“Tôi đang dắt xe thì nghe cái đùng, chưa kịp định thần đã cùng chiếc xe rơi xuống hố sâu”, bà Trần Thị Ly, 53 tuổi, nhớ lại thời điểm xảy ra sạt lở trước nhà ở xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, cách đây hơn hai tuần.
Vào buổi sáng, khi đi chợ về, bà Ly thấy sân nhà lún sâu cả gang tay. Do khu vực này từng xảy ra sạt lở làm sập ba căn nhà tiền chế hồi năm ngoái, bà vội di dời xe máy sang nhà hàng xóm. Khi quay lại dắt chiếc xe thứ hai thì mặt đất bất ngờ sụp xuống.
May mắn không bị thương, bà Ly hô hoán con gái cùng cháu ngoại đang ngủ trong nhà chạy ra ngoài.
Chỉ trong ít phút, đoạn đê ven sông Phú An dài khoảng 75 m, rộng hơn 4 m ở ấp 2, xã Bình Phú đổ sập xuống sông, tạo hàm ếch khoét sâu sát nền nhà của 6 hộ dân. Tuyến đường trên đê bị chia cắt, ảnh hưởng việc đi lại của khoảng 1.000 hộ trong khu vực.
Gia đình bà Ly có 4 người, sống bằng nghề làm thuê. Con rể bà làm bốc vác tại kho gạo, còn con gái mở tiệm cắt tóc nhỏ trước hiên nhà, thu nhập mỗi ngày khoảng 50.000-70.000 đồng. Sau vụ sạt lở, cả nhà dựng chòi tạm trên mảnh đất gần đó để ở.
Nhà ở cạnh bên, ông Nguyễn Văn Hùng, 62 tuổi, cho biết vụ sạt lở làm đoạn tường rào dài hơn 10 m của gia đình bị đổ sập. Phía trong đê là 7 công sầu riêng Ri6 hơn 8 năm tuổi đang cho trái.
“Vị trí sạt lở chỉ cách sông Tiền khoảng 5 km. Nếu không sớm gia cố, nước mặn có thể xâm nhập, đe dọa khoảng 500 ha sầu riêng”, ông Hùng nói.
Sau sự cố, chính quyền hỗ trợ các hộ dân tháo dỡ nhà cửa, di dời tài sản đến ở tạm tại trung tâm văn hóa cũ của xã.
Ông Lê Hà Luân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp, cho biết từ đầu năm đến nay tỉnh ghi nhận 4 vụ sạt lở bờ sông tại các xã Phú Hựu, Tân Hội Cơ, Bình Phú và Mỹ Thành.
Trong đó, vụ sạt lở ở xã Phú Hựu làm thiệt hại hơn 2.000 m2 đất nông nghiệp; vụ sạt lở bờ Tây kênh Tân Thành, xã Tân Hội Cơ gây thiệt hại 2,2 ha ao nuôi cá, ước tính hơn 5 tỷ đồng.
Giáp ranh với Đồng Tháp, tỉnh Tây Ninh cũng xảy ra 3 vụ sạt lở tại các xã Cần Đước, Tân lân, Vĩnh Hưng với tổng chiều dài khoảng 110 m, ảnh hưởng 28 hộ dân.
Nghiêm trọng nhất là vụ sụt lún đê bao sông Lò Gạch ở xã Vĩnh Hưng sáng 12/4. Đoạn đê sụt dài khoảng 70 m, rộng 5 m, nơi sâu nhất khoảng 2 m. Công trình dài hơn 8 km, vốn đầu tư 14,3 tỷ đồng, vừa hoàn thành cuối tháng 3 và chưa nghiệm thu.
Sự cố khiến ôtô phải đi vòng hơn 3 km, nhiều tuyến ống nước bị vỡ. Theo cơ quan chức năng, nguyên nhân là tuyến đê nằm trên nền đất yếu, chịu tác động của biến động mực nước giữa mùa lũ và mùa khô.
Ông Thảo, người dân sống gần khu vực sạt lở, cho biết trước đây đã chi khoảng 3 tỷ đồng xây kè bảo vệ nhà do lo ngại nền đất yếu. Tuy nhiên sau vụ lở đường, đoạn kè này cũng đổ sập.
“Đường bị lở khiến xe tải, ghe lớn không thể cập bến. Gia đình phải thuê kho nơi khác để duy trì việc buôn bán, chỉ một tuần đã phát sinh hơn 50 triệu đồng chi phí”, ông nói.
Cạnh đó, cơ sở sản xuất nước đá của ông Nguyễn Minh Trạng cũng bị ảnh hưởng khi bến cẩu hàng sụp lún, ghe không thể vào lấy hàng. Ông phải giảm công suất hoạt động vì đầu ra gián đoạn.
Ở Cà Mau, tình trạng sạt lở diễn biến phức tạp trong tháng 4. Ở phường Tân Thành, sạt lở bờ kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau làm bốn căn nhà bị nhấn chìm. Nhiều hộ dân phải di dời khẩn cấp.
Tại xã Cái Nước, nhiều đoạn đường ven Kinh xáng Đông Hưng bị sụt lún. Rạng sáng 9/4, đoạn đường nhựa dài khoảng 30 m vừa đưa vào sử dụng bị lún sâu 0,5-1 m. Đến ngày 22/4, thêm hơn 60 m đường ở ấp Kinh Lớn tiếp tục sụp xuống, gây gián đoạn giao thông và sản xuất.
Theo thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long, sạt lở hiện xuất hiện trên diện rộng, kể cả ở các kênh rạch nhỏ.
Ông cho rằng nguyên nhân chính là đáy sông Tiền, sông Hậu bị hạ thấp do thiếu phù sa, thiếu cát từ thượng nguồn kết hợp với khai thác cát kéo dài. Khi đáy sông hạ thấp, bờ sông trở nên cao và nặng hơn, dễ sụp đổ.
Ở các vùng nông thôn, việc nạo vét lòng sông để đắp đường sát mép nước cũng làm tăng nguy cơ sạt lở. Những đoạn bờ lõm ở khúc cua thường chịu tác động mạnh của dòng chảy nên dễ bị khoét chân.
Theo ông Thiện, sạt lở thường xuất hiện từ giữa mùa khô và đạt đỉnh vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa. Khi mực nước xuống thấp, dòng chảy âm thầm khoét chân bờ. Đến mùa mưa, lớp đất phía trên mềm đi và trượt xuống sông.
Ngoài ra, tại các vùng ngọt hóa ven biển, việc khép kín đê bao để giữ nước ngọt quanh năm khiến đất yếu dễ co ngót khi thiếu nước trong mùa nắng nóng, dẫn đến sụt lún và sạt lở bờ kênh.
Cách điểm sạt lở sông Phú An gần 2 km, bà Nguyễn Thị Đó, 76 tuổi, đang sống tạm trong trung tâm văn hóa cũ cùng nhiều hộ dân khác.
Chiếc bàn thờ tổ tiên được ghép tạm từ hai bàn gỗ nhỏ đặt ở góc phòng, xung quanh là quần áo, nồi niêu vừa kịp mang đi sau vụ lở. Bà Đó cho biết từ ngày rời nhà, đêm nào bà cũng mất ngủ vì nhớ nhà và lo cho tương lai của gia đình.
“Mỗi sáng tôi đều nhờ con cháu chở về nhà cũ xem còn nhặt được gì không. Nhìn căn nhà nghiêng thêm từng ngày mà xót ruột”, bà nói.
Ngày 19/4, Bắc Ninh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở ngành với gần 400 cán bộ công đoàn cơ sở và công nhân trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, hưu trí và nhà ở xã hội.
Toàn tỉnh có hơn 26.000 doanh nghiệp với khoảng 820.000 lao động, trong đó 568.000 người làm việc tại các khu công nghiệp. Nhiều ý kiến tại hội nghị phản ánh khoảng cách giữa chính sách và thực tế việc làm, thu nhập của người lao động.
Ông Phạm Văn Trung, Chủ tịch Công đoàn Công ty Goertek Vina - doanh nghiệp điện tử có gần trăm nghìn lao động làm việc tại KCN Quế Võ, đề nghị nghiên cứu giảm tuổi nghỉ hưu với lao động sản xuất. Theo ông, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất.
"Nhiều lao động buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu", ông nói.
Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu tăng dần theo lộ trình, đồng thời cho phép nghỉ sớm tối đa 5 năm với người suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghỉ trước tuổi, người lao động bị giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu mỗi năm.
Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Về tiền lương tối thiểu vùng, bà Vũ Thị Ninh, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần công nghệ cao môi trường Bình Nguyên, cho biết mức lương tối thiểu vùng II hiện là 4,73 triệu đồng mỗi tháng. Mức này chưa theo kịp đà tăng của điện, nước, xăng dầu và nhu yếu phẩm.
"Đề xuất lãnh đạo tỉnh sớm kiến nghị với Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng để đảm bảo thu nhập và giá trị tích lũy của lao động", bà nói.
Phản hồi các kiến nghị, Phó giám đốc Sở Nội vụ Trần Văn Hà cho biết pháp luật hiện hành đã có các quy định linh hoạt cho phép nghỉ hưu sớm trong một số trường hợp, như làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Với đề xuất giảm tuổi hưu, Sở sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, tỉnh sẽ nghiên cứu giải pháp sử dụng lao động cao tuổi phù hợp hơn trong doanh nghiệp.
Về lương tối thiểu, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết đã báo cáo Bộ Nội vụ trong tháng 4, đề nghị sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp với chi phí sinh hoạt hiện nay và sẽ tiếp tục theo dõi để kiến nghị bổ sung.
Hiện mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương.
Khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 3.000 lao động tại 10 tỉnh, thành cho thấy 55% có thu nhập chỉ đủ chi tiêu cơ bản, 26% phải tằn tiện và 8% không đủ sống, phải làm thêm. Gần 73% lao động độc thân cho biết thu nhập là rào cản chính khiến họ chưa lập gia đình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Cơ quan này khuyến nghị việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần dựa trên dữ liệu về lạm phát, tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm theo kịp chi phí sinh hoạt.
Giữa trưa hè, khu vườn cau rộng hơn 5 ha của ông Hà Văn Dũng (60 tuổi, xã Giao An) phủ kín màu xanh. Những hàng cau cao, thân thẳng, tán gọn tạo khoảng không thoáng. Xen trên thân cây là các cụm cốt toái bổ bám dày, phát triển tự nhiên.
Hơn 15 năm trước, ông Dũng bắt đầu trồng cau khi nhận thấy cây phù hợp thổ nhưỡng đồi núi, chịu hạn, ít công chăm sóc. Năm 2006, ông chuyển hơn 1 ha đất sang trồng khoảng 1.200 cây. Sau 5 năm, cau cho thu hoạch, đầu ra ổn định, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Từ diện tích ban đầu, ông mở rộng lên hơn 5 ha với khoảng 13.000 cây. Ngoài bán quả, ông tận dụng mo cau, hạt cau và ươm giống để tăng thêm thu nhập. Nhờ đa dạng nguồn thu, mỗi năm vườn cau mang về tiền tỷ cho gia đình.
Tuy nhiên theo ông, phần thân cau chiếm diện tích lớn trong vườn gần như chưa được khai thác. Từ đó, ông tìm cách tận dụng để nâng giá trị.
Trong những lần lên rừng thu mua dược liệu, ông chú ý đến cốt toái bổ, loài cây thường mọc bám trên đá hoặc thân cây lớn. Đây là vị thuốc trong Đông y, dùng hỗ trợ xương khớp, được thị trường tiêu thụ ổn định. Nguồn trong tự nhiên ngày càng giảm do khai thác nhiều.
Năm 2010, ông bắt đầu thử nghiệm đưa cốt toái bổ về trồng trên thân cau. Do đặc tính sống bám, cây không cần đất nhưng giai đoạn đầu khó thích nghi. Ông phải điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng và thời điểm trồng qua nhiều năm mới ổn định.
Sau khoảng 5 năm, cây phát triển tốt, bắt đầu cho thu hoạch phần thân rễ. Thay vì bán đại trà, ông giữ lại phần lớn để nhân giống, từng bước mở rộng diện tích.
Đến nay, vườn cau có gần 1.000 bụi cốt toái bổ phân bố trên nhiều thân cây. Việc tận dụng thân cau làm giá thể giúp tiết kiệm đất, giảm chi phí và tạo điều kiện sinh trưởng gần với tự nhiên.
Giá cốt toái bổ hiện dao động 35.000-50.000 đồng mỗi kg. Theo tính toán, nếu khai thác thương mại, nguồn thu có thể đạt khoảng 200 triệu đồng mỗi năm. Tuy nhiên, ông Dũng vẫn ưu tiên nhân giống để phát triển lâu dài.
Mô hình kết hợp này giúp tăng giá trị trên cùng diện tích, đồng thời giảm phụ thuộc vào thị trường cau vốn biến động. Việc trồng dược liệu trong vườn cũng góp phần hạn chế khai thác từ rừng tự nhiên, nơi nguồn cốt toái bổ đang suy giảm.
Chính quyền địa phương đánh giá mô hình cau - dược liệu tận dụng tốt tài nguyên sẵn có. Trong bối cảnh dược liệu ngoài tự nhiên ngày càng khan hiếm, đây có thể là hướng phát triển nếu được hỗ trợ kỹ thuật.
Hiện ông Dũng tiếp tục mở rộng diện tích trồng cốt toái bổ, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm cho người dân. Ngoài cau và dược liệu, ông còn trồng thêm cây ăn quả, nuôi ong lấy mật, hướng tới mô hình kinh tế tổng hợp và phát triển du lịch sinh thái.
Bộ Nội vụ đang trình Bộ Tư pháp thẩm định dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng do Bộ Nội vụ xây dựng. Dự kiến chính sách này có hiệu lực từ 1.7, cùng thời điểm điều chỉnh lương cơ sở.
Theo dự thảo, tất cả các nhóm thụ hưởng sẽ được tăng 8% trên mức đang nhận. Nhóm này gồm người hưởng lương hưu là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang, người làm công tác cơ yếu; cán bộ cấp xã và người hoạt động không chuyên trách; người hưởng trợ cấp mất sức lao động; người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; cùng một số nhóm đang hưởng trợ cấp hàng tháng khác.
Như vậy, công thức tính lương hưu, trợ cấp khi dự kiến tăng 8% từ 1.7 tới đây sẽ như sau:
Mức lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng từ tháng từ 1.7 = mức lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng của tháng 6.2026 x 1,08.
Ví dụ 1: Người đang hưởng lương hưu mức trung bình 5 triệu đồng/tháng.
Lương hưu từ 1.7 tính theo công thức: 5 triệu đồng x 1,08 = 5,4 triệu đồng/tháng.
Như vậy, số tiền tăng thêm là 400.000 đồng. Số tiền này tương đương với chi phí tiền điện hoặc tiền gạo cả tháng của một hộ gia đình hưu trí nông thôn.
Ví dụ 2: Người đang hưởng lương hưu mức thấp: 3,2 triệu đồng/tháng.
Lương hưu từ 1.7 tính theo công thức: 3,2 triệu đồng x 1,08 = 3,456 triệu đồng/tháng.
Như vậy, số tiền tăng thêm là 256.000 đồng/tháng. Mức tăng này chỉ vừa đủ bù đắp sự tăng giá của các mặt hàng thiết yếu, khó có thể gọi là "cải thiện" đời sống.
Ví dụ 3: Nhóm có lương hưu ở mức cao trên 15 triệu đồng/tháng.
Lương hưu từ 1.7 tính theo công thức: 15 triệu đồng x 1,08 = 16,2 triệu đồng/tháng.
Như vậy, số tiền tăng thêm là 1,2 triệu đồng, gấp 3 lần so với nhóm trung bình và gấp gần 5 lần so với nhóm đang ở mức thấp.
Đáng chú ý, đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1.1.1995, Bộ Nội vụ đề xuất điều chỉnh để đạt mức 3,8 triệu đồng/tháng.
Trường hợp đang hưởng dưới 3,5 triệu đồng sẽ được tăng thêm 300.000 đồng mỗi tháng.
Cụ thể cách tính mức lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng của nhóm đối tượng này như sau:
Mức lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng từ tháng 1.7 = mức lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh + 300.000 đồng/tháng.
Đối với những người sau khi thực hiện điều chỉnh hưởng lương hưu từ 3,5 triệu đồng đến dưới 3,8 triệu đồng sẽ được nâng lên đủ 3,8 triệu đồng.
Cách tính như sau:
Mức lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng từ tháng 1.7 = 3,8 triệu đồng/tháng.
Với phương án tăng 8% mức lương hưu, trợ cấp cho toàn bộ người hưởng, cơ quan soạn thảo dự tính kinh phí tăng thêm so với năm 2025 là 10.773 tỉ đồng. Trong đó, kinh phí tăng thêm đối với nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo ước là 2.013 tỉ đồng; kinh phí tăng thêm đối với nguồn Quỹ BHXH đảm bảo ước là 8.760 tỉ đồng.
Theo cơ quan soạn thảo, mức điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng được tính toán trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2026 và năm 2025; phù hợp với ngân sách nhà nước và quỹ BHXH.
Với phương án này, việc điều chỉnh mức tăng lương hưu thỏa đáng đối với đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 bảo đảm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ; đảm bảo tính kế thừa và thông lệ của những lần điều chỉnh trước đây; đảm bảo việc tổ chức triển khai thực hiện được thuận lợi.