Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH năm 2022 hướng dẫn: “Trong đánh giá kết quả học tập cuối học kỳ, cuối năm học, cuối cấp học, tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết để đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn”. Thế nhưng, văn mẫu vẫn tồn tại do nhiều nguyên nhân.
Giữa hướng dẫn và thực tế vẫn còn khoảng cách
Công văn 3715 khuyến khích việc xây dựng và sử dụng các đề mở trong kiểm tra, đánh giá để phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh. Xây dựng bộ công cụ đánh giá để hạn chế tính chủ quan, cảm tính của người chấm. Khi nhận xét, đánh giá các sản phẩm của học sinh, cần tôn trọng và khuyến khích cách nghĩ, cách cảm riêng của học sinh trên nguyên tắc không vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật.
Tuy nhiên, cách dạy, cách ra đề kiểm tra, đề thi hiện nay vẫn chưa thực sự hướng đến phát huy phẩm chất, năng lực của người học. Phần nhiều kiến thức trong đề kiểm tra, đề thi môn ngữ văn vẫn thiên về tái hiện kiến thức như chương trình cũ.
Các hướng dẫn chấm bài kiểm tra, bài thi vẫn nặng nề theo đáp án. Nghĩa là học sinh làm khác đáp án của thầy cô khó đạt được điểm cao. Những lệnh đề, như: “theo em”; “em hãy trình bày suy nghĩ của mình” nhưng đáp án chấm lại cứ bám sát “theo thầy”.
Công văn 3175 yêu cầu: “tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết” nhưng giáo viên ở nhiều trường học hiện nay vừa làm theo hướng dẫn nhưng vừa sợ. Mặc dù tuân thủ không lấy ngữ liệu trong sách giáo khoa để ra đề nhưng lại giới hạn một vài tác phẩm, một vài đề cụ thể trước khi kiểm tra thường xuyên, định kỳ để học sinh chuẩn bị trước.
Trước khi kiểm tra, một số thầy cô dạy chính khóa sẽ “ôn” khá kỹ cho học trò từ những tác phẩm văn học, hoặc các dạng đề đã được giới hạn. Ngoài ra, các em còn “chuẩn bị” bằng hình thức nhờ ChatGPT; Gemini; Roboki…hoặc thầy cô dạy thêm làm hộ. Vì thế, nhiều học sinh học thuộc bài mẫu, khi kiểm tra chỉ “tái hiện” lại những gì đã được ôn, hoặc đã chuẩn bị.
Vì thế, khi chấm bài định kỳ, mặc dù là nhà trường xếp học sinh ngồi theo thứ tự A, B, C, cắt phách bài kiểm tra nhưng đa phần các bài văn na ná như nhau. Gần với đáp án/hướng dẫn chấm của thầy cô.
Cho dù chương trình mới khuyến khích sáng tạo nhưng việc kiểm tra hiện nay vẫn nặng tính khuôn mẫu. Không ít đề kiểm tra, đề thi ngữ văn vẫn thiên về “đúng ý”, “đủ ý”. Điều này khiến học sinh tin rằng càng giống đáp án càng dễ đạt điểm cao. Khi đó, văn mẫu trở thành con đường ngắn nhất để lấy điểm.
Ngoài ra, hiện nay giáo viên chịu áp lực về tỷ lệ học lực của học sinh do nhà trường, tổ chuyên môn giao ở đầu năm học. Bên cạnh đó, kết quả thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp cũng là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại giáo viên.
Nếu không đạt chỉ tiêu, chất lượng giảng dạy không “bằng hoặc cao hơn năm trước” thì về cơ bản giáo viên không được xét thi đua các danh hiệu từ Chiến sĩ thi đua cơ sở trở lên; không đủ điều kiện để xét viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong khi, những danh hiệu, xếp loại viên chức hằng năm gắn liền với quyền lợi, danh dự của giáo viên.
Vì vậy, nhiều thầy cô buộc phải cho học sinh luyện theo “khung”, “dàn ý chuẩn”, thậm chí cung cấp bài mẫu để học sinh dễ đạt điểm hơn.
Chưa kể, một bộ phận học sinh ngày nay rất ít đọc sách, báo, vốn từ khá ít ỏi. Một số em thiếu vốn từ, thiếu trải nghiệm sống và khả năng diễn đạt nên thường chọn cách học thuộc bài mẫu để “an toàn”. Với những em học lực bình thường thì văn mẫu trở thành chiếc “phao cứu sinh” để hướng đến điểm trung bình (đạt).
Hiện nay, chỉ cần tìm kiếm vài giây là có hàng trăm bài văn mẫu trên các website học tập khiến việc sao chép trở nên quá dễ dàng. Bên cạnh đó, AI (trí tuệ nhân tạo) sử dụng khá phổ biên, chỉ cần câu lệnh là có bài văn hoàn chỉnh. Một khi nguồn cung lớn thì nhu cầu sử dụng cũng tăng theo.
Giải pháp để hạn chế văn mẫu
Chúng ta đều biết, một khi văn mẫu thành “văn chép” cũng đồng nghĩa học sinh mất khả năng suy nghĩ độc lập, bài viết thiếu cảm xúc thật và ngày càng ngại sáng tạo.
Muốn văn mẫu bớt “đất sống” thì việc đầu tiên hội đồng cốt cán môn ngữ văn ở các địa phương, các thầy cô giáo cần phải đổi mới cách ra đề và chấm điểm. Thầy cô cần tôn trọng sự khác biệt trong bài viết, khuyến khích trải nghiệm cá nhân, dạy học sinh cách viết từ suy nghĩ thật của mình thay vì học thuộc.
Bên cạnh đó, thầy cô dạy ngữ văn cần hướng cho học sinh trau dồi vốn từ, thường xuyên đọc sách, khuyến khích những em viết hay, viết có cảm xúc.
Đặc biệt, các tiêu chí xét thi đua, đánh giá viên chức cuối năm cũng cần được nghiên cứu thấu đáo, tránh tình trạng chất lượng giáo dục cuối năm phải “bằng hoặc cao hơn năm trước” mới được xét danh hiệu cá nhân, tập thể. Xét thi đua, đánh giá, xếp loại viên chức cần hướng đến tính minh bạch, sự nỗ lực của từng giáo viên chứ không nhất thiết phải ràng buộc chất lượng giáo dục.
Ranh giới giữa chất lượng thật và thành tích rất mỏng manh. Một bộ phận giáo viên làm thật thì không được xét thi đua, bị nhắc nhở, phê bình. Từ đó, có tình trạng giáo viên phải tìm cách để “nâng” chất lượng giảng dạy của mình.
Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên ĐH vừa được Bộ GD-ĐT ban hành thay thế cho thông tư năm 2020, đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với cả giảng viên trường ĐH ngoài công lập nhằm thống nhất về chuẩn nghề nghiệp trong toàn hệ thống giáo dục ĐH.
Theo đó, thông tư này áp dụng đối với giảng viên ĐH, bao gồm: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong cơ sở giáo dục ĐH công lập và ngoài công lập.
Trước đó, Thông tư số 40/2020/TT-BGDĐT chỉ áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục ĐH công lập.
Cụ thể, đối với giảng viên, có 6 nhiệm vụ gồm giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá đồ án, khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ ĐH; tham gia giảng dạy chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và hướng dẫn, đánh giá luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nếu có đủ tiêu chuẩn theo quy định.
Bên cạnh đó tham gia xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; chủ trì phát triển chương trình đào tạo đối với học phần do giảng viên phụ trách giảng dạy; chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình, sách phục vụ đào tạo
Tham gia các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; các hoạt động hợp tác quốc tế và bảo đảm chất lượng giáo dục ĐH; viết và tham gia báo cáo khoa học...
Đối với giảng viên chính cũng có các nhiệm vụ như giảng viên, tuy nhiên nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo ở mức độ cao hơn.
Đặc biệt, giảng viên cao cấp còn có nhiệm vụ phát hiện năng lực sở trường của người học để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tài năng; chủ trì xây dựng, phát triển chương trình đào tạo của chuyên ngành; chủ động cập nhật thường xuyên những thành tựu khoa học vào việc xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, tư vấn hỗ trợ đồng nghiệp trong phát triển chương trình đào tạo...
Về trình độ, giảng viên và giảng viên chính cần có bằng thạc sĩ trở lên phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy, có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên ĐH.
Trong khi đó, giảng viên cao cấp cần có bằng tiến sĩ phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên ĐH.
Về nghiên cứu khoa học, không yêu cầu cụ thể đối với giảng viên. Trong khi đó, giảng viên chính phải chủ trì thực hiện ít nhất một hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên; chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất một sách phục vụ đào tạo được hội đồng khoa học của trường thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ ĐH trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN.
Bên cạnh đó, phải là tác giả của ít nhất 3 bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN.
Còn đối với giảng viên cao cấp, phải chủ trì thực hiện ít nhất 2 hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc một hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.
Giảng viên cao cấp phải hướng dẫn ít nhất 2 học viên được cấp bằng thạc sĩ hoặc hướng dẫn chính, phụ hoặc độc lập ít nhất một nghiên cứu sinh được cấp bằng tiến sĩ.
Nếu giảng viên không tham gia hướng dẫn luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ thì số lượng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được nghiệm thu phải gấp 2 lần.
Ngoài ra, phải chủ trì biên soạn ít nhất một sách phục vụ đào tạo được hội đồng khoa học của trường thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ ĐH trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN;
Là tác giả của ít nhất 6 bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN.
Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.
Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, các em có thể tiếp cận hàng nghìn đề thi thử, video bài giảng, khóa học trực tuyến và cả lộ trình ôn tập sẵn. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại đặt ra câu hỏi lớn: đây là cơ hội mở hay một "ma trận" khiến người học dễ lạc lối?
Điểm tích cực rõ nhất là khả năng tiếp cận được mở rộng mạnh mẽ. Trước đây, tài liệu ôn thi chất lượng chủ yếu tập trung ở đô thị và các trung tâm lớn; nay, nhờ internet, học sinh (HS) ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể học cùng bài giảng, làm cùng đề thi như ở thành phố. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, ít nhất về cơ hội tiếp cận tri thức - một bước tiến đáng kể về công bằng giáo dục.
Bên cạnh đó, sự phong phú của học liệu cho phép cá nhân hóa việc học. HS có thể chọn nội dung phù hợp với trình độ và mục tiêu: người yếu học lại từ nền tảng, người khá giỏi tiếp cận chuyên đề nâng cao. Đây là điều lớp học truyền thống khó đáp ứng trọn vẹn.
Ngoài ra, tài liệu miễn phí mở "cửa vào" cho HS khó khăn, trong khi tài liệu có phí - nếu được xây dựng bài bản - mang lại giá trị gia tăng như hệ thống hóa kiến thức, phân tích lỗi sai, theo dõi tiến bộ. Sự song song này, về lý thuyết, tạo nên một hệ sinh thái học tập đa lựa chọn và linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại tạo ra nghịch lý: càng nhiều tài liệu, HS càng dễ mất phương hướng. Thứ nhất, nhiều em rơi vào tình trạng "sưu tầm" hơn là học. Một HS ôn thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM vừa qua, chia sẻ: "Em bị loạn giữa quá nhiều tài liệu, mỗi nơi một kiểu, không biết tin nguồn nào".
Thứ hai, không ít HS tải hàng chục bộ đề, đăng ký nhiều khóa học nhưng không theo được lộ trình nào đến cùng. Việc học dàn trải, thiếu trọng tâm khiến hiệu quả giảm, học liệu từ công cụ hỗ trợ trở thành "nhiễu thông tin".
Thứ ba, chất lượng tài liệu không đồng đều. Nhiều tài liệu miễn phí chưa được kiểm chứng, có thể sai lệch; trong khi tài liệu có phí không phải lúc nào cũng tương xứng. Thị trường thiếu chuẩn mực khiến "vàng thau lẫn lộn".
Thứ tư, nguy cơ lệch hướng học tập ngày càng rõ. Khi học liệu ôn thi phát triển mạnh, việc học dễ bị thu hẹp thành luyện dạng, học mẹo, thay vì hiểu bản chất. Điều này đi ngược xu hướng đánh giá năng lực.
Thứ năm, yếu tố thương mại hóa tạo áp lực mới. Quảng cáo bị thổi phồng, nhiều gia đình bỏ ra chi phí lớn với kỳ vọng "mua" lợi thế, từ đó hình thành một dạng bất bình đẳng mới.
Trong "ma trận" học liệu, HS không thể tiếp tục học theo kiểu bị dẫn dắt mà cần chuyển sang học có chiến lược.
Cần nhớ không phải càng nhiều tài liệu càng tốt; một nguồn phù hợp, được học sâu, làm đi làm lại và phân tích lỗi sai kỹ lưỡng thường hiệu quả hơn việc "lướt" qua nhiều nguồn. HS cần biết chọn lọc để đánh giá độ tin cậy, so sánh và tự kiểm chứng tài liệu - đây là năng lực thiết yếu trong thời đại số. Ngoài ra, phải giữ mục tiêu học để hiểu; khi nền tảng vững, kết quả thi sẽ là hệ quả tự nhiên.
Trong bối cảnh học liệu tràn ngập, giáo viên cần giữ vững vai trò định hướng. Không chỉ dạy kiến thức, thầy cô cần giúp HS xác định học gì, học từ đâu và học như thế nào; đồng thời giới thiệu nguồn tin cậy, cảnh báo "bẫy" học liệu.
Nhà trường nên xây dựng "ngân hàng học liệu" riêng, được kiểm duyệt để làm chuẩn tham chiếu. Cùng với đó là tổ chức ôn tập bài bản: thi thử, tư vấn học tập, hướng dẫn kỹ năng làm bài. Khi nhà trường làm tốt, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài sẽ giảm.
Ở cấp quản lý, cần một trục định hướng rõ ràng. Trước hết, Bộ GD-ĐT giao một đơn vị thuộc bộ chuyên trách xây dựng nền tảng học liệu quốc gia, cung cấp tài liệu chuẩn với chi phí thấp, đảm bảo công bằng tiếp cận.
Quan trọng hơn là đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực thực chất, hạn chế học tủ, học mẹo, học máy móc, không hiểu bản chất. Đồng thời, cần cơ chế kiểm soát chất lượng học liệu, đặc biệt với sản phẩm có phí, nhằm minh bạch thông tin, bảo vệ người học và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện tượng "bùng nổ học liệu ôn thi" không chỉ có ở VN. Tại Mỹ, các kỳ thi như SAT, ACT đã tạo ra cả một ngành luyện thi; ở Hàn Quốc với CSAT hay Trung Quốc với Gaokao cũng tương tự. Điểm chung là ở đâu thi cử cạnh tranh cao, ở đó học liệu phát triển mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng tham khảo là cách ứng xử. Các quốc gia nói trên không hạn chế học liệu mà tập trung định hướng. Tại Mỹ, College Board cung cấp tài liệu chính thức miễn phí, kết hợp với Khan Academy tạo một "chuẩn tham chiếu" rõ ràng. Nhờ đó, HS có điểm tựa đáng tin cậy, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn bên ngoài; đồng thời, đề thi được thiết kế theo hướng khó "luyện tủ", buộc HS phải hiểu và vận dụng. Khi cách thi thay đổi, thị trường học liệu cũng phải điều chỉnh theo.
Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, nhà nước còn can thiệp để kiểm soát thương mại hóa, giảm áp lực và bất bình đẳng. Dù còn tranh luận, điều này cho thấy: không thể buông lỏng hoàn toàn, mà cần sự dẫn dắt để học liệu phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể ngăn chặn sự bùng nổ học liệu, nhưng hoàn toàn có thể biến nó thành một hệ sinh thái lành mạnh. Vấn đề không phải là có bao nhiêu tài liệu, mà là có một "trục định hướng" đủ mạnh hay không.
Khi cơ quan quản lý giáo dục dẫn dắt, nhà trường tổ chức, giáo viên định hướng và HS chủ động, thì sự bùng nổ học liệu sẽ không còn là áp lực mà trở thành nguồn lực quý giá cho một nền giáo dục hiện đại.
Trước mắt, một số tỉnh, thành phố lớn có thể xây dựng hệ sinh thái ôn thi cho riêng địa phương mình, từ đó, sẽ phổ biến kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác.