Mặc dù cả hai lỗ có kích thước giống nhau, nhưng chức năng của chúng lại hoàn toàn khác biệt. Một lỗ là micro, trong khi còn lại là lỗ thông hơi. Tính năng này không chỉ xuất hiện trên dòng Galaxy S26 mà còn có mặt trên các dòng điện thoại Galaxy cao cấp khác của Samsung, như Galaxy S25.
Trong khi đó, một số mẫu điện thoại Galaxy cũ hơn lại có thiết kế khác biệt. Chẳng hạn như Galaxy S23, nơi mà lỗ micro thứ hai và lỗ thông hơi nằm ở phía dưới, trong khi các dòng Galaxy S22 và S21 cũng chỉ có hai lỗ dành riêng cho micro.
Được biết, Samsung đã thiết kế nhiều lỗ trên điện thoại Galaxy nhằm mục đích khử tiếng ồn và tăng khả năng chống nước. Micrô giúp giảm tiếng ồn, trong khi lỗ thông hơi cân bằng áp suất để bảo vệ lớp chống nước. Công nghệ này sử dụng một lớp màng tương tự như Gore-Tex để ngăn nước xâm nhập, đồng thời cũng hỗ trợ khả năng thoáng khí cho thiết bị.
Vấn đề trong thiết kế lỗ nhỏ mới từ Samsung chính là chúng có thể gây nhầm lẫn cho người dùng vì rất khó để phân biệt lỗ nào là micro, còn lỗ nào để thông hơi. Thông thường, lỗ bên phải là lỗ thông hơi, trong khi lỗ bên trái là micro. Nhưng để xác nhận chính xác, người dùng có thể tham khảo hướng dẫn sử dụng trực tuyến của Samsung cho từng kiểu điện thoại cụ thể.
Một chi tiết khác mà người dùng cũng nên biết chính là việc sử dụng ốp lưng điện thoại cũng cần được chú ý, vì một chiếc ốp lưng không vừa vặn có thể che phủ các lỗ này, dẫn đến việc micro hoạt động kém hiệu quả và làm giảm chất lượng cuộc gọi.
Ngoài Samsung, một số hãng điện thoại khác cũng trang bị nhiều lỗ xung quanh thân máy, thậm chí bao gồm cả lỗ micro thứ ba ở phía dưới khung máy, như trường hợp của Pixel 9 Pro. Thiết kế này của Pixel 9 Pro giúp cải thiện khả năng khử nhiễu, trong đó lỗ micro dưới tập trung thu giọng nói của người dùng, trong khi các lỗ khác thu âm thanh xung quanh để nâng cao độ rõ nét của âm thanh trong các cuộc gọi.
Tin Gốc: Thanh Niên
Khoa Học Công Nghệ
Tranh luận về ảnh chụp Trái Đất cách đây 54 năm 'sáng đẹp' hơn 2026

Bức ảnh toàn cảnh Trái Đất, với đại dương xanh, đất liền màu nâu và nhiều khối mây trắng, cùng hiện tượng cực quang màu xanh lục ở hai cực hành tinh được chỉ huy Reid Wiseman chụp gửi về ngày 3/4. Tuy nhiên, nhiều người nhanh chóng nhận ra ảnh mới ít rực rỡ hơn so với ảnh chụp cách đây 54 năm của tàu Apollo 17, dù trang bị các công nghệ ghi hình tối tân hơn.
"Tôi không biết là do chất lượng hình ảnh hay do không khí, nhưng giờ Trái Đất trông nó thật ảm đạm", một tài khoản viết trên X.
"Hình ảnh Trái Đất cũ trông sắc nét hơn, trong khi ảnh mới này trông mờ nhạt. Chất lượng máy ảnh hay do biến đổi khí hậu?", một người khác đặt câu hỏi.
"Con người đang làm sai điều gì vậy? Trái Đất trông thật nhợt nhạt. Chúng ta đang đánh mất nó", một tài khoản lo ngại.
Tuy nhiên, nhiều người nhanh chóng đưa ra câu trả lời cho sự khác biệt của hai bức hình. "Đây là ảnh chụp mặt tối của Trái Đất được ánh trăng chiếu sáng và đã được làm sáng lên. Đó là lý do tại sao cực quang cũng xuất hiện trong đó", một người giải thích, chỉ ra cực quang ở phía Bắc bán cầu và Nam bán cầu.
"Trái Đất không thay đổi, cách chúng ta chụp ảnh nó mới thay đổi. Sự khác biệt về màu sắc giữa bức ảnh 'Quả cầu xanh' năm 1972 và hình ảnh Trái Đất hiện đại là do công nghệ", một người tự nhận là chuyên gia về thiên văn học giải thích. "Tàu Apollo 17 sử dụng máy ảnh phim, điều này giúp tăng cường màu sắc và độ tương phản một cách tự nhiên. Ngày nay, các thiết bị sử dụng cảm biến kỹ thuật số, hiệu chỉnh chi tiết về khí quyển và hiệu chuẩn màu sắc nên sẽ khác".
"Hầu hết hình ảnh hiện đại đều là nhiều lớp ảnh ghép lại, không phải ảnh chụp đơn. Đó là lý do tại sao Trái Đất ngày nay trông có vẻ kém 'sống động' hơn", một người khác nói thêm.
Trước đó, chia sẻ với National Geographic, David Melendrez, người phụ trách tích hợp hình ảnh từ tàu vũ trụ Orion về Trái Đất của NASA, cho biết phi hành đoàn Artemis II đang sử dụng máy ảnh DSLR Nikon D5, iPhone 17 Pro Max cùng bốn chiếc GoPro Hero 11 để quay phim.
Artemis II đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA). Họ có 10 ngày bay quanh Mặt Trăng, thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu khoa học, thử nghiệm khả năng điều khiển tàu vũ trụ, kiểm tra y tế, huấn luyện sinh tồn và nhiều công việc khác.
Bảo Lâm (theo Ladbible, Space)
Nhà vệ sinh 23 triệu USD trên Artemis II
Toàn cảnh Trái Đất nhìn từ Artemis II
Phi hành đoàn Artemis II vượt mốc 'nửa đường tới Mặt Trăng'
Điểm đặc biệt của bốn phi hành gia Artemis II
Loạt cột mốc 'lần đầu' của Artemis II
Tin Gốc: https://vnexpress.net/tranh-luan-ve-anh-chup-trai-dat-cach-day-54-nam-sang-dep-hon-2026-5058675.html

Với khóa thông minh, điện thoại, mã số hoặc dấu vân tay có thể thay thế cho chìa khóa truyền thống. Tuy nhiên, trước khi quyết định thay thế khóa cơ cũ bằng khóa thông minh, người dùng cần xem xét một số yếu tố quan trọng.
Đầu tiên, vấn đề an toàn vật lý là điều cần lưu ý. Khóa thông minh thường được kết nối với internet và có thể được làm từ các thành phần kém an toàn hơn so với khóa cơ truyền thống. Một số sản phẩm có thể có cơ chế dễ bị tấn công, cho phép kẻ xấu vượt qua các tính năng bảo mật như bàn phím hoặc máy quét vân tay, từ đó mở khóa bằng các phương pháp vật lý thông thường.
Bên cạnh đó, bảo mật thông tin cũng là một yếu tố quan trọng. Mặc dù nhiều khóa thông minh được trang bị mã hóa 128 bit để giảm thiểu nguy cơ rò rỉ dữ liệu, người dùng vẫn cần sử dụng tên đăng nhập và mật khẩu để thiết lập khóa. Điều đó có nghĩa độ an toàn của khóa phụ thuộc vào độ mạnh của mật khẩu. Người dùng nên áp dụng các chiến lược đặt mật khẩu mạnh để bảo vệ thông tin cá nhân.
Ngoài ra, các cuộc tấn công trung gian (man-in-the-middle) có thể xảy ra, cho phép kẻ xấu chặn dữ liệu giữa điện thoại và khóa. Do đó, việc tuân thủ các mẹo bảo mật mạng là cần thiết để bảo vệ thông tin.
Một yếu tố khác cần xem xét với khóa thông minh chính là nguồn điện. Khóa thông minh cần nguồn điện để hoạt động, do đó chúng có thể yêu cầu lắp đặt chuyên nghiệp hoặc thường xuyên thay pin. Một số sản phẩm có thể có cảnh báo khi pin sắp hết, nhưng người dùng vẫn cần chú ý để tránh bị khóa ngoài.
Cuối cùng, việc cập nhật phần mềm đối với khóa thông minh là rất quan trọng. Nếu khóa không nhận được bản cập nhật firmware, nó có thể trở thành mục tiêu cho các cuộc tấn công, vì vậy người dùng cần duy trì bảo trì và theo dõi tình trạng của khóa thông minh.
Xét cho cùng, mặc dù khóa thông minh mang lại nhiều tiện ích, người dùng vẫn cần cân nhắc kỹ lưỡng về an toàn, bảo mật và khả năng bảo trì trước khi quyết định sử dụng. Nếu việc theo dõi và bảo trì khóa thông minh có vẻ quá phức tạp, đây có thể không phải là lựa chọn phù hợp để người dùng sử dụng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Khoa Học Công Nghệ
Cấm trẻ dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội: Bài toán của Australia

Thiếu niên 15 tuổi thách thức lệnh cấm mạng xã hội
Kể từ cuối năm 2025, Australia trở thành quốc gia tiên phong khi cấm người dưới 16 tuổi sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến.
“Các hạn chế nhằm bảo vệ thanh thiếu niên khỏi áp lực và rủi ro, những vấn đề có thể xảy ra khi họ đăng nhập mạng xã hội”, bà Julie Inman Grant, Ủy viên An toàn điện tử của Australia chia sẻ.
Dẫu vậy, trường hợp của Noah Jones, thiếu niên 15 tuổi tại Australia gây chú ý khi khẳng định trải nghiệm trực tiếp của mình “gần như không thay đổi”.
“Tôi chỉ gặp một chút bất tiện trên Instagram nhưng sau đó đã vượt qua được”, Noah nói.
Cậu cho biết bản thân chưa bị xóa tài khoản khỏi bất kỳ nền tảng mạng xã hội nào kể từ khi chính sách có hiệu lực vào cuối năm ngoái.
Đáng chú ý, Noah là một trong hai thiếu niên tham gia vào vụ kiện lên Tòa án Tối cao vào cuối năm nay nhằm phản đối lệnh cấm.
Thiếu niên này thừa nhận mạng xã hội có những mặt trái như bắt nạt trực tuyến hay nội dung nhạy cảm. Nhưng cậu khẳng định rằng với thế hệ trẻ hiện nay, mạng xã hội là nguồn tiếp nhận thông tin chính thay vì qua truyền hình, báo chí.
Mẹ của Noah nêu quan điểm: “Việc nuôi dạy con cái sử dụng không gian mạng như thế nào là quyền của tôi”. Thay vì cấm đoán con, bà chọn cách đặt ra những nguyên tắc nghiêm ngặt trong việc sử dụng thiết bị điện tử, chẳng hạn như cất điện thoại vào ban đêm hay kiểm soát mật khẩu thiết bị.
Không chỉ trường hợp của Noah, báo cáo của cơ quan An toàn Điện tử Australia vào tháng 3/2026 cho thấy dù hơn 5 triệu tài khoản đã bị vô hiệu hóa sau khi lệnh cấm có hiệu lực, hơn hai phần ba thanh thiếu niên dưới 16 tuổi vẫn tiếp tục sử dụng các nền tảng mạng xã hội như TikTok, Instagram hay Snapchat bằng nhiều cách lách xác minh độ tuổi.
Muôn kiểu lách luật
Ghi nhận của Đài CNN chỉ ra rằng chỉ chưa đầy 24 giờ sau khi lệnh cấm tại Australia có hiệu lực vào tháng 12 năm ngoái, nhiều thiếu niên đã quay trở lại TikTok, Instagram hay Snapchat bằng tài khoản mới.
Một số dùng ảnh AI giả gương mặt người lớn để vượt hệ thống xác minh tuổi. Thậm chí, một số khác dùng chính gương mặt của bố mẹ hoặc người lớn tuổi hơn để vượt qua bộ lọc kiểm tra. Trên Reddit, một số người dùng còn gợi ý mua mặt nạ lưới in 3D để đánh lừa công cụ nhận diện khuôn mặt.
Vào đầu tháng 5 vừa qua, nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại học Melbourne và Lund mang đến những kết quả bất ngờ.
Nhóm tác giả đã tiến hành phỏng vấn 15 trẻ em từ 12-16 tuổi sau khi lệnh cấm có hiệu lực và phát hiện phần lớn các em đều cho rằng quy định thiếu hiệu quả, đồng thời dễ dàng tìm ra nhiều cách để vượt qua hệ thống xác minh độ tuổi. Cụ thể, nhiều em chia sẻ rằng thường khai báo ngày sinh giả hoặc mượn tài khoản, giấy tờ của người lớn tuổi hơn như bố mẹ, anh chị.
Khi bị khóa tài khoản, các em lại tiếp tục tạo tài khoản mới. Tinh vi hơn, để đánh lừa AI nhận diện khuôn mặt, một số trẻ nhờ người lớn quét khuôn mặt hộ, dùng video khuôn mặt trên YouTube để xác minh hoặc trang điểm, dùng ánh sáng tối, đeo râu giả để trông bản thân già hơn.
Từ thực tế này, khái niệm “sneaking” hình thành. Đây là thuật ngữ được nhóm nghiên cứu sử dụng để mô tả việc trẻ em âm thầm thử nghiệm, khai thác lỗ hổng và tìm cách lách các cơ chế kiểm soát kỹ thuật số.
Tương tự, một nghiên cứu khác của các nhà khoa học tại các trường đại học khác nhau vừa công bố hồi cuối tháng 4 đã khảo sát hơn 700 thiếu niên Australia sau 4 tháng nước này áp dụng lệnh cấm mạng xã hội.
Kết quả chỉ ra rằng phần lớn trẻ em vẫn dễ dàng lách luật bằng cách dùng ngày sinh giả, tài khoản của người lớn tuổi hơn hoặc dùng VPN để tiếp tục truy cập. Đặc biệt, có tới 75% người tham gia khảo sát khẳng định việc vượt qua lệnh cấm là dễ.
Ngoài những cách thức trên, nhiều thiếu niên bắt đầu chuyển sang các ứng dụng khác như Lemon8, Yope, Coverstar hay WhatsApp. Trong đó, Lemon8, một ứng dụng thuộc Tập đoàn công nghệ ByteDance (Trung Quốc) từng có thời điểm vươn lên dẫn đầu về lượt tải xuống trên App Store tại Australia.
Một số ý kiến cho rằng các dịch vụ nhắn tin, nền tảng trò chơi, ứng dụng không phổ biến sẽ chứng kiến mức tăng trưởng đột biến khi trẻ em bị đẩy khỏi các nền tảng thuộc danh sách cấm.
Mặc dù vậy, bà Ellese Ferdinands, giảng viên Trường Đại học Sydney nhận định: “Sự trỗi dậy của các ứng dụng ít phổ biến đã phản ánh những lỗ hổng trong lệnh cấm của Chính phủ Australia”.
Vị giảng viên này đặt vấn đề rằng những nền tảng như TikTok hay Instagram đang chịu giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý, trong khi các nền tảng kém phổ biến hơn lại không có sự giám sát tương tự.
Trên thực tế, nguyên nhân khiến trẻ em tự tin lách luật bởi đây là đối tượng hoàn toàn không cảm thấy rủi ro cá nhân vì luật chủ yếu tập trung xử phạt các nền tảng nhiều hơn. Thêm vào đó, nỗi sợ bị bỏ lỡ các tương tác xã hội đã tạo động lực thúc đẩy các em tìm cách để lách luật nhằm theo kịp bạn bè.
Cấm thôi liệu đã đủ để bảo vệ trẻ em?
Chia sẻ trên tờ The Guardian, Samantha Floreani, một nhà hoạt động về quyền kỹ thuật số tại Australia cho hay: “Nếu các nhà hoạch định chính sách thực sự muốn giảm thiểu tác hại đối với trẻ em trên môi trường mạng, họ nên tập trung kiểm soát những mô hình vận hành dựa trên quảng cáo hành vi, thu thập dữ liệu người dùng và thuật toán đề xuất nội dung”.
Cùng quan điểm với Samantha, OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) cho rằng các biện pháp kiểm soát truy cập mạng xã hội đối với trẻ em không thể giải quyết triệt để các rủi ro trên môi trường số nếu chỉ dừng ở việc giới hạn độ tuổi hay cấm truy cập.
Theo tổ chức này, điều quan trọng không kém là xây dựng các nền tảng an toàn ngay từ khâu thiết kế, kiểm soát cách vận hành của thuật toán, cơ chế đề xuất nội dung và tính năng tương tác.
Ở một góc nhìn khác đến từ nghiên cứu vào đầu năm 2026 của nhóm tác giả từ Đại học Manchester, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận mối quan hệ giữa thanh thiếu niên và mạng xã hội được định hình bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Trong đó, nhóm nghiên cứu đề xuất những chính sách trao thêm quyền kiểm soát cho phụ huynh thông qua công cụ giám sát hoặc kiểm soát nội dung sẽ phù hợp với thực tế hơn bởi cha mẹ thường là những người hiểu rõ nhất mức độ trưởng thành, nhu cầu và khả năng tự quản lý của con mình.
Một số chuyên gia khác cũng đề xuất thay vì cấm đoán hoàn toàn, các quốc gia nên tập trung phát triển năng lực số, tăng minh bạch thuật toán, yêu cầu nền tảng thiết kế an toàn hơn cho trẻ và áp dụng các giới hạn phù hợp theo từng mức tuổi.
Tính đến tháng 4/2026, đã có tới 25 quốc gia trên thế giới đưa ra các đề xuất hoặc chính sách liên quan đến việc hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội. Tuy nhiên, chỉ ba quốc gia gồm Australia, Brazil và Indonesia chính thức ban hành luật, trong khi phần lớn vẫn đang ở giai đoạn tham vấn hoặc xem xét chính sách.
Đáng chú ý nhất là trường hợp của Chính phủ Anh khi quốc gia này triển khai các thử nghiệm thực tế với thanh thiếu niên nhằm đánh giá tác động của việc hạn chế mạng xã hội thay vì lập tức áp dụng lệnh cấm trên diện rộng.
Các thử nghiệm bao gồm nhiều kịch bản như cấm hoàn toàn mạng xã hội, giới hạn thời gian sử dụng mỗi ngày hoặc áp dụng “giới nghiêm kỹ thuật số” vào ban đêm để theo dõi ảnh hưởng tới giấc ngủ, sức khỏe tinh thần và hành vi của trẻ.
Tin Gốc: Dân Trí

