nhờ đó, họ vẫn có thể đạt được mức thu nhập tốt, đồng thời cân bằng giữa cuộc sống, gia đình và công việc theo mong muốn.
Quan trọng hơn, họ vẫn tạo ra những giá trị rõ ràng trong công việc mà không nhất thiết phải nắm giữ vai trò quản lý.
Đây cũng là một xu hướng tích cực của thị trường lao động hiện đại. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp không xây dựng, phát triển đội ngũ kế thừa, đào tạo kỹ năng lãnh đạo, quản lý từ sớm, sẽ gây ra việc thiếu hụt nhân sự quản lý trong thời gian dài.
* Nếu các bạn trẻ vẫn muốn “làm nhân viên giỏi chuyên môn” thay vì quản lý, họ nên phát triển kỹ năng nào để có sự nghiệp bền vững?
– Theo tôi, nếu các bạn trẻ lựa chọn con đường trở thành “nhân viên giỏi chuyên môn” thay vì làm quản lý, thì hướng phát triển nên là “tạo ra giá trị không thể thay thế”, chứ không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành tốt công việc được giao.
Điều này đòi hỏi việc xây dựng năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp, càng khó, càng ít người làm được thì giá trị bản thân càng được nâng cao. Khi đó giá trị của bạn không còn nằm ở chức danh nữa mà nằm ở việc tổ chức đó có cần bạn hay không.
Bên cạnh các kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, truyền đạt và khả năng tự học, luôn cập nhật kiến thức mới cho bản thân mỗi ngày cũng là yếu tố then chốt giúp cho các bạn không bị thụt lùi trong thời kỳ lao động hiện đại hiện nay. Vì hiện tại thị trường thay đổi rất nhanh nếu không cập nhật sẽ rất dễ bị thay thế.
Một điểm quan trọng khác là nên xây dựng thương hiệu cá nhân trong nghề, để khi không giữ vị trí quản lý, chúng ta vẫn có một chỗ đứng, cơ hội phát triển trong một tổ chức.
* Một nhân viên giỏi vẫn có thể có thu nhập cao và ít áp lực hơn quản lý, doanh nghiệp nên làm gì để thu hút người trẻ vào vai trò lãnh đạo?
– Một nhân viên giỏi vẫn có thể đạt thu nhập cao và chịu ít áp lực hơn so với khi đảm nhận vị trí quản lý, đó là điều hiển nhiên. Vì vậy, để thu hút nhân sự lên vai trò lãnh đạo, doanh nghiệp cần thay đổi bản chất, “cái bóng” của vị trí này như biến nó thành một trải nghiệm đáng làm, chứ không phải tăng thêm gánh nặng, áp lực cho người đảm nhiệm.
Ngoài ra, cần mức đãi ngộ xứng đáng với trách nhiệm đảm nhận, đồng thời phải có cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn rõ ràng, người được bổ nhiệm không cảm thấy bị “đẩy” vào vị trí lãnh đạo và phải tự xoay xở mọi thứ một mình.
Đặc biệt là phải xây dựng được lộ trình đào tạo và phát triển quản lý, giúp nhân viên trẻ chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng quản trị con người, quản lý, ra quyết định và chịu trách nhiệm.
Với các hành trang đó, họ sẽ tự tin hơn khi ứng tuyển vào vị trí quản lý. Khi đó người trẻ nhận ra rằng làm quản lý là một bước tiến mới cũng là sự thay đổi có giá trị cho bản thân, chứ không phải là một vị trí khi bước vào phải đánh đổi.
Khi áp lực không còn quá lớn đến mức khiến họ e ngại, họ sẽ sẵn sàng đón nhận vai trò này một cách tự nguyện.
Vài tuần trước khi nhậm chức ở Tesla năm 2015, Jon McNeill, cựu Chủ tịch mảng Bán hàng và Dịch vụ toàn cầu đã gọi cho CEO Elon Musk để thú nhận một sai lầm.
Trước đó, tại văn phòng SpaceX, Musk tiết lộ Tesla đang chật vật đạt chỉ tiêu doanh số hàng quý. Tìm hiểu sự việc, McNeill phát hiện hàng nghìn khách hàng đã lái thử xe nhưng đội ngũ bán hàng của Tesla lại không liên hệ lại để hỏi thăm hay chốt sale. Đây là một "điểm nghẽn ngớ ngẩn" vì người lái thử là tệp khách hàng có nhu cầu mua xe cao nhất. Dù chưa có thẩm quyền, Jon McNeill vẫn yêu cầu ngừng các buổi lái thử, dồn nhân viên liên hệ lại với khách. Kết quả, doanh số bán hàng tăng vọt.
"Tôi nợ anh một lời xin lỗi", McNeill nói với Musk qua điện thoại. "Tôi đã can thiệp vào công việc kinh doanh của anh, điều tôi không có quyền làm". Sau một khoảng lặng, vị tỷ phú nói: "Anh sẽ hòa nhập rất tốt ở đây".
Về sau, cựu chủ tịch Tesla nhận ra tình huống này là ví dụ rõ nét nhất cho phong cách làm việc của Elon Musk.
Loại bỏ các bước không cần thiết: Thay vì tốn nguồn lực đi tìm người mới để cho lái thử (một quy trình dài và tốn kém), hãy chốt sale ngay với những người đã lái.
Tốc độ và hiệu quả quan trọng hơn thứ bậc hành chính: Tại đế chế của Musk, "sự quan liêu gần như không tồn tại". Musk đánh giá cao những cá nhân nhìn thấy vấn đề, dám đưa ra quyết định nhanh chóng để mang lại kết quả thực tế, hơn là những người chỉ biết làm đúng quy trình, tuân thủ cấp bậc nhưng để lỡ mất cơ hội vàng. Việc McNeill vượt quyền không phải là cái gai trong mắt Musk, mà chứng tỏ McNeill có tốc độ ra quyết định đúng "chuẩn Tesla".
Elon Musk là người khó đoán và thường xuyên sa thải nhân viên. Các công ty do ông điều hành có tỷ lệ biến động nhân sự cấp cao do áp lực công việc. Tuy nhiên, đổi lại là cơ hội hiện thực hóa những mục tiêu tham vọng và khối tài sản lớn nếu trụ lại đủ lâu.
Để làm việc trong hệ sinh thái này, nhân viên cần hiểu nguyên tắc của người đứng đầu. Trong ba năm làm việc trực tiếp với Elon Musk, McNeill nhận ra động lực cao nhất của sếp mình là giải phóng thời gian cá nhân. "Thành công với Elon là khi ông ấy chỉ cần làm việc một ngày mỗi tuần tại Tesla để có thể quay lại với đam mê lớn nhất là tên lửa", McNeill kể.
Tại Tesla và SpaceX, lối suy nghĩ truyền thống bị coi là rào cản. Elon Musk nói lợi thế cạnh tranh của công ty đến từ việc đưa ra quyết định nhanh hơn những nơi khác.
Trong cuốn sách Thuật toán, McNeill đúc kết triết lý quản trị của sếp cũ dựa trên hai nguyên tắc: đặt câu hỏi cho mọi yêu cầu và loại bỏ các bước không cần thiết trong quy trình.
Dù vậy, sự tự do này đi kèm rủi ro. Musk chấp nhận các rủi ro có thể khắc phục, nhưng nếu sai lầm gây thiệt hại nghiêm trọng, ông sẽ hành động quyết liệt.
Làm việc với Musk cũng yêu cầu sự tách biệt rạch ròi giữa cảm xúc và công việc. McNeill kể ông từng thấy khó chấp nhận khi Tesla khai tử một số dòng xe tâm huyết để dồn lực cho các dự án mới. Tuy nhiên với Musk, hoài niệm không có chỗ trong công việc.
"Ông ấy có góc nhìn rất sắc sảo về việc gạt bỏ quá khứ để hướng tới tương lai", McNeill nói.
Trong lĩnh vực việc làm, chỉ 7,8% người khuyết tật nặng có việc làm, so với hơn 78% ở người không khuyết tật.
Những con số này không chỉ phản ánh khoảng trống và sự thiếu hụt những cơ hội cho người khiếm thính, mà còn cho thấy một hệ thống vẫn còn nhiều khoảng cách để giúp người khiếm thính hòa nhập.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ người khuyết tật, việc phát hiện và can thiệp sớm đối với trẻ khiếm thính vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở cấp cộng đồng.
Nhiều trẻ khiếm thính tại Việt Nam không được phát hiện và can thiệp sớm. Việc thiếu tiếp cận ngôn ngữ (ngôn ngữ ký hiệu hoặc ngôn ngữ nói có hỗ trợ) trong những năm đầu đời dẫn đến "nghèo ngôn ngữ", ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy và khả năng học tập.
Hệ quả là trẻ khó theo kịp chương trình học hòa nhập, tỉ lệ bỏ học cao, cơ hội học nghề bị thu hẹp ngay từ đầu.
Về cơ hội việc làm, nhiều người khiếm thính có khả năng làm việc tốt, thậm chí có những lợi thế như tập trung cao, khéo léo, nhưng họ vẫn gặp rào cản trong việc tiếp cận việc làm. Có thể kể đến thiếu dịch vụ phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu (hoặc kinh phí cao và rất khó có thể chi trả cho các khoản này), doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận và điều chỉnh môi trường làm việc, định kiến không giao tiếp được nghĩa là không làm việc được,
Điều này khiến nhiều người khiếm thính phải chọn tự làm việc nhỏ lẻ, không ổn định, không được bảo vệ quyền lợi lao động.
Trong không gian công cộng, người khiếm thính như bị "vô hình hóa".
Ở nhiều nơi công cộng như nhà ga, sân bay chưa có các điều chỉnh tiếp cận thông tin với người khiếm thính, thông báo thiếu phụ đề, thiếu ngôn ngữ ký hiệu, thiết kế dịch vụ chưa tính đến người không nghe được. Khi đó, người khiếm thính trở thành người ngoài cuộc ngay trong chính xã hội của mình.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất là nhận thức. Gần đây các chương trình trên tivi có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, mọi người đã biết hơn về cộng đồng khiếm thính. Nhưng vẫn còn đó quan điểm rằng người khiếm thính "kém thông minh", không thể học cao, không thể làm việc chuyên môn.
Thực tế trên thế giới đã có nhiều chứng minh về khả năng của người khiếm thính có thể trở thành giáo viên, nghệ sĩ, kỹ sư, doanh nhân. Tại Việt Nam cũng có một số bạn khiếm thính đã tốt nghiệp đại học, đi làm và thậm chí có bạn còn đi du học, lấy bằng thạc sĩ tại nước ngoài. Con số tuy chưa cao nhưng đấy cũng là một điều khích lệ và điều đó cũng chỉ ra vấn đề không phải là khả năng - mà là cơ hội và môi trường.
Phát hiện sớm và can thiệp sớm giúp trẻ khiếm thính và gia đình định hướng sớm và thực hiện việc can thiệp sớm nhằm rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ cho trẻ so với các trẻ không khiếm thính khác.
Ngoài ra cần có chính sách sàng lọc sơ sinh, hỗ trợ cha mẹ học giao tiếp với con (ký hiệu hoặc nói).
Giao tiếp là chìa khóa của thành công, vì vậy nếu chúng ta giải quyết được các vấn đề trên thì đây là "chìa khóa vàng" quyết định 70-80% khả năng hòa nhập sau này của trẻ khiếm thính.
• Đào tạo giáo viên giáo dục đặc biệt - chuyên ngành khiếm thính.
• Có trợ giảng hoặc phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu.
• Phát triển song ngữ: ngôn ngữ ký hiệu và tiếng Việt.
• Nên thống nhất ngôn ngữ ký hiệu phổ thông tại Việt Nam.
• Có các chương trình hướng dẫn cha mẹ giúp trẻ khiếm thính phát triển giao tiếp và ngôn ngữ tại gia đình, nâng cao năng lực cho cha mẹ trong việc đồng hành nuôi dạy trẻ khiếm thính.
• Xây dựng mô hình "nơi làm việc hòa nhập".
• Đào tạo nội bộ về giao tiếp với người khiếm thính.
• Có chính sách tuyển dụng rõ ràng.
Người khiếm thính chiếm một lực lượng không nhỏ, vì vậy nếu khai khác được và giúp họ các kiến thức kỹ năng để có thể bước chân vào thị trường lao động thì sẽ giải quyết được hơn cả một vấn đề việc làm mà cả vấn đề an sinh, hướng đến cuộc sống độc lập, bình đẳng cho người khiếm thính và tận dụng được nguồn nhân lực đang bị bỏ quên.
• Đưa hình ảnh người khiếm thính vào đời sống bình thường, không phải "ngoại lệ".
Người khiếm thính không cần sự thương hại. Họ cần cơ hội để được lắng nghe, theo cách của riêng mình. Nhưng đừng để người khiếm thính phải gồng mình. Một xã hội hòa nhập không phải là nơi người khiếm thính phải nỗ lực gấp đôi để "theo kịp", mà là nơi mọi người cùng bước chậm lại một chút để đi cùng nhau.
Từ cái cảnh lụi hụi nấu nồi cơm nhỏ xíu trong căn phòng trọ Sài Gòn, ăn qua loa cho xong bữa, về tới nhà là thành #cơmnhà thiệt sự - có người nấu, có người chờ, có tiếng cười nói rôm rả, nghe mà ấm lòng muốn rơi nước mắt.
Quê tôi ở một xóm nhỏ miền Tây, xứ sen hồng - trước nhà là con rạch nước đục phù sa, sau nhà là mấy liếp rau xanh rì. Xe vừa quẹo vô đầu xóm là tôi thấy lòng mình nhẹ hẳn, như trút được nguyên bao nhiêu mệt mỏi trên thành phố.
Ở TP.HCM, có khi chạy xe ngoài đường đông nghẹt, nghe còi inh ỏi, đầu óc lúc nào cũng căng như dây đàn. Vậy mà chỉ cần về tới cổng nhà, nghe tiếng má với câu chào quen thuộc, "về rồi hả con", là tự nhiên thấy mọi thứ dịu xuống.
Bữa cơm quê không có gì cao sang mà sao ngon lạ. Ba tôi hay tranh thủ buổi sáng đi vợt hến dưới rạch. Ba nói: "Hến này tươi ăn mới ngọt", rồi cười cười, tay còn dính bùn mà mặt thì khoái chí. Má thì ở trong bếp, lụi hụi rửa rau, nấu nồi canh chua thơm phức. Còn ngoại tôi, lúc nào cũng ngồi cái ghế gỗ cũ, chậm rãi nhìn con cháu, lâu lâu chen vô một câu: "Ăn nhiều vô con, ốm quá trời".
Có bữa cơm chỉ có cá kho, dĩa rau luộc, chén nước mắm dầm ớt, vậy mà ngồi ăn, tôi thấy ngon hơn bất cứ món nào ngoài quán. Cá kho đậm đà, thịt săn, nước kho sền sệt. Má còn để thêm dĩa xoài chín vàng ươm, ăn kèm nghe vừa ngọt vừa béo, đúng cái kiểu "đặc sản nhà làm" mà đi đâu cũng không kiếm được. Tôi vừa ăn vừa xuýt xoa, ba nhìn qua cười: "Ở trên đó có ăn được vầy không con?". Tôi chỉ biết lắc đầu.
Ở TP.HCM, nhiều khi ăn một mình riết rồi quen. Mở điện thoại lên coi cái gì đó, ăn cho qua bữa, xong rồi lại lao vô công việc. Không ai hỏi ngon không, cũng không có ai gắp cho miếng cá, chan thêm miếng canh. Mọi thứ nó gọn gàng, nhanh chóng, mà cũng lạnh lẽo dữ lắm.
Ở quê, bữa cơm kéo dài hơn bình thường. Ăn xong rồi vẫn ngồi đó, nói chuyện này chuyện kia. Ba kể chuyện xóm làng, má hỏi thăm công việc trên thành phố, ngoại thì lâu lâu chen vô nhắc chuyện hồi xưa. Có khi chỉ là mấy câu chuyện đơn giản vậy thôi, mà tôi nghe hoài không chán. Tại lâu rồi, tôi mới có lại cái cảm giác "được thuộc về chốn quê".
Mỗi lần về quê, tôi hay tự nhủ: "Lần này ở lâu lâu chút". Mà rồi cũng vài bữa là phải đi. Sài Gòn còn công việc, còn trách nhiệm, còn bao nhiêu thứ đang chờ. Ngày lên lại thành phố, má gói cho mớ đồ ăn, ba dặn dò đủ thứ, Ngoại thì đứng nhìn theo, ánh mắt hiền mà buồn buồn. Tôi quay xe đi mà lòng cứ nặng trĩu.
Trên đường trở lại, tôi biết rồi mình sẽ lại quay về với những bữa ăn vội vàng. Nhưng trong lòng tôi, cái vị cơm quê vẫn còn đó. Cái vị cá kho đậm đà, cái ngọt của xoài chín, cái ấm áp của tiếng cười bên mâm cơm... nó theo tôi lên tới tận Sài Gòn, len vô từng ngày bận rộn.
Có người hỏi tôi, sao cứ thích về quê hoài vậy. Tôi cười, trả lời vui: "Về ăn cơm". Nhưng thiệt ra, đâu chỉ là ăn. Là về để thấy mình vẫn còn một nơi để thương, để nhớ. Là về để biết, dù ngoài kia có mệt cỡ nào, thì vẫn có một mâm cơm chờ mình, có ba má, có ngoại, có một mái nhà luôn mở cửa.
Với tôi - một thằng con trai miền Tây đi làm xa - hạnh phúc nhiều khi chỉ là vậy thôi - một bữa cơm nhà, ăn cho no bụng, rồi cười cho đã lòng.