GS. TS Vũ Văn Yêm, Phó giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết thông tin trên tại lễ tốt nghiệp ngày 9/5.
Hàng năm, Đại học Bách khoa Hà Nội có hai đợt trao bằng tốt nghiệp, thường vào tháng 5 và tháng 10. Ở đợt này, trường có hơn 3.000 tân cử nhân, kỹ sư, tương đương cùng kỳ năm ngoái.
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và giỏi xấp xỉ 19%, giảm khoảng 2%. Còn lại, khoảng 68% xếp loại khá, 13% trung bình.
“Nhìn chung, tỷ lệ tốt nghiệp giỏi và xuất sắc của Đại học Bách khoa Hà Nội trước giờ không cao. Số tốt nghiệp xuất sắc mỗi đợt chỉ 3-5% và giỏi khoảng 10-15%”, ông Yêm nói.
So với các trường top đầu khác, tỷ lệ trên ở mức thấp. Ví dụ tại Đại học Ngoại thương, số tốt nghiệp giỏi, xuất sắc năm 2025 là gần 80%, ở Kinh tế Quốc dân là hơn 86%.
Lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng chương trình đào tạo ở mỗi đại học có tính đặc thù riêng, chuẩn đầu ra khác nhau. Ngoài ra, chiến lược của mỗi trường cũng khác.
Với hơn 20 năm tại HUST, ông Yêm nhận thấy sinh viên tốt nghiệp đáp ứng đúng định hướng phát triển của trường. Số có việc làm trong vòng 12 tháng đạt 93-95%. Có những sinh viên bằng khá vẫn học tốt khi theo chương trình thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài.
Hiện mỗi năm, Đại học Bách khoa Hà Nội có khoảng 3-4% sinh viên tốt nghiệp du học bậc học cao hơn. Nhóm xuất sắc có nhiều cơ hội quay lại trường theo đề án đào tạo giảng viên nguồn, nếu đáp ứng các tiêu chí về năng lực ngoại ngữ, khả năng nghiên cứu.
Thành lập năm 1956, Đại học Bách khoa Hà Nội là trường dẫn đầu cả nước về đào tạo lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Mỗi năm, trường tuyển mới khoảng 8.000-9.500 sinh viên bậc đại học, số tốt nghiệp đúng hạn là gần 7.000.
Năm ngoái, tỷ lệ tốt nghiệp xuất sắc và giỏi của trường cao kỷ lục với 8,8% trong gần 6.800 người.
Tin Gốc: Vnexpress

Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 4/5 cho biết đây là những học sinh được triệu tập vào vòng chọn đội tuyển thi Olympic quốc tế và khu vực ở 5 môn. Trong đó, môn Toán đông nhất với 37 học sinh, kế đến là Tin học - 30. Các môn Sinh học, Hóa học, Vật lý mỗi môn có 27-29 em.
Theo quy định, nhóm này còn cần đạt kết quả rèn luyện cả năm lớp 12 đạt mức tốt và học tập loại khá trở lên để được miễn thi tất cả môn tốt nghiệp THPT và ưu tiên xét tuyển thẳng vào đại học.
Giai đoạn 2021-2025, mỗi năm có 133-146 học sinh diện này.
Danh sách học sinh được triệu tập ở môn Toán thuộc diện miễn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 như sau:
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 diễn ra ngày 11-12/6 với hơn 1,2 triệu thí sinh, đông nhất từ trước đến nay. Thí sinh làm 4 bài, bắt buộc có Toán và Ngữ văn. Ngoài ra, các em chọn hai môn đã học ở trường (Hóa học, Vật lý, Sinh học, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tin học, Công nghệ và Ngoại ngữ).
Trong công thức tính điểm xét tốt nghiệp, điểm các môn thi chiếm 50%; còn lại là điểm học bạ lớp 10, 11, 12 (50%) và điểm ưu tiên nếu có.
Ngoài nhóm trên, những thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ tương đương IELTS 4.0 trở lên có thể đăng ký miễn thi môn Ngoại ngữ. Đến ngày 3/5, đã có hơn 8.000 em.
Tin Gốc: Vnexpress

Tại Hà Nội, thống kê sơ bộ trong kỳ khảo sát do Sở GD-ĐT tổ chức mới đây cho thấy trong số các môn thi, tiếng Anh có tỷ lệ lựa chọn cao nhất với gần 50%; tiếp đến là môn lịch sử, hơn 42%; địa lý 33,29%; vật lý hơn 30%; giáo dục kinh tế pháp luật 21,65%; hóa học 13,95%... Những môn có ít học sinh (HS) lựa chọn nhất là công nghệ, tin học, sinh học…
Ông Hà Xuân Nhâm, Trưởng phòng Giáo dục trung học (Sở GD-ĐT Hà Nội), chỉ ra rằng kết quả kỳ khảo sát với HS lớp 12 của toàn TP để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT phản ánh tương đối đầy đủ, sát thực chất lượng dạy học của các nhà trường.
Đáng chú ý, theo ông Nhâm, xu hướng lựa chọn môn thi đang lệch về "an toàn", nhiều HS lựa chọn các môn xã hội hơn các môn tự nhiên; song chất lượng không tương xứng, đặc biệt môn địa lý là môn có điểm trung bình thấp nhất. Như vậy, tồn tại tình trạng "chọn nhiều nhưng điểm không cao", nếu không điều chỉnh sẽ không đạt hiệu quả.
Tương tự, qua khảo sát tại các kỳ thi thử, tỉnh Bắc Ninh có khoảng 65-68% HS lớp 12 dự kiến đăng ký chọn tổ hợp các môn lịch sử, địa lý trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ở chiều ngược lại, vật lý chỉ còn khoảng 30%, hóa học 20%. Đáng chú ý nhất là sinh học chỉ còn hơn 2%. Các môn mang tính ứng dụng của thời đại như: tin học, công nghệ nông nghiệp, công nghệ công nghiệp cũng có rất ít HS đăng ký.
Điều này cũng phản ánh đúng tình hình chọn môn học lựa chọn của HS khi vào lớp 10 khi năm học này toàn tỉnh có 70% HS THPT lựa chọn học các môn khoa học xã hội, chỉ có 30% lựa chọn môn khoa học tự nhiên. Đặc biệt, ở các trường THPT có điểm đầu vào lớp 10 không cao, tỷ lệ HS chọn các môn khoa học tự nhiên rất thấp.
Ở các tỉnh miền núi phía bắc như Tuyên Quang, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai…, xu hướng chọn môn thi vẫn lệch hẳn về phía các môn khoa học xã hội như lịch sử, địa lý, giáo dục kinh tế pháp luật. Trong khi đó, lãnh đạo sở GD-ĐT các tỉnh này cũng than phiền về tình trạng thiếu nguồn nhân lực và cả giáo viên thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, ngoại ngữ.
Dù vậy, ở những trường THPT tốp đầu, xu hướng HS chọn môn khoa học tự nhiên khá cao, chỉ sau ngoại ngữ.
Theo thống kê của Trường THPT Việt Đức (Hà Nội), vật lý là môn tự chọn cao thứ nhì sau ngoại ngữ. Cô Nguyễn Bội Quỳnh, Hiệu trưởng nhà trường, cho rằng so với năm trước, xu hướng lựa chọn môn thi tự chọn của HS có nhiều thay đổi đáng chú ý, phản ánh sự chuyển dịch tích cực trong định hướng học tập.
Theo đó, số lượng HS đăng ký các môn khoa học tự nhiên như tin học, vật lý, hóa học, sinh học tăng rõ rệt. Nếu như năm trước, môn tin học chỉ có 3 thí sinh (TS) đăng ký, thì năm nay, con số này đã tăng lên 11 em. Ngoại ngữ vẫn là môn được lựa chọn nhiều nhất, tiếp đến là vật lý, hóa học, trong khi môn sinh học cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.
"Đây là tín hiệu rất đáng mừng, cho thấy HS đã dần thay đổi tâm lý, mạnh dạn lựa chọn các môn khoa học tự nhiên", cô Nguyễn Bội Quỳnh nhận định và cho rằng kết quả này đến từ quá trình tư vấn, định hướng của nhà trường, giúp HS hiểu rõ năng lực bản thân và có sự lựa chọn phù hợp, đồng thời mở ra nhiều cơ hội trong lựa chọn ngành nghề sau này.
Tương tự, theo thầy Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên), HS trong kỳ thi tốt nghiệp THPT thường có xu hướng lựa chọn các môn khoa học xã hội nhiều hơn, chủ yếu do tâm lý ưu tiên sự an toàn, khi đề thi được đánh giá là dễ tiếp cận và phù hợp với mục tiêu xét tốt nghiệp. Tuy nhiên, năm nay ghi nhận đã có những thay đổi nhất định. Tỷ lệ HS lựa chọn các môn khoa học tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học có xu hướng tăng lên. Mặc dù chưa xảy ra sự đảo chiều hoàn toàn, nhưng khoảng cách chênh lệch giữa 2 nhóm môn đang dần được thu hẹp.
Theo ghi nhận ban đầu, tại TP.HCM, số TS chọn các môn khoa học tự nhiên cũng cao hơn các môn thuộc khối khoa học xã hội.
Dù chưa có con số thống kê cuối cùng nhưng GS Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD-ĐT), nhận định nhóm môn khoa học tự nhiên có xu hướng tăng ở một số môn như vật lý, hóa học; một số môn đặc thù như: tin học, kỹ thuật nông nghiệp cũng có sự gia tăng. Điều này phản ánh sự điều chỉnh dần dần từ năm 2025 đến năm 2026.
Thầy Nguyễn Văn Hoàng nhìn nhận xu hướng HS quay lại với các môn khoa học tự nhiên là tín hiệu tích cực, phản ánh một số thay đổi quan trọng. Thứ nhất, định hướng nghề nghiệp ngày càng rõ ràng hơn, đặc biệt các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, y dược… đang thu hút TS.
Thứ hai, trường ĐH mở rộng tổ hợp xét tuyển có các môn khoa học tự nhiên, tạo thêm cơ hội cho TS. Thứ ba, nhận thức của HS, phụ huynh đã thay đổi, không quá thiên về lựa chọn "dễ" mà quan tâm nhiều hơn đến năng lực, định hướng lâu dài.
Dù vậy, các nhà trường cũng cho rằng sự thay đổi nhận thức không phải một sớm một chiều mà cần sự tác động từ nhiều phía. Lãnh đạo Sở GD-ĐT Bắc Ninh cho biết thời gian tới, Sở yêu cầu các trường THPT sắp xếp, điều chỉnh các tổ hợp môn học từ lớp 10 bảo đảm cân bằng giữa các môn khoa học tự nhiên với các môn khoa học xã hội. Trong quá trình tư vấn, hướng dẫn chọn môn học, giáo viên phân tích từng yếu tố liên quan đến năng lực, sở thích, nhu cầu nghề nghiệp để các em nghiên cứu kỹ trước khi lựa chọn...
Về lâu dài, vị này cho hay phải thiết kế lại việc dạy các môn khoa học tự nhiên trong nhà trường theo hướng chương trình tinh gọn nhưng sâu hơn, chú trọng dạy thực hành, thí nghiệm. Công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông cần được đầu tư cả về nội dung, hình thức để HS hứng thú lựa chọn theo học những ngành thuộc tổ hợp khoa học tự nhiên. Giáo dục STEM cần được triển khai mạnh mẽ từ bậc phổ thông, chuyển từ dạy kiến thức sang phát triển năng lực, gắn với thực tiễn, phục vụ nghiên cứu khoa học để từng bước điều chỉnh lại cơ cấu lựa chọn môn học của HS, góp phần điều chỉnh sự mất cân đối giữa các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
GS Huỳnh Văn Chương cũng cho biết đang tham mưu lãnh đạo Bộ GD-ĐT, phối hợp với các trường để tiếp tục định hướng cho HS, ngay từ lớp 9 lên lớp 10. Việc lựa chọn môn học ở giai đoạn này rất quan trọng, bởi ảnh hưởng đến quá trình học trong 3 năm THPT, lựa chọn môn thi tốt nghiệp, cũng như gắn với xét tuyển ĐH. Đây là một quá trình logic, khép kín từ THCS đến THPT và đến tuyển sinh ĐH.
Theo GS Chương, con số hơn 1,2 triệu TS đăng ký dự thi năm nay cũng cho thấy quy mô nguồn nhân lực trong tương lai. Sau khoảng 3 - 4 năm tới, đây sẽ là lực lượng tham gia thị trường lao động, đóng góp cho sự phát triển KT-XH, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, kỳ thi không chỉ nhằm mục đích xét tốt nghiệp, mà trước hết là để đánh giá toàn diện chất lượng dạy và học 12 năm ở phổ thông.
Hôm qua (5.5) là ngày cuối cùng TS đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT. Chiều tối qua, hệ thống ghi nhận số TS miễn thi ngoại ngữ là 7.952 (chiếm 0,65%), giảm rất mạnh so với những năm gần đây (từ khoảng 47.000 - 67.000 em).
Tuy nhiên tỷ lệ TS đăng ký dự thi các môn ngoại ngữ giữ số lượng cao. Theo GS Huỳnh Văn Chương, việc này cũng đã được dự báo trước, các em mong muốn đăng ký thi trực tiếp tại kỳ thi để lấy điểm xét tuyển sinh ĐH.
Trước năm 2025, ngoại ngữ là môn thi bắt buộc cùng với ngữ văn và toán. Nhiều HS không có nhu cầu lấy điểm môn này để xét tuyển ĐH nên đăng ký miễn thi nhằm giảm áp lực. Theo quy chế thi từ năm 2025, ngoại ngữ trở thành môn lựa chọn, đồng thời TS đủ điều kiện miễn thi cũng không được quy đổi điểm xét tốt nghiệp THPT như trước. Ví dụ, giai đoạn trước, TS có chứng chỉ IELTS 4.0 trở lên đã được quy đổi thành điểm 10 môn ngoại ngữ.
Theo quy chế thi tốt nghiệp THPT, TS được miễn thi ngoại ngữ nếu có một trong 22 chứng chỉ. Trong đó, 12 chứng chỉ môn tiếng Anh, còn lại ở các môn tiếng Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật, Hàn. Yêu cầu tối thiểu mà TS cần đạt là tương đương bậc 3/6 (B1) trở lên.
Cùng với xu hướng giảm mạnh đăng ký miễn thi ngoại ngữ, số TS lựa chọn môn ngoại ngữ cũng ghi nhận ở mức cao với khoảng 350.000 TS.
Tin Gốc: Thanh Niên

Là xã đảo duy nhất của Gia Lai, cách đất liền khoảng 24 km, hành trình đi tìm con chữ của học sinh (HS) trên đảo Nhơn Châu đầy gian nan.
Hiện trên đảo, hệ thống giáo dục chỉ dừng lại ở cấp THCS nên sau khi hết lớp 9, nếu muốn tiếp tục học lên cao, HS buộc phải rời gia đình, vượt biển vào đất liền. Ở tuổi 15 còn chưa quen với những lo toan, các em đã phải sớm tự lập, sống xa vòng tay cha mẹ.
Quãng đường biển 24 km tuy không xa nhưng lại là rào cản lớn, nhất là về kinh tế vì HS vào đất liền còn phải lo cả tiền trọ, chi phí ăn uống, sinh hoạt…
Ông Nguyễn Văn Nhất (44 tuổi, thôn Tây, xã Nhơn Châu) cho biết trước đây, phần lớn người dân trên đảo chỉ học hết lớp 9 rồi dừng lại. Sự cách trở về địa lý khiến con đường học tập của nhiều người bị gián đoạn. Những HS đủ điều kiện vào đất liền tiếp tục học lại phải đối mặt với áp lực cơm áo, gạo tiền. Vì chi phí quá cao, không ít gia đình đành cho con nghỉ học để phụ giúp gia đình nghề biển.
Gia đình ông Nhất có 2 người con, trong đó một em đang học lớp 11 tại đất liền. Ông kể ngày con rời đảo, điều khiến ông trăn trở nhất không phải chuyện học hành mà là việc ăn ở, chi tiêu của con có đảm bảo hay không.
Vài năm qua, thấu hiểu những khó khăn, thiếu thốn nói trên, địa phương đã có nghị quyết hỗ trợ, tiếp sức để HS xã đảo Nhơn Châu có thể đi xa hơn nữa trên con đường học tập. Theo đó mỗi HS sẽ được hỗ trợ tiền ăn ở, sinh hoạt và đi lại khi vượt biển vào đất liền theo học các cấp cao hơn.
"Ngay từ khi lên cấp 3, cháu đã phải học cách tự lập. Có khi vài tháng, thậm chí hết một học kỳ cháu mới về nhà một lần. Lúc đầu gia đình rất lo, nhưng nhờ có chính sách hỗ trợ, mỗi tháng cháu được khoảng 1,1 triệu đồng nên cũng đỡ phần nào. Sắp tới mức hỗ trợ tăng lên, gia đình rất phấn khởi", ông Nguyễn Văn Nhất chia sẻ.
Em Võ Thuận Thảo, HS lớp 11A1 Trường THPT số 1 Trần Cao Vân, cho biết nhà có 4 chị em, bố vừa qua đời sau thời gian dài bệnh nặng. Mẹ em làm việc nhà và phụ nghề biển để nuôi các con.
Ngày rời đảo đi học lớp 10, Thảo mang theo không chỉ hành lý mà còn cả những lo toan. Em phải tự thích nghi với môi trường mới, tự cân đối chi tiêu và tự động viên mình tiếp tục cố gắng. "Khoản hỗ trợ giúp giảm bớt gánh nặng. Em sẽ cố gắng học tốt để thi vào ngành sư phạm, sau này trở về giúp mẹ và quê hương", Thảo tâm sự.
Những chính sách tiếp sức kịp thời đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Theo ông Dương Hiệp Hưng, Chủ tịch UBND xã Nhơn Châu, tỷ lệ HS tiếp tục học lên THPT tăng mạnh. Nếu năm học 2024 - 2025 chỉ có 11 em vào đất liền học tập, thì hiện nay toàn xã đã có 62 HS theo học, chưa kể nhiều em đang theo đuổi các ngành nghề như dược, hộ sinh, kỹ thuật chế biến, điện lạnh.
Tại kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh Gia Lai khóa XIII nhiệm kỳ 2026 - 2031 vừa qua, một nghị quyết hỗ trợ HS, sinh viên xã đảo Nhơn Châu đã được thông qua. Theo đó, từ năm học 2026 - 2027, mỗi HS THPT sẽ được hỗ trợ hơn 1,6 triệu đồng/tháng, gồm tiền ăn 936.000 đồng, tiền ở 360.000 đồng và chi phí học tập, đi lại 350.000 đồng. Với HS học nghề, tỉnh hỗ trợ 100% học phí cùng học bổng chính sách bằng 80% mức lương cơ sở. Tổng kinh phí dự kiến hơn 1,4 tỉ đồng mỗi năm.
Không chỉ từ ngân sách nhà nước, các trường học trên đất liền cũng chủ động hỗ trợ. Ông Lê Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT số 1 Trần Cao Vân, cho biết nhà trường thường xuyên vận động giáo viên và các nhà hảo tâm chung tay giúp đỡ, tạo điều kiện để HS xã đảo yên tâm học tập.
Tin Gốc: Thanh Niên

