Danh sách do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt đầu tháng 5. Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP HCM, dẫn đầu với 9 chương trình kỹ sư và 6 chương trình thạc sĩ, thuộc các lĩnh vực Khoa học Sự sống, Kỹ thuật, Sản xuất và Chế biến, Kiến trúc và Xây dựng.
Nhóm chỉ có một chương trình được phê duyệt là Đại học Kinh tế TP HCM, Sư phạm Hà Nội, Tôn Đức Thắng, VinUni.
Theo chuẩn đào tạo chương trình kỹ sư, thạc sĩ tài năng lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hồi tháng 9/2025, chương trình kỹ sư tài năng có ít nhất 180 tín chỉ, nhiều hơn 30 so với thông thường. Trong đó, ít nhất 8 tín chỉ được đào tạo tại doanh nghiệp. Với chương trình thạc sĩ tài năng, người học phải hoàn thành ít nhất 60 tín chỉ nếu đã tốt nghiệp đại học cùng nhóm ngành.
Đội ngũ giảng viên phải có từ 90% tiến sĩ trở lên. Ngoài ra, quá trình đào tạo có giảng viên quốc tế tham gia. Nếu không đáp ứng các điều kiện trên, chương trình bị đình chỉ tuyển sinh.
Về phía người học, luận văn tốt nghiệp phải gắn với nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ trở lên hoặc đề tài nghiên cứu hợp tác với doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược (AI, Blockchain, mạng di động 5G/6G, điện toán đám mây, robot và tự động hóa, chip bán dẫn…)…
Danh sách 90 chương trình kỹ sư, thạc sĩ tài năng lĩnh vực STEM như sau:
Theo Đề án được Chính phủ phê duyệt tháng 5/2025, một trong những mục tiêu đến năm 2030, 35% tổng số sinh viên theo học khối ngành STEM, xây dựng 100 chương trình kỹ sư, thạc sĩ và 100 chương trình tiến sĩ tài năng.
Các trường sẽ được đầu tư nâng cấp phòng thí nghiệm, công nghệ, tạo điều kiện thu hút giảng viên giỏi ở nước ngoài về làm việc; tăng cường quyền tự chủ trong thu hút nhóm xuất sắc vào các vị trí quản lý học thuật gắn với bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư… Trong khi đó, người học được miễn, giảm học phí, ưu tiên học bổng ở mức cao nhất.
Tin Gốc: Vnexpress

Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
"Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói", ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
"Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ", ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
"Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng", ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,...
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho "lý thuyết vạn vật" có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
"Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm", Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
"Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học", ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao: Hệ thống hóa môn tiếng Anh

Chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 sẽ phát sóng chuyên đề đầu tiên của môn tiếng Anh tại địa chỉ thanhnien.vn , Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=l7m6JaovjZw
Chuyên đề đầu tiên của môn tiếng Anh do giáo viên Trương Thị Cẩm Hân, Trường quốc tế Á Châu (Asian School) thực hiện.
Chuyên đề 1 có chủ đề ôn tập Trật tự tính từ (Order of Adjectives). Giáo viên Trường Quốc tế Á Châu sẽ cùng học sinh hệ thống hóa quy tắc sắp xếp tính từ theo trình tự, nhấn mạnh tính logic trong việc đặt các tính từ khách quan mô tả bản chất gần danh từ hơn các tính từ chủ quan.
Bắt đầu từ hôm nay, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, Quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 20 đến 25.4 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn: Cơ hội rất lớn cho giáo dục

Những gì ông sẽ nỗ lực ở vị trí "tư lệnh ngành"?
* Trong bối cảnh cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhiều cơ sở đại học đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào các ngành mạnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng, hợp tác quốc tế nhưng đó vẫn là những nỗ lực đơn lẻ. Ở nhiệm kỳ của mình, ông có dự định gì trong việc đề xuất, triển khai để tạo cơ hội hình thành các trường/nhóm trường mạnh có sức cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo nhân lực chất lượng cao?
- Nghị quyết số 57 và số 71 của Bộ Chính trị đã mở ra một cơ hội chưa từng có cho hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục đại học nói riêng với những chủ trương, quyết sách và cam kết nguồn lực đầu tư mạnh mẽ.
Nghị quyết 57 đã xác định các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm ngang tầm khu vực và thế giới, trở thành các trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành bốn văn bản luật và hai nghị quyết, trong đó có những cơ chế, chính sách đột phá và chương trình mục tiêu quốc gia.
Để cụ thể hóa các chủ trương thành hành động, giải pháp cụ thể, trong thời gian qua bộ đã chủ trì và cũng như phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nhiều đề án phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đề án và chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng có một cấu phần quan trọng, đó là đầu tư trọng điểm cho khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phấn đấu có ít nhất 8 đại học thuộc nhóm đầu khu vực châu Á. Hiện nay bộ cũng đang hoàn thiện trình Chính phủ một số nghị định về cơ chế tài chính, tự chủ đại học và chính sách học bổng cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy có thể nói cơ sở chính trị, pháp lý với hệ thống cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được thiết kế khá đầy đủ. Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
* Hành trình giao tự chủ cho đại học đã có một bước tiến dài, tuy nhiên còn có nhiều vấn đề bất cập. Nhưng dường như giai đoạn vừa qua việc tự chủ mới chỉ là trông đợi vào đóng góp xã hội, tự chủ là trường tự lo, là càng xã hội hóa càng nhiều càng thành công. Quan điểm của ông về tự chủ đại học là như thế nào? Theo ông, việc gì cần cấp bách xử lý để thúc đẩy việc này?
- Trong thời gian 8 đến 10 năm trở lại đây, chính sách tự chủ đại học đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và tư thục, đã rất chủ động, nỗ lực huy động các nguồn lực, tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên để có năng lực cạnh tranh quốc tế và đáp ứng tốt yêu cầu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cho phát triển đất nước, những sự nỗ lực của riêng các cơ sở giáo dục đại học là không đủ khi nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí và chính sách xã hội hóa.
Đây là một điểm nghẽn lớn đã được chỉ ra trong nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: "quan niệm về tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững".
Từ đó, nghị quyết 71 khẳng định "Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân", "Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính".
Phần nhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết cũng đã nêu rõ "...chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học".
Như vậy, quan điểm về tự chủ đại học và chủ trương tăng mạnh đầu tư cho giáo dục đại học đã được khẳng định rõ trong nghị quyết của Đảng. Nội dung này cũng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới được
Quốc hội ban hành cuối năm 2025. Vấn đề còn lại là quản trị thực thi, trong đó đặc biệt là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ Nhà nước cũng như huy động nguồn lực từ xã hội.
* Ông từng bày tỏ quan điểm các trường tự chủ nhưng Nhà nước vẫn cấp kinh phí "đặt hàng" cơ sở đại học để triển khai các dự án mang tính trọng điểm. Nhưng trên thực tế vấn đề này vẫn đang gặp khó khăn. Theo ông, cần giải quyết những gì từ cơ chế và năng lực của các cơ sở đại học để hiện thực hóa được điều này?
- Chúng ta nói nhiều và kỳ vọng nhiều vào đổi mới cơ chế tài chính đại học thông qua "đặt hàng" các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên cơ chế đặt hàng đào tạo hiện nay mới được thực hiện ở phạm vi rất hẹp do một số vấn đề vướng mắc, chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận "đặt hàng theo đầu vào".
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì xây dựng nghị định của Chính phủ có nội dung về cơ chế đặt hàng theo đầu ra. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ đặt hàng và chi trả cơ sở đào tạo theo số người tốt nghiệp thực tế được nhận vào làm việc tại nơi làm việc và trong lĩnh vực theo nhu cầu đặt hàng.
Đối với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cần phân biệt rõ giữa "tài trợ" và "đặt hàng". Khác với tài trợ nghiên cứu khi mà sản phẩm đầu ra chủ yếu do nhóm nghiên cứu quyết định bảo đảm phù hợp với mục đích tài trợ, vấn đề mấu chốt đối với đặt hàng nghiên cứu và phát triển là cần xác định rõ yêu cầu kết quả đầu ra là gì và ai có nhu cầu cũng như trách nhiệm đặt hàng.
Cũng cần nhìn nhận sứ mạng và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là để tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhiều kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giải pháp và sản phẩm ứng dụng, mang lại giá trị thương mại trong thực tế, nhưng đó là một chặng đường dài và cần có sự tham gia, đồng hành và hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp.
Vì vậy Nhà nước cần tài trợ và đặt hàng đại học để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo ra tri thức và công nghệ mới nhưng doanh nghiệp thì cần hợp tác với đại học để kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và giải pháp thực tế.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

