Theo nghị quyết được Quốc hội thông qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI có 18 thành viên.
Gồm Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, 6 Phó chủ tịch Quốc hội gồm ông Đỗ Văn Chiến, ông Nguyễn Khắc Định, bà Nguyễn Thị Thanh, ông Nguyễn Hồng Diên, bà Nguyễn Thị Hồng và ông Nguyễn Doãn Anh.
Cùng với đó, là 11 Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI gồm ông Lâm Văn Mẫn, ông Phan Chí Hiếu, ông Phan Văn Mãi, ông Lê Tấn Tới, ông Nguyễn Đắc Vinh, bà Nguyễn Thanh Hải, ông Nguyễn Hữu Đông, bà Lê Thị Nga, ông Lê Quang Mạnh, ông Hoàng Duy Chinh, ông Vũ Hải Hà.
Dưới đây là danh sách cụ thể:

Ngày 18.4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai vừa ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Phan Văn Lợi và Phạm Trọng Nghĩa (cùng 40 tuổi, ở TP.HCM) để điều tra làm rõ về tội gây ô nhiễm môi trường xảy ra tại xã Lộc Thạnh.
Trước đó, theo điều tra, trong 2 tháng (10 và 11.2024), Lợi mua hơn 1.000 tấn da bò vụn phế thải về bán lại cho các nhà máy để kiếm lời. Do không tìm được nơi tiêu thụ, để lâu thì tốn tiền thuê kho bãi nên Lợi đã gọi Nghĩa tìm kiếm bãi đất trống thuê để tập kết lại, rồi tìm người bán kiếm lời chia nhau. Lợi cũng đồng ý trả cho Nghĩa 450.000 đồng/tấn chất thải da bò khi vận chuyển chất thải đến bãi tập kết.
Nghĩa sau đó đã thông qua người quen thuê bãi đất trống khoảng 4.000 m2 của một người dân ở ấp Thạnh Biên, xã Lộc Thạnh, tỉnh Đồng Nai với giá 15 triệu đồng/tháng để tập kết da bò phế thải về.
Sau khi vận chuyển hơn 567 tấn chất thải da bò từ khu vực tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) đến đổ ra bãi đất trống thuộc ấp Thạnh Biên, xã Lộc Thạnh, Lợi và Nghĩa đã bỏ mặc để đống chất thải trên nền đất, không có mái che và để phân hủy tự nhiên gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai thông báo đến các cá nhân đã được các bị can Lợi và Nghĩa thuê vận chuyển số chất thải trên biết và nhanh chóng đến đơn vị này để làm việc theo quy định.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Thành ủy TP.HCM yêu cầu gỡ điểm nghẽn đất đai, giảm 30% thời gian làm thủ tục

Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM vừa ban hành chỉ thị về việc lãnh đạo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế TP.HCM đạt mục tiêu hai con số giai đoạn 2026 - 2030. Chỉ thị yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Theo chỉ thị, TP.HCM tiếp tục giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và chất lượng hạ tầng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Trong giai đoạn phát triển mới, TP.HCM xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng giai đoạn 2026 - 2030.
Thành ủy TP.HCM yêu cầu các cấp, ngành xem mục tiêu tăng trưởng hai con số là nhiệm vụ trọng tâm. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.
Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu phải xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền; hoàn thành việc cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương ngay trong quý 2/2026.
Đồng thời, Thành ủy TP.HCM yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trong thực thi công vụ.
Đáng chú ý, chỉ thị đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của TP.HCM giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 10%/năm; đến năm 2030 GRDP của thành phố đạt khoảng 200 tỉ USD, GRDP bình quân đầu người trên 14.000 USD.
Để đạt mục tiêu này, Thành ủy yêu cầu Đảng ủy UBND TP.HCM, lãnh đạo UBND TP.HCM khẩn trương ban hành kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện chỉ thị; cụ thể hóa thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương; gắn với cơ chế đánh giá, khen thưởng, kỷ luật rõ ràng.
Thành phố cũng sẽ xác định các ngành, lĩnh vực, địa bàn đóng vai trò động lực tăng trưởng để ưu tiên nguồn lực phát triển.
TP.HCM sẽ xây dựng hệ thống theo dõi tăng trưởng theo thời gian thực; nâng cao năng lực dự báo, xây dựng các kịch bản điều hành linh hoạt nhằm chủ động ứng phó biến động kinh tế trong nước và quốc tế.
Một trong những nhóm giải pháp trọng tâm là tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách. Trong năm 2026, TP.HCM sẽ hoàn thành rà soát các vướng mắc trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, tài sản công; thành lập các tổ công tác chuyên đề để xử lý dứt điểm khó khăn, tồn đọng.
TP.HCM đặt mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính; số hóa 100% quy trình thủ tục.
Về đầu tư công, thành phố sẽ cơ cấu lại theo hướng tập trung, trọng điểm; giảm tối thiểu 30% số dự án dàn trải; hoàn thành xử lý cơ bản các dự án tồn đọng trong giai đoạn 2026 - 2027. Đồng thời, TP.HCM đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công - tư, thu hút nhà đầu tư chiến lược; tập trung triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm, nhất là giao thông, logistics và hạ tầng số.
TP.HCM xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là động lực tăng trưởng chính trong giai đoạn tới. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số đóng góp 30 - 40% GRDP; đồng thời ưu tiên phát triển các lĩnh vực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, tài chính, logistics và kinh tế xanh.
Bên cạnh đó, TP.HCM định hướng phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp; xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của tăng trưởng. Đồng thơiThành phố sẽ xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh; đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế; thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo.
TP.HCM đặt mục tiêu hình thành Trung tâm tài chính quốc tế; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Ngoài mục tiêu kinh tế, chỉ thị yêu cầu phát triển hệ thống y tế chất lượng cao, y tế chuyên sâu, y tế quốc tế; phát triển khoảng 199.000 căn nhà ở xã hội đến năm 2030; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống của người dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
- Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
- Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
- Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là "mệnh lệnh phát triển", thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm "made in Viet Nam".
- Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
- Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là "đứng trên vai người khổng lồ".
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
- Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
- Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
- Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Tin Gốc: Vnexpress

