Đây là bước đi tiếp theo trong chiến lược mở rộng của Green SM tại Philippines thông qua mô hình hợp tác với các doanh nghiệp vận tải địa phương, kết hợp nền tảng công nghệ và tiêu chuẩn vận hành của Green SM với năng lực triển khai tại từng thị trường.
Các thỏa thuận có sự tham gia của 75 doanh nghiệp vận tải, hợp tác xã hoạt động tại nhiều tỉnh, thành phố Philippines như Metro Manila, Cebu, Davao, Iloilo, Cagayan de Oro, Cavite, Pampanga, Bacolod, Batangas, Baguio và Ozamiz. Đây đều là những khu vực người dân có nhu cầu di chuyển cao và ngày càng quan tâm tới các giải pháp giao thông xanh.
Theo kế hoạch hợp tác, các bên dự kiến triển khai đội xe thông qua cả hình thức đầu tư trực tiếp và thuê dài hạn 18.497 xe, bao gồm các mẫu VinFast VF 5/Herio Green và Limo Green được tối ưu cho vận tải hành khách công nghệ.
Lễ ký kết đánh dấu bước tiến mới nhất của Green SM trong quá trình triển khai nền tảng di chuyển thuần điện với tiêu chuẩn vận hành đồng bộ tại các đô thị trọng điểm trên khắp khu vực Đông Nam Á.
Trong lộ trình mở rộng này, Philippines đóng vai trò là một trong những thị trường then chốt. Tại đây, Green SM mở rộng theo mô hình hợp tác, kết hợp giữa hệ thống tiêu chuẩn vận hành tập trung và năng lực triển khai tại địa phương. Sau giai đoạn đầu với 2.500 xe hợp tác cùng Xentro Group, giai đoạn tiếp theo được kỳ vọng sẽ mở rộng đáng kể quy mô đội xe cũng như phạm vi hoạt động.
Theo mô hình này, Green SM cung cấp phương tiện điện, nền tảng công nghệ và hệ thống tiêu chuẩn dịch vụ, trong khi đối tác địa phương đảm nhiệm vận hành đội xe và quản lý tài xế. Cách tiếp cận này cho phép đảm bảo chất lượng dịch vụ, tiêu chuẩn an toàn và trải nghiệm người dùng đồng bộ, đồng thời linh hoạt thích ứng với điều kiện từng thị trường. Ngoài ra, mô hình cũng giúp tối ưu khả năng nhân rộng thông qua việc tận dụng mạng lưới vận tải hiện hữu, qua đó tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sang phương tiện điện diễn ra một cách có lộ trình và hiệu quả.
Ông Gio Colmenares, Tổng giám đốc Asia Prime Force Corporation, chia sẻ: “Thỏa thuận hợp tác này phản ánh một xu hướng chuyển dịch rộng lớn của ngành vận tải, nơi quy mô, hiệu quả và tính bền vững ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau. Nền tảng của Green SM mang lại một cách tiếp cận có cấu trúc trong việc triển khai xe điện, kết hợp giữa sự rõ ràng trong vận hành và tiềm năng tăng trưởng dài hạn. Chúng tôi không chỉ nhìn nhận đây là cơ hội tại Philippines, mà còn là một phần của sự chuyển đổi rộng hơn của hệ thống giao thông đô thị trong khu vực Đông Nam Á”.
Bà Dave Baldoza, Giám đốc Điều hành Green EV Transport Corp và Green Fast Corporation, cho biết: “Đối với các hợp tác xã vận tải, chuyển đổi sang phương tiện điện không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà còn là bài toán phát triển bền vững lâu dài cho các thành viên. Mô hình của Green SM giúp chúng tôi hiện đại hóa đội xe trong khi vẫn đảm bảo sự ổn định vận hành và nguồn khách ổn định. Đây là cơ hội rõ ràng để các hợp tác xã tham gia vào giai đoạn phát triển tiếp theo của giao thông đô thị”.
Bà Rachel Ann Villanueva, Chủ tịch Green Will Corporation, nhận định: “Việc mở rộng di chuyển điện đòi hỏi sự phối hợp đầu tư giữa phương tiện, hạ tầng và vận hành. Những mô hình hợp tác như thế này cho thấy cách các thành phần trong hệ sinh thái có thể cùng nhau thúc đẩy triển khai trên quy mô lớn. Chúng tôi nhận thấy tiềm năng rõ rệt để mô hình này thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi không chỉ tại Philippines, mà còn tại các đô thị đang phát triển trong khu vực.”
Ông Nguyễn Văn Thanh, Tổng Giám đốc GSM Toàn cầu, chia sẻ: “Điện hóa giao thông không còn là xu hướng trong tương lai, mà đang diễn ra mạnh mẽ tại nhiều đô thị lớn trên thế giới. Đông Nam Á là một trong những khu vực năng động nhất cho quá trình chuyển đổi này. Để triển khai trên quy mô lớn, không chỉ cần công nghệ, mà cần những mô hình có thể vận hành đồng bộ giữa các thị trường, đồng thời linh hoạt theo điều kiện địa phương. Thông qua nền tảng và mô hình hợp tác, Green SM hướng tới thúc đẩy di chuyển điện một cách thực tiễn và bền vững, đồng thời duy trì tiêu chuẩn dịch vụ nhất quán trên toàn hệ thống”.
Chiều 23/4, Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel (Viettel Global - mã: VGI) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Theo tờ trình được thông qua, năm 2026, Viettel Global lên kế hoạch tổng doanh thu hợp nhất 52.561 tỷ đồng, tăng trưởng 7% so với thực hiện 2025, tương đương tăng 3.450 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 13.275 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ, giảm 1.901 tỷ đồng.
Chia sẻ tại đại hội, bà Nguyễn Thị Hoa - Tổng Giám đốcViettel Global cho biết, mục tiêu lợi nhuận năm 2026 có sự sụt giảm là do biến động tỉ giá.
Trong quý I/2026, thế giới có nhiều biến động lớn, đặc biệt là tình hình chiến sự tại Trung Đông đã ảnh hưởng đến công tác vận chuyển, giá cả hàng hóa, xăng dầu và vật tư thiết bị.
Tính đến hết quý I, Viettel Global vẫn hoàn thành vượt các chỉ tiêu kế hoạch mà Tập đoàn Viettel đề ra. Bà Hoa cho biết, con số chi tiết sẽ được công bố theo đúng quy định về thông tin tài chính trong thời gian tới.
Nói về việc giảm thiểu rủi ro về tỉ giá, bà Hoa nói rằng: dân gian có câu "người tính không bằng trời tính", còn ở đây là "trời tính không bằng tỉ giá tính".
"Rủi ro tỉ giá luôn là bài toán lớn. Chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp như làm việc chặt chẽ với các ngân hàng để có thể mua USD với tỉ giá tốt nhất.
Bên cạnh đó là đa dạng hoá đồng tiền, một số giao dịch công ty sử dụng Nhân dân tệ hoặc Bath Thái để giảm rủi ro về USD cũng như chủ động kế hoạch mua bán ngoại tệ theo từng thời điểm", bà Hoa chia sẻ.
Ông Nguyễn Cao Lợi - Phó Tổng Giám đốc Viettel Global chia sẻ thêm: Chúng tôi coi tỉ giá là một loại chi phí kinh doanh để phân bổ vào giá thành, tập trung vào phân khúc khách hàng cao cấp - những người ưu tiên chất lượng hơn giá cả. Nhờ vậy, lợi nhuận thực tế và dòng tiền mang về vẫn rất tốt.
Cũng trong phần thảo luận tại đại hội, một trong những vấn đề được cổ đông quan tâm nhất là lợi thế cạnh tranh của Viettel Global so với đối thủ. Trả lời thắc mắc này, bà Hoa đã thẳng thắn đúc kết sự thành công của tập đoàn dựa trên 3 yếu tố cốt lõi.
Thứ nhất là sự đầu tư hạ tầng mạnh mẽ. Ban lãnh đạo xác định đặc thù của ngành viễn thông là bắt buộc phải đầu tư hạ tầng đi trước. Do đó, mỗi năm công ty đều rót một khoản tiền đầu tư rất lớn cho các thị trường.
Thứ hai là tốc độ triển khai nhanh và tối ưu. Năng lực này xuất phát từ yếu tố con người. "Sự chịu khó, chịu khổ của người Viettel ở khắp mọi nơi. Mỗi khi xem lại những thước phim về sự hy sinh của đồng đội tại các thị trường xa xôi, tôi vẫn không cầm được nước mắt", bà Hoa nói.
Thứ ba là sản phẩm và giá thành. Tổng Giám đốc Nguyễn Thị Hoa cho biết, tiêu chí của Viettel là phải mang lại những dịch vụ có chất lượng tốt nhất cho khách hàng, đi kèm với một mức giá hợp lý.
Tại buổi gặp gỡ diễn ra vào ngày 18.4, nhiều DN, ngành hàng đề nghị tỉnh xem xét hỗ trợ cơ chế, chính sách phát triển sản xuất, hỗ trợ tiếp cận đất đai, vốn sản xuất, phát triển thương hiệu... Theo ông Phạm Hoàng Lam, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lam Rice Group Inc, DN sản xuất và chế biến gạo xuất khẩu chưa làm chủ thị trường tiêu thụ, chi phí logistics còn cao, liên kết chuỗi giá trị chưa đồng bộ; khó khăn về tài chính thương mại và đầu tư chiều sâu là lý do khiến DN lúa gạo gặp khó khăn.
Do đó, ông Lam đề nghị tỉnh định hướng phát triển thương hiệu gạo, hỗ trợ DN phát triển thị trường xuất khẩu; tổ chức và phát triển chuỗi giá trị lúa gạo; nghiên cứu xây dựng cơ chế giao dịch lúa gạo; hoàn thiện chính sách tiền tệ và thanh toán biên mậu Việt Nam - Campuchia.
Trả lời ý kiến của DN về việc thị trường tiêu thụ nông sản, lúa gạo, ông Hồ Văn Mừng cho biết, tỉnh An Giang đang đề xuất giảm diện tích tích sản xuất lúa để tăng cường phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ. Theo ông Mừng, hiện nay, đặc khu Phú Quốc cần lượng rau củ quả rất lớn để phục vụ nhu cầu khách du lịch, đó là cơ hội để DN và nông dân tham gia sản xuất để cung ứng cho Phú Quốc.
"Trong vòng 18 tháng tới, Phú Quốc sẽ tăng thêm 12.000 phòng khách sạn 5 sao thì chúng ta phải đặt câu hỏi "du khách ăn cái gì", "thức ăn từ đâu"... Chúng ta cần chú ý đến thị trường Phú Quốc, vì chi phí vận chuyển logistics rất rẻ", ông Mừng gợi mở.
Theo ông Mừng, DN sợ nhất khi lập ra dự án đầu tư là vấn đề đất đai. Nếu bỏ tiền ra bồi thường về đất đai thì DN rất sợ rủi ro. Để tránh rủi ro, DN có thể hợp tác với nông dân, xem nông dân là cổ đông, cho nông dân góp của và góp công cùng DN. Còn phía DN sẽ đầu tư vốn, khoa học công nghệ, quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Muốn làm được như thế, DN phải thuyết phục được nông dân bằng lợi nhuận đem lại cho họ.
Trả lời ý kiến DN việc đề nghị tỉnh cho khảo sát để làm bãi biển nhân tạo dọc bờ biển đường Tôn Đức Thắng (phường Rạch Giá) để phát triển du lịch, ông Hồ Văn Mừng cho biết, tỉnh đã tham khảo ý kiến của chuyên gia về việc điều chỉnh dòng chảy của các tuyến sông rạch đổ ra vịnh Rạch Giá để giảm lượng phù sa và thực hiện bãi biển nhân tạo tại Rạch Giá. Tuy nhiên, việc này phải tốn kinh phí rất lớn và phức tạp nên tỉnh không thực hiện được.
"Hiện nay, tỉnh quy hoạch một đảo nhân tạo có diện tích 700 ha, cách bờ Rạch Giá 5 km, có bãi biển, có sân golf, có resort… Hiện, một số tập đoàn đã đăng ký đầu tư đảo nhân tạo này. Tôi hy vọng trong 5 năm tới, người dân Rạch Giá và khách du lịch có thể ra khu này để tắm biển. Nếu DN có phương án, hiến kế gì để Rạch Giá có bãi tắm biển với chi phí rẻ, hợp lý thì phối hợp UBND phường Rạch Giá đề xuất phương án cho tỉnh xem xét…", ông Hồ Văn Mừng nói.
Theo đó, kết quả bước đầu do các xã tự rà soát cho thấy có 12 xã đáp ứng các tiêu chí để chuyển xã lên phường gồm: Vĩnh Lộc, Tân Vĩnh Lộc, Bình Lợi, Tân Nhựt, Bình Chánh, Hưng Long, Bình Hưng, Đông Thạnh, Hóc Môn, Bà Điểm, Xuân Thới Sơn, Cần Giờ.
Theo quy định để lên phường, các xã phải đáp ứng 5 tiêu chí gồm: Dân số từ 21.000 người trở lên; diện tích tự nhiên từ 5,5 km2 trở lên; vị trí, chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng hoặc cấp tỉnh hoặc cấp tiểu vùng.
Ngoài ra, tỷ lệ dân số đô thị từ 50% trở lên; cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội (đạt 5 chỉ tiêu: thu ngân sách đủ chi, tỉ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GRDP đạt 70% trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên.
Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người trên năm cao hơn thu nhập bình quân đầu người trên năm của thành phố trong 3 năm gần nhất và tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo của thành phố trong 3 năm gần nhất.
Từ kết quả tự rà soát của các xã, Sở Nội vụ sẽ chủ trì phối hợp với các cơ quan, sở, ngành liên quan để rà soát lại và hướng dẫn các xã xây dựng đề án để chuyển xã lên phường.
Trước đó, thực hiện kế hoạch xây dựng Đề án thành lập đơn vị hành chính đô thị (chuyển xã lên phường) trên địa bàn TP.HCM, UBND TP.HCM đã giao chủ tịch UBND các xã khẩn trương đánh giá hiện trạng của xã theo các điều kiện, tiêu chí lên phường gửi về Sở Nội vụ để thẩm định trước ngày 23.4.2026.
Theo kế hoạch của UBND TP.HCM, để chuyển các xã lên phường, xét 2 tiêu chí cứng về quy mô diện tích và dân số thì hầu hết các xã đều đạt.
Cụ thể, TP.HCM hiện có 54 xã. Qua rà soát về điều kiện diện tích tự nhiên (từ 5,5 km2 trở lên) thì tất cả 54 xã đều đạt (gấp từ hơn 4 lần đến 47 lần chỉ tiêu diện tích).
Về chỉ tiêu quy mô dân số (hơn 21.000 người trở lên) chỉ có 3 xã An Thới Đông (18.413 người), xã Phước Thành (15.803 người) và xã An Long (17.906 người) là còn thiếu, các xã còn lại đều đạt và vượt xa chỉ tiêu dân số.
Ngoài 2 chỉ tiêu cứng trên, Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định muốn lên phường phải đáp ứng 3 chỉ tiêu khác, bao gồm:
Có vị trí, chức năng được xác định trong quy hoạch hoặc định hướng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng hoặc cấp tỉnh hoặc cấp tiểu vùng trong tỉnh, thành phố, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố hoặc tiểu vùng trong tỉnh, thành phố.
Có dân số đô thị chiếm 50% trở lên trên tổng số dân.
Có cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các chỉ tiêu (tỷ lệ tổng thu ngân sách địa phương với tổng chi ngân sách trên địa bàn đạt từ 100% trở lên; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GRDP đạt từ 70% trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên; thu nhập bình quân đầu người trên năm cao hơn thu nhập bình quân đầu người trên năm của thành phố trong 3 năm gần nhất; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo của thành phố trong 3 năm gần nhất).