Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết trong cuộc trao đổi với Tuổi trẻ về chủ đề biến dữ liệu thành tài nguyên số quốc gia.
* Thưa bà, Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, trong đó dữ liệu là tài nguyên số, vậy ngành Thống kê – cơ quan tập trung dữ liệu kinh tế, xã hội lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ làm gì để biến số liệu, dữ liệu thống kê thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước?
– Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và xác định dữ liệu là tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê nhận thức rõ trách nhiệm trong việc sản xuất và cung cấp thông tin thống kê chất lượng cao, kịp thời, minh bạch để số liệu thống kê trở thành tài nguyên phát triển kinh tế số đất nước.
Theo đó, quy trình sản xuất thông tin thống kê đã được ban hành mới theo hướng hiện đại hóa, làm cơ sở cho chuyển đổi số toàn diện.
Hình thức thu thập thông tin thống kê được chuyển đổi từ phiếu giấy sang phiếu điều tra điện tử (bao gồm phương thức phỏng vấn trực tiếp sử dụng thiết bị di động (CAPI) và phỏng vấn gián tiếp sử dụng webform) cho toàn bộ các cuộc điều tra giúp nâng cao đáng kể tính kịp thời và chất lượng dữ liệu thống kê.
Đồng thời, công tác chuẩn hóa danh mục, khái niệm, chỉ tiêu thống kê cũng được tăng cường để bảo đảm tính so sánh và khả năng liên thông dữ liệu.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia cũng được đẩy mạnh nhằm chuyển đổi căn bản và toàn diện việc sản xuất, sử dụng thông tin thống kê.
Hiện tại, cục đã hoàn thành giai đoạn một – xây dựng Kho dữ liệu thống kê tổng hợp, kết nối, cung cấp dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu quốc gia – là tài nguyên dùng chung trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để nâng cao độ bao phủ, tính chính xác của dữ liệu thống kê, cục khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính thu thập từ các cơ quan bộ, ngành trong sản xuất thống kê
Để biến số liệu thống kê thành tài nguyên số quốc gia, ngành Thống kê đang tập trung xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu nghiệp vụ thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu của Đảng, Chính phủ trong việc ban hành các chương trình, nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số.
Đối với xây dựng hạ tầng dữ liệu thống kê hiện đại gồm: Kho dữ liệu thống kê vi mô tập trung phục vụ đa dạng nhu cầu khai thác của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân. Kho metadata phục vụ hiểu đúng, sử dụng đúng giá trị của dữ liệu thống kê đồng thời phục vụ chuẩn hóa, quản lý dữ liệu thống kê.
Ngoài ra, Cục Thống kê đang tăng cường khai thác các nguồn dữ liệu hành chính có tính pháp lý từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quản lý thuế để tận dụng dữ liệu sẵn có, đáng tin cậy để sản xuất và cung cấp thông tin thống kê bảo đảm chất lượng, kịp thời.
Xây dựng nền tảng số quản lý dữ liệu thống kê dùng chung và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu để tập trung hóa các hoạt động quản lý, thu thập, xử lý, tích hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê, qua đó cung cấp, chia sẻ tài nguyên dữ liệu tin cậy, đa dạng cho các đối tượng người dùng.
Trong quản lý dữ liệu, ngành Thống kế cũng áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy, tính minh bạch và khả năng tái sử dụng, chia sẻ và liên thông dữ liệu.
Thời gian tới, ngành Thống kê sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, trước hết là đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê từ mô hình dựa chủ yếu vào điều tra thống kê và báo cáo thống kê sang mô hình sản xuất thông tin thống kê dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó dữ liệu hành chính giữ vai trò nền tảng, kết hợp với dữ liệu lớn, dữ liệu địa không gian và các nguồn dữ liệu khác nhằm nâng cao chất lượng, tính đầy đủ, tính kịp thời.
Đổi mới quy trình sản xuất thông tin thống kê theo mô hình GSBPM (Generic Statistical Business Process Model) phiên bản mới nhất, bảo đảm bao quát toàn bộ vòng đời dữ liệu.
Thực hiện đổi mới mô hình thông tin thống kê theo GSIM nhằm chuẩn hóa cấu trúc thông tin, bảo đảm khả năng chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Xây dựng và áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu thống kê theo SDMX trong toàn bộ hệ thống thống kê. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata) thống nhất bảo đảm liên thông, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu thống kê đồng bộ, hiện đại, từng bước hình thành kinh tế dữ liệu thống kê gắn với kinh tế dữ liệu quốc gia. Tiếp tục xây dựng, và vận hành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia theo hướng tập trung, tích hợp, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Xây dựng, phát triển các sản phẩm dữ liệu thống kê có giá trị gia tăng cao cung cấp trên thị trường dữ liệu. Xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu thống kê cung cấp dữ liệu mở miễn phí và dịch vụ dữ liệu có tính phí. Cung cấp dịch vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê qua API và phát triển các dịch vụ dữ liệu thống kê trực tuyến khác phục vụ đa dạng đối tượng sử dụng.
Đồng thời, ngành Thống kê sẽ tăng cường ứng dụng các mô hình phân tích, dự báo hiện đại, phát triển hệ thống sản phẩm phân tích chuyên sâu phong phú, đa dạng.
Hoạt động phổ biến thông tin thống kê cũng được đổi mới theo hướng tăng cường trực quan hóa dữ liệu (dashboard, infographic), chuyển từ báo cáo tĩnh sang nền tảng dữ liệu tương tác, cho phép người dùng tự do tùy biến biểu đồ, chuỗi thời gian và trích xuất dữ liệu để tái sử dụng. Mở rộng cung cấp dữ liệu dưới dạng dịch vụ, phục vụ hiệu quả cho tất cả các đối tượng người dùng.
Thiết lập hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng thống kê theo toàn bộ quy trình sản xuất thông tin, công khai minh bạch các tiêu chí chất lượng.
Có thể khẳng định, ngành Thống kê đang và sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất dữ liệu thống kê thành một nguồn tài nguyên dữ liệu số quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều hành, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
* Định kỳ hàng tháng, hàng quý Cục Thống kê đều công bố rộng rãi báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của đất nước trên báo chí, truyền thông, điều này có ý nghĩa gì với công tác điều hành kinh tế – xã hội, với người dân, doanh nghiệp, thời gian tới ngành sẽ tiếp tục đổi mới ra sao để mỗi con số thống kê thực sự “biết nói”?
– Việc Cục Thống kê định kỳ công bố thông tin kinh tế – xã hội hằng tháng, hằng quý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, điều hành.
Đây là nguồn thông tin chính thống, tin cậy và có tính hệ thống, giúp Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, đánh giá đúng thực trạng và xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, các thông tin thống kê công bố định kỳ không chỉ phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế mà còn cung cấp những tín hiệu quan trọng về thị trường, xu hướng sản xuất, tiêu dùng, đầu tư.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, nhà đầu tư chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp hoạt động một cách hợp lý, hạn chế rủi ro và nắm bắt cơ hội.
Còn với người dân và xã hội, việc công bố rộng rãi các chỉ tiêu kinh tế – xã hội góp phần nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin vào công tác điều hành của Nhà nước, giúp công chúng có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngành Thống kê nhận thức rõ sứ mệnh phải luôn làm cho mỗi con số thực sự “biết nói” để dẫn dắt nhận thức và hỗ trợ ra quyết định.
Do vậy, trong thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu, bảo đảm phản ánh sát thực tiễn, đúng thực chất của nền kinh tế.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh công tác phân tích, diễn giải số liệu, chuyển từ tư duy “có gì công bố nấy” sang chủ động cung cấp thông tin có chọn lọc, có chiều sâu, gắn với bối cảnh và xu hướng phát triển.
Các sản phẩm thống kê không chỉ là những bảng số liệu khô cứng, mà được bổ sung các nhận định, phân tích, dự báo, giúp người sử dụng hiểu đúng, hiểu sâu và khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, ngành cũng sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành để mở rộng nguồn thông tin đầu vào, qua đó nâng cao chất lượng và tính toàn diện của số liệu thống kê.
Hình thức phổ biến thông tin thống kê cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng trực quan, hiện đại và thân thiện hơn với người dùng, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau, từ nhà quản lý, nhà nghiên cứu đến doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi thông tin thống kê khi được công bố không chỉ dừng lại ở giá trị tham khảo, mà thực sự trở thành cơ sở tin cậy cho việc hoạch định chính sách, điều hành kinh tế và ra quyết định trong toàn xã hội.
Một số doanh nghiệp có tỉ lệ cạnh tranh rất cao, phải kể tới Vinamilk, Chứng khoán Vietcap…
Vinamilk là doanh nghiệp sữa có thị phần lớn nhất thị trường. Khép lại năm 2025, doanh nghiệp này ghi nhận doanh thu hợp nhất đạt 63.723 tỉ đồng, tăng 3% so với năm trước; còn lại lợi nhuận sau thuế 9.413 tỉ đồng, giảm nhẹ.
Tại báo cáo thường niên 2025 vừa được công bố, Vinamilk ghi nhận quy mô nhân sự toàn tập đoàn đạt 9.906 người, giảm 54 người sau một năm.
Ước tính với con số này, bình quân mỗi người lao động ở tập đoàn sữa lớn nhất Việt Nam làm ra gần 1 tỉ đồng lợi nhuận ròng/năm.
Báo cáo cũng đưa ra con số cho thấy sức hút tuyển dụng ở Vinamilk rất lớn. Theo đó, chương trình Graduate Talent Program 2025 ghi nhận với 6.294 hồ sơ ứng tuyển, nhưng tỉ lệ cạnh tranh lên tới 1:166, tương đương khoảng 38 người trúng tuyển.
Song song đó, chương trình khác của Vinamilk là Sales Trainee Program với trọng tâm xây dựng đội ngũ kế thừa cho khối kinh doanh, ghi nhận 1.965 hồ sơ ứng tuyển, nhưng tỉ lệ chọn lọc 1:115, tương ứng 17 người trúng tuyển.
Sang 2026, Vinamilk đặt kế hoạch doanh thu hợp nhất đạt 66.477 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế dự kiến ở mức 9.828 tỉ đồng, cùng tăng nhẹ khoảng 4% so với kết quả thực hiện năm 2025.
Nói về triển vọng doanh nghiệp sữa lớn nhất Việt Nam, Chứng khoán KBSV nhận định: Xung đột tại Trung Đông đang khiến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tạm thời bị gián đoạn. Khu vực này hiện chiếm khoảng 70-80% kim ngạch xuất khẩu hằng năm, tương đương khoảng 7% tổng doanh thu.
KBSV dự báo doanh thu xuất khẩu của Vinamilk sẽ suy giảm trong nửa đầu năm, trên cơ sở giả định căng thẳng địa chính trị sẽ dần hạ nhiệt vào nửa cuối năm, qua đó hỗ trợ các đơn hàng phục hồi.
Tuy nhiên về dài hạn, triển vọng tại thị trường này vẫn tích cực nhờ mối quan hệ hợp tác lâu năm và dư địa tăng trưởng lớn của nhu cầu tiêu thụ sữa.
Còn trong lĩnh vực chứng khoán, Vietcap do bà Nguyễn Thanh Phượng làm Chủ tịch HĐQT là cái tên đáng chú ý về tỉ lệ cạnh tranh ứng tuyển.
Theo báo cáo thường niên, tính đến cuối năm 2025, quy mô nhân sự của Vietcap đạt 442 người, tăng 53 người so với năm trước.
Tuy nhiên, trong năm 2025, Vietcap đã tiếp nhận tới hơn 8.200 hồ sơ ứng tuyển tiềm năng. Trong đó, gần 3.000 hồ sơ đến từ khối đổi mới sáng tạo và công nghệ thông tin, hơn 1.000 hồ sơ thuộc bộ phận nghiên cứu và phân tích, gần 1.000 hồ sơ ứng tuyển vào khối ngân hàng đầu tư, cùng nhiều hồ sơ khác phân bổ tại các phòng ban còn lại.
Theo Vietcap, kết quả này tiếp tục khẳng định sức hút của thương hiệu, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ, nghiên cứu và ngân hàng đầu tư.
Báo cáo thường niên cũng phản ánh hiệu quả lao động của Vietcap thông qua chỉ tiêu lợi nhuận bình quân trên mỗi nhân viên trong các năm.
Cụ thể, chỉ số này đạt đỉnh vào năm 2021 với khoảng 6,36 tỉ đồng/người. Tuy nhiên, giai đoạn 2022-2023 ghi nhận sự suy giảm mạnh, lần lượt xuống còn khoảng 2,83 tỉ và 1,49 tỉ đồng/người, trong bối cảnh quy mô nhân sự gia tăng nhanh.
Đến năm 2024, hiệu quả lao động cải thiện, đạt khoảng 2,8 tỉ đồng/người và tiếp tục phục hồi trong năm 2025 lên khoảng 3,69 tỉ đồng/người.
Đầu tháng này, Ngân hàng Trung ương Israel giảm dự báo GDP 2026, với lý do ảnh hưởng cuộc xung đột ở Trung Đông. Tuy vậy, kinh tế nước này vẫn được kỳ vọng tăng trưởng đến 3,8%, sau khi điều chỉnh hạ 1,4 điểm phần trăm.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng dự báo kinh tế Israel tăng ở mức 3,5% năm nay, so với 2,3% của Mỹ và EU là 1,3%. Tốc độ này cũng có nghĩa GDP Israel sẽ tăng vượt trội hơn các nước G7 năm nay.
Năm 2027, IMF dự báo Israel tăng trưởng 4,4%, tiếp tục cao hơn nhiều nền kinh tế phát triển. Còn theo Thống đốc Ngân hàng Trung ương Israel Amir Yaron, nếu các cuộc xung đột kết thúc, kinh tế nước này có thể phục hồi lên 5,5%.
Israel đang trong vòng xoáy xung đột từ tháng 10/2023 với Hamas, Hezbollah và nhiều lực lượng tại Trung Đông. Keren Uziyel, nhà phân tích cấp cao tại Economist Intelligence Unit (EIU), nhận định kinh tế Israel đã tăng trưởng dưới mức tiềm năng sau nhiều năm chiến tranh, nhưng tốc độ vẫn cao nhờ lạm phát thấp, lao động tay nghề cao và chống chọi kiên cường của khu vực tư nhân.
"Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ công nghệ cao là yếu tố chính đằng sau hai thập kỷ tăng trưởng mạnh mẽ và tạo ra của cải", bà nhận định.
Năm ngoái, hai thương vụ đầu tư nước ngoài kỷ lục vào quốc gia này đều thuộc lĩnh vực an ninh mạng, gồm thỏa thuận Google mua lại Wiz trị giá 32 tỷ USD và Palo Alto Networks chi 25 tỷ USD thâu tóm CyberArk.
Bà Keren Uziyel lưu ý Israel còn tăng trưởng nhờ phát triển tài nguyên khí đốt và xuất khẩu quốc phòng. "Ngành năng lượng sẽ chứng kiến dòng vốn đầu tư đáng kể giai đoạn 2026-2027, cả năng lượng tái tạo trong nước và mở rộng năng lực sản xuất, xuất khẩu khí đốt tự nhiên", bà nói.
Cơ cấu dân số với tốc độ tăng bình quân gần 2% mỗi năm trong khoảng hai thập kỷ qua cũng là lợi thế của Israel. Theo tiêu chuẩn của các nước phát triển, dân số nước này tương đối trẻ. Nếu các thỏa thuận ngừng bắn được duy trì, dù yếu ớt, bà Uziyel dự báo kinh tế phục hồi khá mạnh vào giữa năm và đạt khoảng 3% năm nay.
Cùng với đó, dòng tiền vẫn đổ vào thị trường vốn Israel, theo bà Karen Schwok, nhà sáng lập kiêm CEO của văn phòng đầu tư gia đình Lucid Investments tại Tel Aviv. Tính từ đầu năm đến nay, chỉ số Tel Aviv 35 (gồm 35 công ty lớn nhất niêm yết trên sàn chứng khoán Tel Aviv, TASE) tăng 20%, tiếp nối đà đi lên 51,6% trong năm ngoái. Mức này vượt xa nhiều thị trường phát triển lớn, gồm ba chỉ số chính của Phố Wall (DJIA, S&P 500 và Nasdaq Composite).
"Dòng vốn ngoại đang quay trở lại, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ, tài chính và quốc phòng", bà nhận định. Chỉ số Tel Aviv 125 - gồm 125 công ty lớn nhất - tăng 17% từ đầu năm đến nay.
Bà Schwok cũng chỉ ra động lực thu hút dòng tiền đến từ nền kinh tế mạnh, yếu tố dân số và các thương vụ lớn. Đồng thời, công nghiệp quốc phòng Israel dự báo tiếp tục bùng nổ nhờ giành được các hợp đồng quốc tế.
Đồng shekel của Israel tăng khoảng 4% so với USD trong hơn hai tháng chiến sự và gần 7% từ đầu năm đến nay. Theo bà Schwok, dòng vốn ngoại quay lại cho thấy niềm tin của nhà đầu tư, giúp đồng shekel tăng giá. "Đã có sự chuyển biến rõ rệt từ trạng thái 'sốc' sang 'bình thường hóa'", bà nói.
Tuy nhiên, Joao Gomes - Giáo sư tài chính tại trường kinh doanh Wharton, Đại học Pennsylvania (Mỹ) - nói kinh tế Israel bắt đầu ngấm đòn xung đột. Lực lượng lao động thiếu hụt do bị huy động tham gia chiến sự, và chi tiêu tiêu dùng suy giảm vì lo ngại an ninh.
Ngành du lịch cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, làm suy yếu tăng trưởng và thu ngân sách. Theo ông, nợ công đã tăng đáng kể nhưng vẫn có thể kiểm soát nếu quốc gia Trung Đông đạt được một thỏa thuận hòa bình. Bởi điều này giúp họ giảm đáng kể và bền vững chi tiêu quốc phòng, duy trì niềm tin nhà đầu tư nước ngoài và nhân lực chất lượng cao. "Nếu không, kinh tế Israel sẽ khó khăn hơn khi đối mặt rủi ro đồng nội tệ suy yếu, lạm phát tăng và vốn ngoại rút khỏi thị trường", ông nói.
Chuyên gia Keren Uziyel tại EIU nhận định dù nền tảng kinh tế vĩ mô vẫn mạnh, xung đột dự báo gây tổn hại đến nhiều khía cạnh của kinh tế Israel. Gần đây, chính phủ nước này phải dỡ bỏ lệnh đóng cửa các dịch vụ không thiết yếu vì lo ngại sụt giảm tăng trưởng và thu ngân sách. "Chúng tôi vẫn dự báo tiêu dùng suy giảm đáng kể trong tháng 3-4, mùa du lịch cao điểm trong năm", bà nói.
Thông tin được nêu trong báo cáo thường niên 2025 của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam - ACV.
ACV cho biết ngoài việc giá vé tăng, các hãng bay nội địa đang ưu tiên khai thác các trục đường bay lớn như Hà Nội - Đà Nẵng - TP.HCM và các đường bay quốc tế. Đồng thời các hãng tiến hành dồn chuyến, tối ưu hệ số lấp đầy và tạm dừng các chuyến bay khung giờ đêm (0h - 5h sáng).
Một trong những thách thức dẫn đến tình trạng trên, nổi bật là khủng hoảng nhiên liệu bay Jet A1. Nguyên nhân xuất phát từ xung đột tại Trung Đông khiến nguồn cung bị đứt gãy, giá nhiên liệu liên tục tăng cao. Mức phụ thu vật lý đã đạt đỉnh 39,6 USD/thùng, tăng gấp 20 lần.
Nguồn cung Jet A1 trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu, phần còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu từ các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, trong khi các nước đang có xu hướng hạn chế xuất khẩu.
Thậm chí, một số đối tác đã thông báo trì hoãn giao hàng trong tháng 4-2026 và có khả năng áp dụng điều khoản bất khả kháng do đứt gãy chuỗi cung ứng.
Trước áp lực chi phí, nhiều hãng hàng không quốc tế đã chuyển sang chế độ "phòng thủ". Cụ thể, United Airlines và Delta cắt giảm 5 - 10% sản lượng ghế trong quý 2 và 3-2026; Qatar Airways hủy hàng loạt chuyến bay từ tháng 3-2026...
Đồng thời các hãng cơ cấu lại mạng bay, đặc biệt các chuyến bay Á - Âu phải bay vòng, kéo dài thêm 2-3 giờ, làm mức tiêu hao nhiên liệu tăng 15 - 20%.
Ngoài ra, các hãng cũng áp dụng phụ thu nhiên liệu linh hoạt theo tuần, dao động từ 20 - 200 USD/vé tùy chặng, như Air India hay Qantas.
ACV cho biết tại Việt Nam, các hãng hàng không cũng điều chỉnh chiến lược khai thác theo hướng tương tự. Ngoài việc ưu tiên các đường bay trục chính và quốc tế, các hãng giảm tần suất hoặc tạm dừng một số đường bay địa phương.
"Việc dồn chuyến và tối ưu hệ số lấp đầy khiến số lượt cất, hạ cánh tại các sân bay thuộc ACV giảm đáng kể" - ACV nêu trong báo cáo.
Theo thống kê của ACV, giá vé nội địa tăng trung bình 15 - 20%, chủ yếu do các hãng đóng các dải vé giá rẻ. Điều này kéo theo sự sụt giảm nhu cầu đi lại, đặc biệt ở phân khúc du lịch nghỉ dưỡng.
Bên cạnh khủng hoảng năng lượng, ACV nhận định ngành hàng không còn đối mặt với nhiều rủi ro khác như biến động tỉ giá, lãi suất và bối cảnh kinh tế quốc tế khó lường, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác.
Ngoài ra, các yêu cầu về phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, như giảm phát thải và sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), cũng đặt ra áp lực chi phí đầu tư lớn và buộc các hãng phải thay đổi mô hình vận hành.
Trong năm 2026, ACV dự kiến triển khai các chính sách kích cầu, thu hút hãng bay, đặc biệt trong giai đoạn đầu khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Đồng thời đẩy mạnh phát triển dịch vụ phi hàng không tại các cảng trọng điểm như Long Thành, T3 Tân Sơn Nhất và T2 Nội Bài nhằm gia tăng doanh thu và biên lợi nhuận.
ACV cũng hướng tới đa dạng hóa mô hình kinh doanh, áp dụng hình thức nhượng quyền, phát triển dịch vụ cao cấp phục vụ hành khách quốc tế và nhóm khách có khả năng chi trả cao.
Song song đó là việc phối hợp với cơ quan quản lý để rà soát, cập nhật quy hoạch các cảng hàng không theo hướng đồng bộ, hiện đại và linh hoạt.
Về tài chính, doanh nghiệp sẽ cân đối nguồn vốn tự có, đồng thời xây dựng các phương án huy động vốn như vay thương mại hoặc hợp tác đầu tư với các đối tác trong nước để triển khai các dự án dịch vụ.
Năm 2025, ACV đạt doanh thu hơn 25.530 tỉ đồng và lợi nhuận trước thuế 13.472 tỉ đồng, tăng lần lượt 12% và 6% so với năm trước.
Tổng lượng hành khách qua các cảng hàng không đạt 120,3 triệu lượt, tăng 9,4%, trong đó khách quốc tế tăng 14% lên 47,1 triệu lượt.
Đối với dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, ACV đặt mục tiêu hoàn thành xây dựng trong quý 3 và đưa vào khai thác thương mại từ quý 4-2026. Doanh nghiệp cũng đã ký hợp đồng tư vấn với liên danh Incheon Airport nhằm hỗ trợ hoàn thiện kế hoạch vận hành thử nghiệm và chuyển giao khai thác.