Nghiêm Hoàng Linh, 35 tuổi, hiện làm việc ở trường Toán và Thống kê, Đại học Sydney – ngôi trường top 25 thế giới, top 3 ở Australia theo bảng xếp hạng đại học QS 2026.
Năm ngoái, Linh cùng ba cộng sự ở Đại học Sydney và Đại học Quốc gia Australia triển khai dự án Discovery Projects do Hội đồng Nghiên cứu Australia (ARC) tài trợ, với kinh phí gần 500.000 AUD (khoảng 360.000 USD). Giữa tỷ lệ cạnh tranh với chỉ 13% hồ sơ được chọn, dự án của nhóm thuyết phục hội đồng bởi khả năng giải mã những cấu trúc phức tạp trong mạng xã hội và sinh học.
Trước một dấu ấn trong hành trình nghiên cứu, Linh nhớ về “cú trượt” thời mới tốt nghiệp đại học, khiến anh thay đổi hoàn toàn tư duy về sự nghiệp.
Linh sinh ra ở Hà Nội, là cựu học sinh chuyên Toán – Tin, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học Miami ở Florida, Mỹ, năm 2015, với thành tích học thuật, điểm GRE (bài thi chuẩn hóa dùng ứng tuyển sau đại học) thuộc nhóm top đầu và một công bố khoa học quốc tế “dắt lưng”, Linh tự tin ứng tuyển chương trình tiến sĩ ở các đại học hàng đầu thế giới. Linh nói chờ đợi một “tấm vé rực rỡ” cho tương lai, nhưng kết quả trả về là những “gáo nước lạnh”. Các trường đồng loạt từ chối, một số nơi chỉ đưa ra lời đề nghị học thạc sĩ.
“Có lúc tôi đã nghĩ hoặc là trường top hoặc là không đi đâu cả”, Linh nhớ lại. Sự thất vọng lớn đến mức khi Southern Methodist University (SMU), ngôi trường mà Linh xếp vào nhóm “dự phòng”, mời nhập học với gói học bổng Fellowship đặc biệt dành cho sinh viên xuất sắc, anh vẫn đắn đo.
Sự do dự kéo dài đến khi Linh tìm đến giảng viên hướng dẫn cũ để xin lời khuyên. Thầy đã nói một câu khiến anh thức tỉnh: “Tuyển sinh tiến sĩ ở đâu cũng cạnh tranh khốc liệt và chỉ có rất ít người được nhận. Cuối cùng, giá trị của bằng PhD là do chính em tạo ra”.
Lời khuyên ấy giúp Linh gỡ bỏ áp lực về danh tiếng để bắt đầu nhìn nhận các lựa chọn bằng tiêu chí phù hợp: Nhóm nghiên cứu có chiều sâu, quy mô người học ít để được giáo sư hướng dẫn sát sao và chương trình học cho phép tập trung tối đa vào nền tảng lý thuyết. Anh chọn SMU, lấy bằng tiến sĩ Thống kê vào năm 2019 sau 3,5 năm.
Sau này, Hoàng Linh nhận ra cú trượt khỏi các trường top không phải là thất bại, mà là điểm khởi đầu cho sự trưởng thành trong tư duy.
“Khoa học là bình đẳng. Các nhà khoa học được ghi nhớ không phải bởi nơi họ làm việc, mà bởi những công trình họ để lại”, anh nhìn nhận.
Để hoàn tất chương trình PhD trong thời gian ngắn hơn so với thông thường (5 năm), Linh cho rằng chìa khóa nằm ở việc xây dựng nền tảng vững chắc và tư duy “luôn tìm cái mới” trong từng dự án nhỏ.
Ở SMU, anh tập trung vào 6 lớp học nền tảng về Lý thuyết, Thống kê ứng dụng và Tính toán trong năm đầu. Linh nhận định những môn cơ sở ở trình độ tiến sĩ khác xa bậc đại học, thạc sĩ về cả độ khó lẫn khối lượng kiến thức. Tại đây, mọi kết quả dù là nhỏ nhất đều phải được chứng minh chặt chẽ bằng toán học.
“Bạn sẽ gặp một cú sốc lớn khi đang ở chỗ tiêu thụ kiến thức chuyển sang tư thế của người sản xuất kiến thức. Bạn không học để tích lũy cái đã có, mà học để sáng tạo ra cái mới chưa từng tồn tại”, Linh chia sẻ.
Chàng trai Việt sau đó vượt qua thử thách lớn nhất để trụ lại là kỳ thi sát hạch cuối năm thứ nhất, kéo dài ba ngày. Trong đó, ngày đầu tiên là bài thi Lý thuyết “marathon” trong 8 tiếng liên tục. Ngày thứ hai tập trung vào tư duy mô hình trong 5 tiếng, cuối cùng là 6,5 tiếng giải quyết dữ liệu thực trên máy tính.
Bước sang năm thứ hai, Linh bắt đầu rèn luyện tư duy sáng tạo thông qua các dự án cuối kỳ. Anh luôn tự đặt ra áp lực phải tìm thấy “cái mới” trong mọi đề tài nghiên cứu.
“Công việc nghiên cứu không thể chờ đợi ý tưởng từ trên trời rơi xuống. Tôi lập danh sách ý tưởng từ việc đọc hàng loạt bài báo, dù có cái không tốt nhưng chúng là mồi lửa cho những phát hiện sau này”, anh chia sẻ.
Thói quen này giúp anh vượt qua kỳ thi sát hạch thứ hai chỉ trong 30 ngày bằng việc phát triển một ý tưởng nghiên cứu mới từ các tài liệu được giao.
Linh nhìn nhận một yếu tố khác giúp anh về đích sớm là sự đồng hành của người hướng dẫn. Linh được làm việc với một giáo sư trẻ, sẵn sàng phản hồi email lúc nửa đêm, dành cả ngày để cùng anh sửa lỗi code hay trau chuốt từng câu chữ trong bản thảo. Nhờ đó, Linh tốt nghiệp với ba bài đăng trên các tạp chí uy tín hàng đầu.
Làm việc tại Đại học Sydney từ năm 2022, chủ đề bao trùm trong các nghiên cứu của Linh là phát triển các phương pháp và lý thuyết thống kê hiện đại để khai thác tri thức từ dữ liệu lớn. Theo anh, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã dẫn tới những tập dữ liệu lớn, nhiều chiều, có cấu trúc phụ thuộc phức tạp theo thời gian, không gian và mạng lưới. Điều này làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết về phương pháp thống kê mới, có khả năng chắt lọc thông tin, nhưng vẫn bảo toàn khả năng đưa ra các dự báo đáng tin cậy.
Dự án hiện tại của Linh và các cộng sự cũng vì mục tiêu này. Các phương pháp nhằm “lọc” ra phần thông tin quan trọng từ những bộ dữ liệu khổng lồ và nhiều tầng liên kết – từ dữ liệu gene, hồ sơ bệnh án cho tới hành vi trên mạng xã hội. Nhờ đó, các nhà sinh học có thể hiểu rõ hơn cơ chế gây bệnh, trong khi các nhà quản lý có thêm công cụ nhận diện và hạn chế sự lan truyền của thông tin sai lệch trên môi trường số.
Linh quan niệm nếu khoa học giống như một kim tự tháp 100 tầng, người ta thường chỉ nhớ viên gạch đầu tiên và cuối cùng. Nhưng từ tầng hai đến 99 là cả một hành trình dài với nhiều người.
“Tôi nghĩ điều quan trọng không phải mình đứng ở tầng nào, mà là có đang góp một viên gạch có ích cho nó hay không”, anh nói.
PGS. TS Nguyễn Hữu Cương, Hiệu trưởng trường Đại học Phương Đông, đưa ra nhận định trên tại ngày hội khám phá các ngành học, nghề nghiệp - Future Fest, ngày 24/4.
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường không được tăng chỉ tiêu tuyển sinh nếu có hơn 15% sinh viên thôi học ngay trong năm đầu. Ông Cương đánh giá con số này là có cơ sở.
Số liệu tổng hợp của Tập đoàn Giáo dục Văn Lang, dựa trên các nghiên cứu trong nước và quốc tế, cho thấy khoảng 50% sinh viên cảm thấy lựa chọn ngành học ban đầu chưa phù hợp. Trong đó, 15% muốn đổi ngành ngay từ năm nhất đại học.
"Đây là sự lãng phí rất lớn về cả thời gian và tiền bạc", ông Cương nói.
Nguyên nhân dẫn đến chọn sai ngành, theo ông Cương là do học sinh chưa được định hướng nghề nghiệp tốt, chưa hiểu rõ bản chất ngành nghề và đưa ra quyết định dựa trên thông tin một chiều. Đặc biệt, rất nhiều học sinh chọn ngành theo ý bố mẹ.
Ông lấy ví dụ trường hợp cả nhà theo ngành Kế toán nên rất muốn con theo ngành đó. Thế nhưng sau khi vào học, sinh viên thấy không thích mà muốn theo đuổi các ngành ngôn ngữ. Nếu cố học, em này có thể đạt điểm thấp, thậm chí không thể ra được trường.
40 năm làm việc trong ngành Y, trong đó nhiều năm giảng dạy tại Đại học Y Hà Nội, TS Đặng Thị Ngọc Dung, Viện Karolinska, Thụy Điển, cũng thấy vấn đề tương tự.
Không có khảo sát chính thức nào từ các trường Y về lựa chọn ngành, nghề của sinh viên. Tuy nhiên, theo bà Dung, rất nhiều gia đình muốn con học Y vì "đây là nghề có nhiều hào quang mà cả dòng họ chưa ai học".
Bà Dung nhớ mãi một sinh viên do mình phụ trách bị trượt một môn ba lần. Đến năm thứ 5, em này nợ tới 5 môn chuyên ngành. Khi được hỏi, nam sinh bật khóc, thừa nhận không thích học Y mà muốn làm nhà văn, nhưng bị gia đình ép theo ngành. Áp lực từ bố mẹ quá lớn khiến em không dám tự ý chuyển trường, suy kiệt cả về thể chất và tinh thần.
"Những năm tháng tuổi trẻ lẽ ra phải được hạnh phúc thì em ấy lại sống trong khổ sở và vật vã với một ngành học không thuộc về mình", bà Dung nhìn nhận.
Bà khuyên phụ huynh trở thành những "nhà đầu tư thiên thần", đầu tư niềm tin và thông tin cho con, cùng con đặt câu hỏi để tìm hiểu ngành nghề yêu thích, thay vì áp đặt ước mơ của mình lên vai con.
Với học sinh, ông Cương khuyên tìm hiểu ngành nghề một cách thực chất, thay vì chỉ tham khảo thông tin qua website các trường đại học.
Ở ngày hội Future Fest, học sinh được nghe các chuyên gia đầu ngành chia sẻ thông tin, được "chạm tay" trực tiếp vào robot, mô hình công trình hay thử học một ngôn ngữ. Các trường khác cũng tổ chức nhiều hoạt động tương tự. Nếu tham gia, học sinh hình dung tốt hơn về ngành, nghề.
Nói thêm, bà Nguyễn Thị Liên, Giám đốc Chiến lược và Chuyển đổi, Công ty Cổ phần Công nghệ Viindoo, lưu ý học sinh tìm kiếm thông tin trên các nền tảng, diễn đàn về nghề nghiệp để xem mô tả công việc, yêu cầu tuyển dụng, mức lương... , thay vì lựa chọn cảm tính hoặc nghe theo lời khuyên của bố mẹ.
Còn nếu chọn sai, ông Cương cho rằng các sinh viên nên mạnh dạn thay đổi sớm, đồng thời trao đổi với giảng viên, gia đình để được hỗ trợ tìm hướng phù hợp.
Bà Liên đồng tình. Theo bà, điều quan trọng là dám thử và khi thử phải làm đến cùng, phát huy khả năng học hỏi, thích nghi. Khi không thấy hợp thì sinh viên có thể chuyển.
Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".
10 chuyên đề ôn tập môn lịch sử thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Nguyễn Viết Đăng Du, Trường THPT Lê Quý Đôn (P.Xuân Hòa), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=NnYezEcQAEU
Trong chuyên đề 3, Cách mạng tháng Tám năm 1945, giáo viên cung cấp tóm tắt, khái quát những nội dung về bối cảnh lịch sử, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho học sinh cuối cấp chuẩn bị bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Trước đó, vào ngày 25.4, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 2 - ASEAN: Những chặng đường lịch sử, giáo viên tóm tắt những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN; Quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng ASEAN.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, Quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Lịch phát sóng tuần từ 27.4 đến 2.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026: