LTS: Phía sau những chuồng thú ở Thảo Cầm Viên đông khách giữa lòng TP.HCM, có một thế giới khác ít khi được nhìn thấy.
Ở đó, ngày bắt đầu từ rất sớm, bằng tiếng dao chạm thớt, mùi cỏ tươi và những bước chân đi một vòng quen thuộc để nhìn từng con thú. Không chỉ là cho ăn hay dọn chuồng, người chăm phải học cách đọc những điều rất nhỏ – từ ánh mắt, dáng đi cho đến những dấu hiệu mà con vật để lại.
Tuyến bài “Hậu trường chăm thú ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn” ghi lại những công việc lặp lại mỗi ngày, những mối gắn bó không lời và những câu chuyện phía sau một nơi tưởng như đã quá quen thuộc với nhiều người.
6 giờ 30, phía sau những tán cây cổ thụ của Thảo Cầm Viên, một ngày đã bắt đầu. Không phải bằng tiếng bước chân du khách, mà là tiếng dao chạm thớt, tiếng kéo cỏ xào xạc và mùi thức ăn lan ra trong không khí ẩm của buổi sớm.
Trong khu chế biến, những bó rau và cỏ xanh còn đẫm sương được chất thành từng đống lớn, cao ngang người. Rau, củ, trái cây nằm thành từng rổ. Ở một góc khác, thịt vừa rã đông được cắt, chia nhỏ. Mùi cỏ tươi, mùi cám và mùi thịt cá trộn lẫn vào nhau – thứ mùi có thể khiến người lạ chùn bước, nhưng với những người làm việc ở đây, đã thành quen.
Ít ai hình dung, để vận hành khu vườn thú hơn 160 năm tuổi này, mỗi ngày cần chuẩn bị khoảng 3 tấn thức ăn cho gần 1.400 cá thể động vật.
Chị Phạm Hoàng Quỳnh Anh (27 tuổi, nhân viên khu chế biến) bắt đầu công việc từ 6 giờ 30. Nhưng với chị, buổi sáng thường đến sớm hơn.
Một số loại cỏ lá, rau được chuyển lên từ xí nghiệp ở Củ Chi, các loại củ, trái cây được mua từ các đơn vị uy tín, có kiểm định từ trước đó. Chị Quỳnh Anh và các thành viên khu chế biến sẽ kiểm tra chất lượng, loại bỏ phần hư, rồi mới rửa, cắt, phân loại.
“Chúng tôi làm giống như chuẩn bị đồ ăn ở nhà. Mình ăn sao thì mình làm cho các bạn thú ăn vậy. Rau chỉ lấy phần tươi xanh, củ quả rửa qua sau đó phần hư dập thì cắt bỏ”, chị nói, tay vẫn thoăn thoắt lặt rau.
Một buổi sáng ở đây được “cân” bằng những con số nặng trĩu: gần 3 tấn rau, củ, cỏ và khoảng 100 kg thịt, cá, chia cho 23 khu chuồng.
Trong đó, có những bó cỏ voi dài quá đầu người, nặng trĩu, được kéo xuống rồi chất thành từng lớp. Riêng khu voi mỗi ngày đã “ăn” khoảng 400 – 500 kg cỏ lá, chưa kể thêm chuối, bắp, cà rốt, bí đỏ, bánh mì; khu dê cừu khoảng 130 kg cỏ voi; khu hươu cao cổ thì có thêm lá keo…
Thức ăn được chia và chuyển về 23 khu chuồng
ẢNH: VŨ PHƯỢNG
Tất cả khối lượng đó ở Thảo Cầm Viên được xử lý bởi khoảng 5 người, trong vài giờ buổi sáng. “Khó nhất là vận chuyển. Cỏ nhiều, nặng, mà phải chia đi nhiều khu nên tốn thời gian nhất”, chị Quỳnh Anh nói.
Ở đây, không có chuyện “ước chừng”. Mỗi khẩu phần đều được cân đo theo định mức từ bộ phận dinh dưỡng và thú y, dựa trên loài, độ tuổi và tình trạng sức khỏe của từng con.
“Không thể cho đại được. Con nào ăn bao nhiêu đều được tính sẵn và theo dõi mỗi ngày”, cô gái 27 tuổi nói, đồng thời cho biết tổng chi phí thức ăn mỗi ngày khoảng hơn 40 triệu đồng. Dù gần đây, giá thực phẩm có biến động, khẩu phần của thú vẫn giữ nguyên.
Cách khu chế biến không xa, anh Phạm Thanh Bình – người phụ trách chăm sóc khu hươu cao cổ, ngựa vằn đã gắn bó 17 năm với công việc chăm sóc thú thì có mặt từ 6 giờ sáng.
Một ngày của anh không bắt đầu bằng việc cho thú ăn mà là đi một vòng tỉ mỉ nhìn từng ngóc ngách ở khu chuồng.
“Sáng nào tôi cũng phải đi một vòng trước. Xem chuồng trại, điện nước, rồi nhìn từng con coi có trầy xước hay dấu hiệu gì lạ không vì ban đêm tụi nó vận động nhiều, nên sáng ra phải kiểm tra lại hết, không thể chủ quan”, anh kể.
Ở khu hươu cao cổ và linh dương, nơi anh Bình phụ trách, mỗi ngày tiêu thụ hơn 200 kg thức ăn. Nhưng với người chăm, con số đó không quan trọng bằng việc… chúng có ăn hay không.
Hiện anh Bình đang phụ trách chăm sóc 8 con hươu cao cổ, trong đó, con đực trưởng thành có thể nặng từ 1 – 1,2 tấn, con cái từ 800 – 900 kg. Thời gian mang thai của hươu cao cổ là 15 tháng. Hươu cao cổ không chỉ là loài động vật trên cạn cao nhất hiện nay mà còn là loài có chiếc lưỡi dài trên 50 cm. Lưỡi hươu cao cổ có thể vươn ra xa, cuộn lại để tuốt thức ăn là lá cây.
Nhìn chăm chú những con hươu cao cổ đang uyển chuyển bước đi dưới gốc cây trong khu chuồng, anh Bình cho biết anh luôn phải để ý xem biểu hiện của con thú thế nào, có ăn hết lượng cỏ trong ngày không.
“Chỉ cần nó ăn ít đi là mình biết có vấn đề, phải báo liền để điều chỉnh”, anh nói. Mùa mưa, cỏ ướt là hươu cao cổ không thích ăn. Nắng quá thì lá khô, cũng không ăn. Tôi chọn lại loại lá, treo thức ăn lên cho phù hợp”, anh chia sẻ.
Làm việc lâu năm, mối quan hệ giữa người và thú dần thay đổi. Mỗi khi anh Bình lên tiếng, hươu cao cổ và ngựa vằn đều nhìn về phía anh. Có con lại gần, ngửi, quan sát khi thấy người quen. Cũng có những con chỉ ăn khi đúng người chăm.
“Làm riết thành quen. Đi đâu thấy cây gì nó thích là nhớ đem về cho nó ăn”, anh cười. Một câu nói nhẹ, nhưng chứa cả quãng thời gian gắn bó.
Ngựa vằn ở chung chuồng với hươu cao cổ khá hòa thuận, tuy nhiên thỉnh thoảng ngựa vằn cũng “len lén” cắn chân hàng xóm để chọc ghẹo
Khoảng 7 giờ 30, khi khách bắt đầu vào tham quan, nhiều người chỉ thấy những con thú đang thong thả ăn, nằm nghỉ hoặc vận động trong chuồng. Ít ai biết rằng, phía sau sự bình yên đó, buổi sáng đã đi được nửa chặng.
Hơn 3 tấn thức ăn đã được chuẩn bị. Hàng chục khu chuồng đã được phân chia. Mỗi con thú đã được kiểm tra, theo dõi.
Ở khu chế biến của Thảo Cầm Viên, những bó cỏ đã vơi đi một nửa. Không khí bớt ồn hơn lúc đầu giờ. Quỳnh Anh đứng lại vài giây, nhìn về phía khu chuồng, nơi những con thú đang cúi xuống ăn chậm rãi. “Thấy tụi nó ăn, mình vui”, chị nói.
Rồi lại quay vào trong, chuẩn bị những phần việc còn lại cho buổi chiều và cho ngày mai, khi một buổi sáng khác lại bắt đầu, cũng từ những bó cỏ đầu tiên.
Theo thông báo từ Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh TP.HCM, nơi đây bắt đầu dự án cải tạo, chỉnh trang bảo tàng từ ngày 7.5 nên bảo tàng sẽ tạm ngưng phục vụ khách tham quan cho đến tháng 9.
Bảo tàng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục phục vụ khách tham quan sau khi hoàn thành dự án. Thời gian mở cửa trở lại sẽ được bảo tàng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trước đó, ngày 29.4, UBND TP.HCM tổ chức lễ khởi công các dự án, công trình quy mô lớn, ý nghĩa quan trọng chào mừng kỷ niệm 51 năm đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2026). Dự án cải tạo, chỉnh trang Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh TP.HCM được xây dựng tại khu vực Bến Nhà Rồng với quy mô khoảng 1,4 ha, thuộc phạm vi khu vực trọng điểm khoảng 9 ha thuộc giai đoạn 1 dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội và cây xanh công cộng ven sông Sài Gòn.
Dự án dự kiến thực hiện theo hình thức đối tác công tư và hợp đồng BT không yêu cầu thanh toán, với 100% vốn do nhà đầu tư tự thu xếp, thực hiện từ tháng 4 - 8. Sau đó, hoàn thành nghiệm thu và đưa vào sử dụng vào tháng 9 năm nay.
Công trình này không chỉ đóng góp thực hiện quy hoạch khu vực Bến Nhà Rồng - Khánh Hội và mở rộng không gian di tích Bảo tàng Hồ Chí Minh, mà đây còn là khu vực có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, gắn liền với hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cùng với các công trình di sản quan trọng ven sông Sài Gòn, việc cải tạo, chỉnh trang Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP.HCM không chỉ góp phần bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích mà còn tạo diện mạo mới cho không gian cộng đồng ven sông Sài Gòn, kết nối hài hòa với Bến Nhà Rồng - Khánh Hội. Đó là không gian văn hóa, cảnh quan và sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu của TPHCM.
Tôi viết những dòng này khi gió chướng đang lùa qua những cánh rừng đước bạt ngàn tại dải đất cuối cùng của Tổ quốc. Ở Cà Mau, nơi phù sa vẫn miệt mài bồi đắp cho những giấc mơ xanh, tôi thường dõi mắt về phía bắc chân trời, nơi có một "đóa hoa lửa" không bao giờ tắt. Đó là TP.HCM - một "trái tim" kinh tế chưa bao giờ ngừng đập nhịp hối hả.
Nhưng đã bao giờ ta tự hỏi: Điều gì đã nuôi dưỡng nhịp đập bền bỉ ấy suốt nửa thế kỷ qua? Câu trả lời không nằm ở những con số tăng trưởng khô khan, mà nằm trong những "mạch máu" xuyên suốt lòng đất, trong những sợi cáp vắt ngang tầng không, và đặc biệt là trong ý chí sắt đá của những con người tại Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC).
Nửa thế kỷ qua, EVNHCMC không chỉ quản lý năng lượng mà còn đang cầm trịch cả một dòng chảy lịch sử, biến bóng tối của những ngày đầu tiếp quản năm 1976 thành một bình minh rực rỡ, viên mãn cho đến tận năm 2026 này.
Ngược dòng thời gian về những ngày đầu khi Sở Quản lý và phân phối điện vừa thành lập, giữa bộn bề thiếu thốn của thời hậu chiến, mỗi dòng điện thắp sáng lúc bấy giờ chính là một lời cam kết cho sự hồi sinh. Khi ấy, điện là năng lượng; điện là hy vọng, là niềm tin để những công xưởng cũ bắt đầu vận hành trở lại, để những bệnh viện có thêm ánh sáng cứu người. Triết lý "Điện đi trước một bước" đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt 50 năm qua.
Điện đi đến đâu, công xưởng mọc lên đến đó; điện thắp sáng đến đâu, văn minh rạng ngời đến đó. Từ những ngành sản xuất công nghiệp nặng làm đòn bẩy kinh tế cho đến những startup công nghệ tinh hoa của kỷ nguyên 4.0, dấu chân của ngành điện hiện hữu như một "người khổng lồ thầm lặng", âm thầm nâng đỡ khát vọng hóa rồng của cả một dân tộc.
Ấn tượng đặc trưng nhất làm nên thương hiệu của EVNHCMC chính là tinh thần "tự lực tự cường" hòa quyện cùng một tư duy duy mỹ sâu sắc. Đối với một đô thị lớn như TP.HCM, việc đảm bảo an ninh năng lượng đã khó, nhưng làm sao để dòng điện vừa an toàn, vừa làm đẹp cho thành phố lại càng khó hơn.
Dự án ngầm hóa lưới điện là một cuộc cách mạng về diện mạo đô thị, là tâm huyết của biết bao thế hệ lãnh đạo và nhân viên ngành điện nhằm trả lại khoảng trời xanh ngắt, thông thoáng cho những tâm hồn mơ mộng giữa lòng phố thị. Những "mạng nhện" dây cáp chằng chịt của quá khứ đã được thay thế bằng sự ngăn nắp, hiện đại của một đô thị văn minh. Đây chính là minh chứng cho việc ngành điện không chỉ quan tâm đến hiệu suất công việc mà còn trân trọng giá trị thẩm mỹ và chất lượng sống của cư dân thành phố.
Nhìn vào hành trình 50 năm, ta thấy một sự đa dạng kỳ diệu trong sức lan tỏa của ánh sáng. Điện hiện diện trong mọi ngõ ngách của đời sống, từ sự hào nhoáng của những tòa cao ốc trung tâm đến những nụ cười trong trẻo của trẻ thơ vùng ngoại ô đang học bài dưới ánh đèn trắng.
Điện có mặt trong những ca trực xuyên đêm đầy áp lực của đội ngũ y bác sĩ, giữ cho sự sống được duy trì liên tục. Đặc biệt, sự kết nối của EVNHCMC với cộng đồng còn mang đậm tính trắc ẩn thông qua sự đồng hành của những cơ quan ngôn luận uy tín. Sự phối hợp này đã biến những câu chuyện nghề nghiệp khô khan thành những dòng cảm xúc chạm đến trái tim người đọc. Những chương trình thiện nguyện, những chiến dịch tiết kiệm điện bảo vệ môi trường hay những suất học bổng cho học sinh nghèo... tất cả đã khẳng định rằng ngành điện không chỉ có dây và cáp khô lạnh, mà còn có cả một tâm hồn nồng hậu và một trái tim luôn hướng về đồng bào.
Trong mắt một thế hệ trẻ như chúng tôi, EVNHCMC chính là "nhà tài trợ" lớn nhất cho sự an tâm và thịnh vượng. Việc tiên phong làm chủ lưới điện thông minh (Smart Grid) và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào quản trị không chỉ là sự khẳng định vị thế dẫn đầu tại miền Nam, mà còn là một lời hứa về một tương lai xanh, bền vững.
Những "chiến binh áo cam" - những người lấy mồ hôi viết nên sấm sét, lấy sự tận tụy thắp sáng niềm tin - đã trở thành biểu tượng sống động nhất cho sự tử tế và tính chuyên nghiệp. Dù có như thế nào, họ vẫn lặng lẽ leo cao, luồn sâu để giữ cho mạch máu năng lượng không một phút giây ngừng trệ. Sự hy sinh ấy tuy lặng lẽ nhưng lại có sức công phá mạnh mẽ vào nhận thức của thế hệ trẻ về tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề.
Khép lại trang sử 50 năm (1976 - 2026), chúng ta không chỉ thấy một hành trình của những km dây điện được kéo dài, mà thấy một hành trình của đức tin được củng cố. Từ điểm cực Nam xa xôi của tổ quốc, tôi hiểu rằng ánh sáng của TP.HCM không bao giờ chỉ dừng lại ở biên giới địa lý.
Điện còn là ngọn hải đăng soi rọi cho khát vọng phát triển của mọi miền quê Việt Nam, từ rừng sâu đến hải đảo xa xôi. Xin được gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến EVNHCMC - những người gác đền ánh sáng, những sứ giả của kỷ nguyên mới. 50 năm đã qua là một huyền thoại được viết bằng công sức của bao thế hệ cha anh, và 50 năm tới chắc chắn sẽ là một thiên anh hùng ca mới.
Vạch xương cá kênh hóa dòng xe là vạch gì? Đây là câu hỏi đang được nhiều người quan tâm khi loại vạch này xuất hiện ngày càng nhiều trên đường phố TP.HCM. Không ít trường hợp băn khoăn: nếu vô tình lấn hoặc đè lên vạch có bị xem là vi phạm hay không, mức phạt ra sao và khi nào bắt buộc phải tuân thủ tuyệt đối?
Trên mạng xã hội, nhiều ý kiến cho rằng khi gặp vạch xương cá, người điều khiển phương tiện không được đè lên mà phải đi vòng tránh. Tên gọi "xương cá" thực chất chỉ là cách gọi hình tượng, dễ nhớ - xuất phát từ các vạch chéo song song trông giống bộ xương cá nhìn từ trên xuống. Tuy nhiên, chính cách gọi dân dã này lại khiến không ít người chưa hiểu rõ bản chất của loại vạch kẻ đường.
Theo Quy chuẩn 41:2024 của Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) - Quy chuẩn quốc gia về báo hiệu đường bộ, đây là vạch kênh hóa dòng xe, dùng để phân luồng, định hướng phương tiện di chuyển theo từng hướng nhất định.
Nhiều tài khoản mạng xã hội cũng bày tỏ thắc mắc. Tài khoản Thanh Trần hỏi: "Kênh hóa là gì, sao không dùng từ đơn giản hơn cho dễ hiểu?". Cùng quan điểm, tài khoản Hoàng Long cho rằng: "Nếu không cho đè thì làm dải cứng đi, vạch mà không cho đè là vô lý". Trong khi đó, Công Minh nhận xét một số vạch kẻ đường chưa hợp lý, dễ khiến người dân vô tình vi phạm khi tham gia giao thông.
Ở chiều ngược lại, một số ý kiến giải thích vạch xương cá kênh hóa dòng xe không nhằm mục đích giảm tốc độ, mà chủ yếu để tách dòng phương tiện tại các điểm giao cắt. Loại vạch này thường xuất hiện ở đoạn gần giao lộ, nơi có làn riêng cho xe rẽ trái hoặc tách dòng xe đi thẳng.
Thực tế tại TP.HCM, vạch xương cá từng được kẻ trên nhiều tuyến đường lớn như Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt, Điện Biên Phủ, Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên, vào giờ cao điểm, nhiều phương tiện chỉ đến sát giao lộ mới chuyển hướng, dẫn đến việc đè lên vạch, gây cản trở dòng xe đi thẳng.
Một số trường hợp do thiếu quan sát hoặc không tuân thủ quy định đã vi phạm khi đè lên vạch xương cá. Trước tình hình này, tại một số vị trí, Sở Xây dựng đã điều chỉnh lại cho phù hợp; những nơi phát huy hiệu quả trong phân luồng giao thông thì tiếp tục được duy trì.
Theo Quy chuẩn 41:2024, có những loại vạch kênh hóa dòng xe như sau:
Đầu tiên là vạch kênh hóa dòng xe dạng gạch chéo. Đây là loại vạch dùng để phân định phần mặt đường không dành cho xe chạy, nhằm tách và định hướng các dòng phương tiện. Khi gặp vạch này, người điều khiển phương tiện phải đi đúng hướng quy định, không được lấn hoặc cắt qua, trừ trường hợp khẩn cấp.
Về quy cách, vạch gồm các nét liền màu trắng kẻ song song, mỗi vạch rộng 45 cm, khoảng cách giữa hai mép vạch là 100 cm, được bố trí nghiêng 135o so với hướng chuyển động của xe. Phần ranh giới bên ngoài được xác định bằng vạch đơn liền nét màu trắng, rộng 20 cm.
Hai là vạch kênh hóa dòng xe dạng chữ V. Tương tự dạng gạch chéo, loại vạch này cũng dùng để giới hạn khu vực không cho xe đi vào và tổ chức lại hướng di chuyển của dòng phương tiện. Các phương tiện phải tuân thủ lộ trình đã được dẫn hướng, không được đè hoặc cắt qua vạch nếu không có tình huống đặc biệt.
Cấu tạo của vạch chữ V về cơ bản giống dạng gạch chéo, với các nét liền màu trắng kẻ song song, rộng 45 cm, cách nhau 100 cm và nghiêng 135o so với hướng xe chạy. Ranh giới khu vực cũng được bao bằng vạch đơn liền nét màu trắng, bề rộng 20 cm.
Tùy theo trường hợp mà có thể sử dụng 1 trong 2 loại vạch trên kết hợp với vạch đơn liền nét màu trắng, bề rộng vạch 20 cm để hướng xe đến cửa thu phí của cổng trạm thu phí.
Ngoài ra, có thể sử dụng vạch trên để kênh hóa dòng xe ở nút giao cùng mức.
Ba là, vạch kênh hóa dòng xe dạng vành khuyên: được kẻ ở trung tâm ngã tư giao nhau cùng mức để chỉ thị cho các phương tiện phải đi vòng qua phạm vi kẻ vạch theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Khi vạch này được kẻ, các phương tiện giao thông không được lấn vạch hoặc cắt qua vạch trừ những trường hợp khẩn cấp theo luật định.