Nhiều quốc gia đang xem việc kiểm soát trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội là một vấn đề khẩn cấp, cần được điều chỉnh bằng luật pháp thay vì chỉ phụ thuộc vào lựa chọn riêng của từng gia đình hay từng cá nhân.
Từ tháng 12-2025, Úc chính thức cấm người dưới 16 tuổi sử dụng các nền tảng mạng xã hội. Sau đó, Indonesia và Pháp cũng triển khai các quy định tương tự từ tháng 3-2026. Anh đang thí điểm hạn chế trẻ vị thành niên tiếp cận một số nền tảng, trong khi Hy Lạp dự kiến cấm người dưới 15 tuổi sử dụng mạng xã hội từ năm 2027.
Điều đó cho thấy nhiều quốc gia không còn nhìn mạng xã hội đơn thuần như một công cụ giải trí hay kết nối. Trong bối cảnh công nghệ và nền tảng số phát triển vũ bão, kéo theo hàng loạt hệ lụy về nghiện thiết bị, bắt nạt trực tuyến, nội dung độc hại và khủng hoảng sức khỏe tinh thần ở thanh thiếu niên, mạng xã hội đang được xem là vấn đề liên quan trực tiếp đến sự phát triển nhận thức, tâm lý và sự an toàn của trẻ em.
Ở Việt Nam, câu chuyện ấy cũng đang hiện diện rất rõ trong trường học và từng gia đình. Không khó để bắt gặp hình ảnh nhiều học sinh hôm nay vừa ăn vừa cầm điện thoại, học được vài phút lại vô thức mở mạng xã hội, thức “cày” những video ngắn đến tận khuya rồi sáng hôm sau vào lớp trong trạng thái vật vờ, thiếu tập trung.
Cùng với đó là việc nhiều em dễ bị cuốn vào các trào lưu phản cảm, nội dung cực đoan hay “hóng” những “drama” vô bổ xuất hiện dày đặc mỗi ngày trên mạng xã hội.
Tôi cho rằng vấn đề không đơn thuần nằm ở việc trẻ em dành bao nhiêu thời gian cho mạng xã hội, mà đáng lo hơn là các em đang lớn lên giữa những nội dung gì, những hệ giá trị nào và kiểu tác động tâm lý ra sao từ môi trường mạng.
Một đứa trẻ thường xuyên tiếp xúc với những nội dung lệch chuẩn, phản khoa học hay cực đoan rất dễ dần xem đó là điều bình thường. Một đứa trẻ lớn lên giữa văn hóa công kích, chế giễu và bạo lực ngôn từ cũng dễ trở nên chai lì cảm xúc, thậm chí vô cảm trước tổn thương của người khác.
Trong khi đó, việc mỗi ngày liên tục nhìn thấy những hình ảnh hào nhoáng, những cuộc sống được tô vẽ quá mức đến mức “không tì vết” trên mạng xã hội rất dễ khiến nhiều em rơi vào tâm lý tự ti, so sánh bản thân hoặc hình thành những lệch lạc về giá trị sống và cách nhìn nhận chính mình.
Theo khảo sát của UNICEF, 21% thanh thiếu niên Việt Nam từng là nạn nhân của bắt nạt trên mạng. Nhưng điều khiến tôi ám ảnh hơn là có tới 75% các em không biết tìm sự trợ giúp ở đâu nếu bị bạo lực mạng. Điều đó đồng nghĩa rất nhiều đứa trẻ đang chịu tổn thương trong im lặng, một mình đối diện với áp lực, sự công kích hay nỗi sợ ngay trên chiếc điện thoại mà mỗi ngày các em vẫn cầm trên tay.
Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận với nhau rằng trẻ em hiện nay tiếp cận Internet quá sớm, nhưng lại gần như chưa được trang bị đủ kỹ năng để tự bảo vệ mình trên không gian mạng.
Ở tuổi dưới 16, khả năng kiểm soát cảm xúc, nhận thức đúng – sai hay tự điều chỉnh hành vi của các em vẫn chưa hoàn thiện. Trong khi đó, không ít đối tượng đang lợi dụng mạng xã hội để tạo ra các nội dung phản khoa học, lệch chuẩn hoặc độc hại nhằm thu hút lượt xem và trục lợi.
Người lớn đôi khi còn có những lúc cầm điện thoại lên chỉ định xem vài phút, nhưng rồi bị cuốn từ video này sang video khác đến cả tiếng đồng hồ mà không nhận ra. Với trẻ em, “sức đề kháng” trước những cơ chế gây nghiện ấy càng yếu hơn nhiều, dễ bị dẫn dắt, thao túng bởi sự tò mò, hiếu kỳ tuổi mới lớn.
Hôm qua, tôi đọc thông tin tại Tây Ninh xuất hiện một số trường hợp học sinh tiểu học và trung học cơ sở có hành vi liên quan đến việc mua bán, sử dụng và thờ cúng búp bê Kuman Thong.
Câu chuyện khiến nhiều người lớn giật mình, nhưng nếu nhìn rộng hơn, đó không phải hiện tượng quá khó hiểu trong bối cảnh trẻ em đang tiếp xúc với đủ loại nội dung thiếu kiểm chứng trên mạng xã hội, trong đó có loạt video mang màu sắc tâm linh, giật gân, huyền bí được dựng với mục đích câu view, tăng tương tác, nhiều học sinh có thể tò mò làm theo mà chưa đủ nhận thức để hiểu bản chất vấn đề.
Một nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học California tại San Francisco (Mỹ), theo dõi gần 12.000 trẻ em từ 9-13 tuổi trong suốt 3 năm, cho thấy thời gian sử dụng mạng xã hội tăng mạnh đi kèm với mức gia tăng khoảng 35% các triệu chứng trầm cảm ở trẻ vị thành niên. Nghiên cứu cũng ghi nhận những trẻ bị bắt nạt trên mạng có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn đáng kể.
Vì thế, tôi hiểu vì sao nhiều quốc gia buộc phải hành động mạnh tay hơn. Bởi nếu tiếp tục xem mạng xã hội đơn thuần là một công cụ giải trí vô hại, cái giá phải trả có thể không chỉ là vài giờ trẻ em “nghiện điện thoại”, mà là sự bào mòn về nhận thức, sức khỏe tinh thần, cả tuổi thơ của một thế hệ và thậm chí còn hơn cả thế.
Tôi không phủ nhận sức mạnh của pháp luật trong việc tạo ra những giới hạn cần thiết và tác động đến ý thức xã hội. Dẫu vậy, tôi cho rằng sẽ rất khó giải quyết tận gốc vấn đề nếu chỉ trông chờ vào một lệnh cấm.
Thực tế, nhiều học sinh hiện nay đã biết cách tạo tài khoản bằng ngày sinh giả, nhờ người thân đăng ký hộ, thậm chí sử dụng công nghệ để vượt qua các bước xác minh độ tuổi. Công nghệ càng phát triển, việc “lách” quy định càng trở nên dễ dàng hơn.
Thiết nghĩ, điều quan trọng không chỉ “cậy nhờ” những hàng rào pháp lý, mà là cách gia đình, nhà trường và xã hội cùng tạo ra một “hệ miễn dịch số” cho trẻ em. Bởi sẽ không có cha mẹ nào đủ khả năng ngồi cạnh con 24/24 giờ để kiểm tra xem các em đang xem gì, trò chuyện với ai hay bị tác động bởi điều gì trên mạng xã hội.
Điều chúng ta có thể làm không phải là nhốt trẻ khỏi Internet, mà là trao cho các em một “lớp kháng thể” trước thế giới số. Đó là kỹ năng nhận diện đúng – sai, khả năng phản biện, năng lực tự bảo vệ mình trước những nội dung độc hại và cả cảm giác đủ được yêu thương để không quá lệ thuộc vào sự công nhận từ thế giới ảo.
Nếu một đứa trẻ thiếu bản lĩnh, thiếu kỹ năng số và thiếu sự đồng hành từ gia đình, thì ngay cả khi bị cấm mạng xã hội hôm nay, các em vẫn có thể đối diện những rủi ro khác vào ngày mai.
Tôi nghĩ điều trẻ em cần không phải là sự kiểm soát, mà hơn hết là sự hiện diện thật sự của cha mẹ. Là khi người lớn học cách làm bạn với con, chịu đặt điện thoại xuống để lắng nghe xem con đang nghĩ gì, gặp chuyện gì, đang vui hay đang tổn thương vì điều gì.
Một đứa trẻ được quan tâm, được kết nối và có đời sống tinh thần đủ đầy thường sẽ không quá khao khát tìm kiếm sự công nhận từ mạng xã hội. Ngược lại, nhiều em tìm đến và bị cuốn vào thế giới ảo đôi khi chỉ vì ngoài đời thực quá cô đơn, thiếu sẻ chia và không tìm thấy cảm giác được lắng nghe.
Suy cho cùng, điều đáng sợ nhất không phải là trẻ em biết dùng công nghệ quá sớm, mà là người lớn đang để các em bước vào thế giới số quá sớm nhưng lại chưa kịp trang bị đủ kỹ năng, bản lĩnh và điểm tựa tinh thần để tự bảo vệ mình trước những mặt trái của nó.
Gia đình bé gái tên Xiao Tong thuộc diện khó khăn. Người mẹ mắc tâm thần phân liệt, cha là trụ cột duy nhất nhưng sức khỏe yếu do di chứng ngộ độc khí than năm 2025. Ông đi làm thuê với thu nhập khoảng 150 tệ mỗi ngày.
Sợ bản thân gặp bất trắc, ông giao mật khẩu và thẻ ngân hàng cho con gái 13 tuổi quản lý. Ngày 9/5, người cha mang xe máy đi sửa mới phát hiện số tiền tiết kiệm 180.000 tệ đã không còn.
Trong cuộc phỏng vấn với Đài truyền hình Hà Nam, cô bé Xiao Tong nói do yêu thích hoạt hình 2D nên đã thuê các họa sĩ trên mạng vẽ nhân vật theo ý tưởng cá nhân.
Dữ liệu nền tảng cho thấy từ tháng 5/2025, tài khoản của Xiao Tong phát sinh giao dịch liên tục. Riêng tháng 2/2026, cô bé thực hiện 14 đơn hàng. Bức tranh đắt nhất có giá 5.400 tệ.
Để sở hữu những sản phẩm yêu thích này, Tong yêu cầu họa sĩ đẩy nhanh tiến độ từ một tháng xuống 5 ngày, chấp nhận trả giá cao hơn. Trên trang cá nhân, cô bé tuyên bố "gia đình đủ điều kiện để theo đuổi sở thích".
Họa sĩ Xiao Bei, người thực hiện bức tranh đắt nhất cho Tong, nói không biết khách hàng là trẻ vị thành niên. "Tôi đã thông báo không nhận yêu cầu từ người nhỏ tuổi và phải thức đêm để kịp tiến độ khách hàng yêu cầu", họa sĩ cho biết.
Họa sĩ này chủ động liên hệ nền tảng để hoàn trả chi phí. Một họa sĩ khác tên Yan cũng lập tức trả lại tiền khi thấy Tong yêu cầu hủy đơn với lý do "cần tiền đóng viện phí".
Gia đình Xiao Tong đang thương lượng với các bên để xin hoàn tiền, chủ yếu tập trung vào các đơn hàng chưa hoàn thành. Cô bé cũng hứa với cha không sử dụng thẻ tùy tiện.
Sau khi câu chuyện của Xiao Tong được phát sóng trên truyền hình, nhiều chuyên gia giáo dục nhận định nguồn gốc nằm ở việc trẻ thiếu kiến thức về giá trị đồng tiền và sự lỏng lẻo trong quản lý gia đình. Trong thời đại thanh toán số, tiền tệ chỉ là những con số trên màn hình khiến trẻ em không cảm nhận được nỗi vất vả của cha mẹ.
"Yêu thương không phải là thỏa mãn nhu cầu vật chất vô điều kiện, mà là giúp trẻ phân biệt giữa 'muốn' và 'cần', để hiểu rằng sau mỗi niềm vui cá nhân luôn có sự hy sinh thầm lặng của người thân", một người dùng mạng viết.
Khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới sống với khuyết tật, tức khoảng 16% dân số toàn cầu. Điều tra năm 2023 cho thấy Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (khoảng 6,11% dân số).
Có thể nói số liệu trên đây là một bộ phận không nhỏ trong xã hội song vẫn đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, dịch vụ công… Rào cản lớn nhất không nằm ở bản thân khuyết tật mà ở môi trường chưa được thiết kế để mọi người cùng tham gia bình đẳng.
Một công trình không có lối đi phù hợp, một trang thông tin không thể truy cập bằng công nghệ hỗ trợ hay một doanh nghiệp từ chối tuyển dụng vì định kiến… tất cả đều là rào cản xã hội, tạo ra khuyết tật về cơ hội với người khuyết tật. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu cơ chế thực thi hiệu quả và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Muốn xóa bỏ rào cản cần chuyển từ cách làm mang tính phong trào sang cách làm dựa trên chuẩn tiếp cận, có kiểm tra giám sát, có chế tài và có sự tham gia của chính người khuyết tật. Một trong những biểu hiện rõ nhất của rào cản xã hội là khoảng cách về việc làm. Tỉ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc chỉ khoảng 23,5% (theo số liệu điều tra năm 2023).
Nhiều người khuyết tật không thiếu năng lực nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận. Họ không được đào tạo nghề phù hợp, không được hỗ trợ điều chỉnh môi trường làm việc và thường bị loại khỏi vòng tuyển dụng ngay từ đầu do định kiến.
Tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật không thể dựa vào thiện chí mà phải dựa trên hệ thống chính sách đồng bộ, từ chống phân biệt đối xử đến hỗ trợ doanh nghiệp và dịch vụ việc làm công.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho người khuyết tật song chính sách chưa thực sự tạo động lực. Chẳng hạn doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế khi có từ 30% trở lên số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác). Đồng thời có quy mô từ 20 lao động trong năm trở lên.
Có những cơ sở đạt tỉ lệ lao động khuyết tật như quy định nhưng vẫn không được hưởng ưu đãi do không đáp ứng điều kiện về quy mô lao động tối thiểu.
Tương tự, doanh nghiệp phải bảo đảm tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác) mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động. Không ít doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách này do không đạt ngưỡng tỉ lệ lao động là người khuyết tật.
Do vậy yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chính sách theo hướng bỏ hoặc linh hoạt hóa điều kiện về quy mô lao động, đặc biệt với cơ sở có tỉ lệ lao động là người khuyết tật cao.
Hoặc thiết kế cơ chế ưu đãi theo hướng lũy tiến hay đa ngưỡng thay vì áp dụng cứng tỉ lệ 30% nhằm ghi nhận cả những doanh nghiệp có đóng góp đáng kể nhưng chưa đạt ngưỡng.
Cần kết hợp đồng thời tiêu chí về tỉ lệ và số lượng tuyệt đối lao động là người khuyết tật, mở rộng hình thức hỗ trợ ngoài thuế như cải tạo nơi làm việc, công nghệ trợ giúp, đào tạo tại chỗ song song với tận dụng mua sắm công và chuỗi cung ứng.
Kinh nghiệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy các quốc gia thành công thường kết hợp nhiều công cụ: ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và cả áp lực thị trường.
Sharapova ngồi vào hội đồng quản trị tập đoàn tỉ đô, rót vốn vào hơn 10 công ty, vừa ra mắt podcast của riêng mình. Đấu trường đã thay đổi, nhưng tinh thần cạnh tranh thì không…
Sharapova - "nữ hoàng băng giá" tái xuất trên thương trường ra sao?
Tại Hội nghị TIME100 ở New York mới đây, bà Maria Sharapova bước lên sân khấu cùng biên tập viên Gayle King của tạp chí Oprah Daily không phải để nhìn lại quá khứ, mà để nói về tương lai.
Người phụ nữ từng bị gọi là "nữ hoàng băng giá" trên sân đấu chứng minh rằng những phẩm chất tạo nên một vận động viên nhà nghề đỉnh cao - sự kiên định, khả năng chịu áp lực, tư duy không chấp nhận thất bại - chính xác là những gì tạo nên một nhà lãnh đạo xuất sắc trong kinh doanh.
Ít ai biết rằng nền tảng kinh doanh của bà Sharapova không được xây dựng sau khi bà giải nghệ, mà ngay từ những năm còn cầm vợt.
Theo tạp chí TIME, khi còn thi đấu, bà đã tranh thủ thời gian để "gặp gỡ những con người và thương hiệu tuyệt vời, học hỏi, theo học tại Harvard và thực tập cùng Chủ tịch Liên đoàn Bóng rổ nhà nghề Mỹ (NBA) Adam Silver.
Bước ngoặt đến sớm hơn thế, ngay tại giải Wimbledon 2006, khi bà Sharapova và đối thủ bước ra sân trong cùng một bộ trang phục Nike. Chính khoảnh khắc đó thôi thúc bà đòi được thiết kế trang phục riêng - điều chưa từng có tiền lệ lúc bấy giờ.
Theo tờ New York Times (NYT), Giám đốc thiết kế Nike Martin Lotti sau này nhìn nhận Sharapova đã tạo ra "sự hợp nhất giữa thể thao và thời trang", không chỉ trong quần vợt mà còn lan rộng ra nhiều môn khác.
Chiếc váy đen lấy cảm hứng từ Audrey Hepburn tại US Open 2006 - bộ trang phục "buổi tối" đầu tiên trong lịch sử tennis nữ - chỉ là phần nổi của một tư duy chiến lược đã vận hành âm thầm từ lâu.
Cha bà từng dặn rằng dù chưa hiểu hết các điều khoản, hãy cứ ngồi vào bàn đàm phán vì đó là nền tảng tài chính cho cả thập kỷ tới. Tư duy đó đã đơm hoa.
Theo NYT, Sharapova là vận động viên nữ được trả thù lao cao nhất mọi môn thể thao trong 11 năm liên tiếp từ 2005 đến 2015, dù thời gian giữ hạng 1 thế giới chỉ vỏn vẹn 21 tuần không liên tiếp.
Sau khi giải nghệ năm 2020, bà bước vào đấu trường mới khắc nghiệt hơn, ít tiếng vỗ tay hơn. Bà ngồi vào hội đồng quản trị Moncler - tập đoàn thời trang xa xỉ niêm yết trên sàn chứng khoán.
"Bạn đang ngồi trong phòng, điều hành một công ty đại chúng trị giá hàng tỉ USD theo thời gian thực", bà thừa nhận đây là thử thách đáng sợ nhất trong hành trình hậu sàn đấu tennis của mình.
Song song đó, theo TIME, bà cũng đã xây dựng danh mục đầu tư trải rộng hơn 10 công ty gồm Supergoop!, Bala Bangles, Tonal, Therabody, Cofertility và MoonPay - phần lớn hoạt động trong lĩnh vực sức khỏe và tiêu dùng.
Nếu hội đồng quản trị Moncler là thử thách khắc nghiệt nhất, thì "Pretty Tough" là tuyên ngôn cá nhân rõ ràng nhất của Sharapova kể từ khi giải nghệ.
Tháng 4-2026, bà ra mắt podcast này trên nền tảng Vox Media với sứ mệnh cụ thể: để những phụ nữ quyền lực chia sẻ hành trình chinh phục thành công "không cần xin lỗi". Các khách mời đầu tiên gồm diễn viên Zoe Saldaña và đồng sở hữu đội bóng rổ LA Lakers Jeanie Buss.
Cái tên podcast không phải ngẫu nhiên. Nó xuất phát từ chính những định kiến bà Sharapova phải đối mặt suốt sự nghiệp, rằng một người phụ nữ quyết đoán và không khoan nhượng là "khó chịu", là "lạnh lùng".
Theo NYT, bà phản bác thẳng thắn: "Tôi liên tục nghĩ về những phụ nữ đã trở thành lãnh đạo, nhưng vì lý do nào đó họ lại làm dịu bản thân đi. Họ đã đưa ra những quyết định quan trọng, bỏ ra rất nhiều công sức, vậy mà vẫn phải xin lỗi vì phong cách lãnh đạo đó".
Thông điệp ấy được bà mang đến Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos đầu năm 2025 - nơi bà phát biểu về lãnh đạo nữ trên kênh truyền hình tài chính CNBC và tại sự kiện của tập đoàn công nghệ IBM thay vì theo dõi Australian Open - giải quần vợt Grand Slam khởi đầu năm tại Melbourne.
Bà mô tả Davos như một nơi "hẹn hò tốc độ dành cho giới kinh doanh với comple và cà vạt" - hóm hỉnh nhưng nói lên rất nhiều về cách bà tiếp cận thế giới mới: nhanh, thực dụng và không ngại va chạm.
Nhưng không phải mọi thứ đều là tham vọng. Theo TIME, bà Sharapova thừa nhận tinh thần cạnh tranh của bà đã "dịu lại", bà ít chơi tennis hơn và đang tìm những hình thức vận động khác phù hợp hơn với mình.
Trong tập đầu của "Pretty Tough", bà và Zoe Saldaña - cựu vũ công chuyên nghiệp - cùng nói về điều đó: cảm giác của những người từng đẩy cơ thể đến đỉnh giới hạn, và nay đang học cách sống với nó theo cách nhẹ nhàng hơn.
"Có rất nhiều điểm tương đồng giữa thể thao và kinh doanh", bà nói. Và với "Pretty Tough", bà bắt đầu nói to điều đó - thật to, thật rõ, không cần phải xin lỗi bất kỳ ai vì sự mạnh mẽ ấy.