Tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, Pháp, lễ công bố cấp cao của báo cáo GEM (báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu) mới đây đã quy tụ hơn 21 bộ trưởng, thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo cùng nhiều các chuyên gia, lãnh đạo giáo dục của nhiều quốc gia. vùng lãnh thổ.
Cùng với đó là sự tham gia của các thiết chế định hình chính sách và dòng chảy nguồn lực như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ủy ban châu Âu (European Commission), Liên minh toàn cầu vì giáo dục (Global Partnership for Education), Viện quốc tế về quy hoạch giáo dục của UNESCO (IIEP UNESCO)…
Tham dự lễ công bố báo cáo với tư cách học giả Chevening ngành lãnh đạo Giáo dục tại ĐH UCL (Vương quốc Anh), tôi cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quy mô hội nghị, mà ở cách các vấn đề được đặt lại một cách có hệ thống. Đặc biệt là câu chuyện về công bằng giáo dục. Điểm cốt lõi của báo cáo nằm ở 3 câu hỏi.
Một trao đổi với tiến sĩ Manos Antoninis, Giám đốc Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu (GEM), đã gợi mở thêm cho tôi một điểm đáng suy nghĩ. Điều ông quan tâm không chỉ là tốc độ mở rộng hệ thống giáo dục, mà là cách một quốc gia lựa chọn ưu tiên khi nguồn lực luôn hữu hạn.
Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là mở rộng hệ thống giáo dục bao nhiêu, mà là sự mở rộng đó đang tạo khác biệt ở đâu và cho ai.
Mở rộng tiếp cận cơ hội được đi học cho mọi người, nhưng chưa chắc đồng nghĩa với thu hẹp bất bình đẳng. Một hệ thống có thể tăng nhanh về quy mô mà vẫn giữ nguyên, thậm chí làm sâu thêm, khoảng cách giữa những nhóm người học có xuất phát điểm khác nhau, khi việc mở rộng chủ yếu diễn ra ở điểm đầu vào, trong khi chất lượng học tập, các lộ trình học tiếp và cơ hội sau giáo dục lại phân bổ rất không đồng đều.
Trong trường hợp đó, bất bình đẳng trong giáo dục không biến mất mà dịch chuyển qua các tầng của hệ thống. Việc người ta quan tâm không chỉ là ai được đi học. Mà là được đi học trong điều kiện nào, ai có nhiều lựa chọn hơn sau khi học, ai có thể chuyển hóa giáo dục thành cơ hội phát triển trong cuộc đời.
Trên giấy tờ, không ít quốc gia đã có những định hướng đúng về giáo dục, từ mở rộng tiếp cận, cải thiện chất lượng đến thúc đẩy công bằng giáo dục. Nhưng khi đi vào thực tế, khoảng cách giữa cam kết và kết quả lại xuất hiện, không phải vì thiếu chính sách, mà vì chính sách không đi trọn được đến lớp học.
Điểm nghẽn thường không nằm ở cấp chính sách quốc gia, mà ở cách chính sách được triển khai qua nhiều tầng nấc thang. Từ quy định chung, đến hướng dẫn cụ thể, rồi đến thực hành trong từng nhà trường, mỗi bước đều có thể làm “hao hụt” ý định ban đầu. Khi xuống đến lớp học, giáo viên thường phải đối diện với những tình huống rất khác với giả định trong chính sách, trong khi không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện hoặc không gian để điều chỉnh.
Bên lề chương trình, khi chúng tôi trao đổi với ông Sobhi Tawil, Giám đốc Ban tương lai học tập và đổi mới của UNESCO, câu chuyện được mở rộng sang vai trò của giáo viên trong bối cảnh AI. Theo ông, điều cần quan tâm không chỉ là công nghệ đi vào nhà trường nhanh đến đâu, mà là giáo viên có được chuẩn bị để sử dụng công nghệ theo hướng hỗ trợ người học hay không. Trong một môi trường học tập ngày càng nhiều nguồn tri thức, vai trò của giáo viên không giảm đi, mà chuyển sang yêu cầu cao hơn về định hướng, lựa chọn và dẫn dắt việc học.
Công bằng giáo dục, trong nhiều trường hợp, không đến từ việc phân bổ đồng đều, mà từ khả năng hướng nguồn lực đến những điểm cần thiết nhất, đặc biệt với những nhóm người học có nguy cơ bị gián đoạn hành trình học tập.
Chúng tôi có một trao đổi ngắn với giáo sư Giuseppe Valditara, Bộ trưởng Giáo dục và Trọng dụng năng lực của Ý. Khi nói về công bằng trong giáo dục, ông không đặt trọng tâm vào việc mở rộng cơ hội theo nghĩa hình thức, mà vào cách hệ thống sử dụng các công cụ tài chính cụ thể, đặc biệt là học bổng và các chương trình hỗ trợ đi kèm, để giữ người học ở lại trong hành trình học tập.
Khi được thiết kế đúng, các công cụ này không chỉ giảm bớt rào cản tài chính trực tiếp, mà còn tạo ra điều kiện để người học có thể tiếp tục theo đuổi việc học một cách ổn định hơn.
Trong cách tiếp cận đó, công bằng không nằm ở việc tất cả đều nhận được như nhau, mà ở việc những học sinh có nguy cơ bị bỏ lại phía sau được hỗ trợ đủ để không rơi khỏi hệ thống.
Điều này đòi hỏi các chính sách tài chính không chỉ dừng ở mức phân bổ ngân sách, mà phải đi kèm với những chương trình cụ thể, có khả năng theo sát và hỗ trợ người học trong suốt quá trình.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những kỳ vọng rất lớn, từ tăng trưởng kinh tế đến chuyển dịch sang một nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, công bằng giáo dục vì thế không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục.
Trong một thời gian dài, mở rộng cơ hội đi học được xem là thước đo quan trọng nhất của giáo dục. Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn bao giờ hết, câu hỏi đặt ra không còn dừng ở việc bao nhiêu người có thể bước vào, mà chuyển sang một điều khó hơn nhiều, ai có thể đi đến cùng, và đi đến cùng với chất lượng ra sao.
Chính ở điểm chuyển này, câu chuyện về giáo dục không còn là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà bắt đầu chạm trực tiếp đến năng lực tăng trưởng của mỗi quốc gia. Khi những khác biệt trong hành trình học tập không được giải quyết, chúng không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động, năng suất và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ và AI đang định hình lại cách con người học và làm việc, những khác biệt về điều kiện học tập nếu không được xử lý sớm sẽ không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động và cơ hội phát triển sau này. Khi đó, bất bình đẳng trong giáo dục không còn là một vấn đề xã hội thuần túy, mà trở thành một giới hạn trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Vì vậy, tiếp cận và công bằng không chỉ là những mục tiêu cần đạt được, mà là điều kiện để hệ thống giáo dục có thể thực hiện được vai trò của mình. Một hệ thống có thể mở rộng rất nhanh, nhưng nếu không giữ được sự cân bằng giữa các nhóm người học, thì chính tốc độ đó có thể tạo ra những khoảng cách mới.
Việc rà soát lần này thực hiện theo kế hoạch số 179 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm ba nội dung: khảo sát năng lực tiếng Anh; xác định nhu cầu bồi dưỡng đối với nhà giáo dạy tiếng Anh; tổ chức các hoạt động giáo dục và dạy các môn học, chuyên ngành khác bằng tiếng Anh.
Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM đề nghị UBND phường, xã, đặc khu; thủ trưởng cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, nghề nghiệp công lập và ngoài công lập trực thuộc sở thực hiện hai nhiệm vụ:
Một là tổ chức cho nhà giáo (trừ giáo viên dạy tiếng Anh) tự đánh giá năng lực tiếng Anh theo khung năng lực 6 bậc của Việt Nam; rà soát nhu cầu bồi dưỡng để cơ quan quản lý giáo dục các cấp xây dựng kế hoạch phù hợp, phục vụ việc giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục bằng tiếng Anh.
Được biết, vào tháng 5-2025 (trước sáp nhập), Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM cũng đã thực hiện kỳ khảo sát năng lực tiếng Anh với quy mô lớn đối với giáo viên, cán bộ quản lý toàn TP.
Theo kết quả khảo sát, đã có 50.278 giáo viên (tiểu học có 22.284 giáo viên, THCS là 10.088 và THPT là 8.229) tham gia thực hiện bài khảo sát trực tuyến theo dạng trắc nghiệm khách quan, thời lượng 90 phút. Trong số 50.278 giáo viên có 4.721 giáo viên tiếng Anh và 45.557 giáo viên các môn học khác.
Các giáo viên thực hiện bài khảo sát năng lực tiếng Anh do Cambridge Assessment English thiết kế và chuẩn hóa, gồm ba kỹ năng nghe, đọc và viết, đánh giá theo khung tham chiếu châu Âu CEFR (từ A1 đến C2).
Kết quả toàn bộ 50.278 giáo viên: A1 chiếm 9,45%; A2: 11,35%; B1: 35,09%; B2: 13,63%; C1: 3,69%; C2: 0,29%; các trình độ khác: 26,5%.
Tính riêng từng cấp:
Tiểu học (22.284 giáo viên): A1: 9,95%; A2: 11,85%; B1: 34,46%; B2: 13,43%; C1: 1,91%; C2: 0,17%...
Thông tin trên được Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD-ĐT) nhận được ngày 23.4. Đây là năm thứ 2 đoàn học sinh Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic hóa học quốc tế Mendeleev (IMChO) lần thứ 60, diễn ra từ ngày 15 - 23. 4 tại Moscow, Liên bang Nga.
Cụ thể, 2 huy chương vàng thuộc về các học sinh: Ngô Hoàng Minh, lớp 12, Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam; Nguyễn Thái Minh, lớp 11, Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội.
2 học sinh giành huy chương bạc gồm: Nguyễn Hữu Tuệ, lớp 12,Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Công Thành, lớp 12, Trường THPT chuyên Chu Văn An, Hà Nội.
Đặc biệt, em Ngô Hoàng Minh đã xuất sắc xếp thứ 2 toàn kỳ thi và 3 thí sinh còn lại đều trong nhóm 30.
Đây là năm thứ hai Việt Nam chính thức tham dự IMChO, tuyển chọn từ kỳ thi chọn đội tuyển Olympic khu vực và quốc tế năm 2026 của Bộ GD-ĐT.
IMChO được tổ chức dưới sự bảo trợ của "Thập kỷ Khoa học và Công nghệ tại Nga" do Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin công bố; đồng thời do Khoa Hóa học, Trường ĐH Tổng hợp quốc gia Moscow mang tên M.V. Lomonosov và Quỹ Melnichenko phối hợp tổ chức.
IMChO kế thừa truyền thống từ kỳ thi Olympic hóa học toàn Liên bang Xô Viết, duy trì từ năm 1967. Năm 2026, kỳ thi kỷ niệm lần thứ 60, được tổ chức tại Moscow với sự tham gia của thí sinh đến từ 37 quốc gia.
IMChO, cùng với Olympic hóa học quốc tế (IChO), là những kỳ thi học thuật danh giá và có độ khó cao nhất thế giới trong lĩnh vực hóa học dành cho học sinh phổ thông. Giới chuyên gia vẫn gọi đây là "Kỳ thi hóa học khó nhất hành tinh" vì các bài toán trong kỳ thi có độ khó và tính phân hóa rất cao..
IMChO được tổ chức qua 3 vòng thi trong 3 ngày, gồm 2 vòng thi lý thuyết và 1 vòng thi thực hành, mỗi vòng thi kéo dài 5 giờ. Ban tổ chức trao giải cho khoảng 60% thí sinh tham dự.
King's College Wimbledon TP.HCM dự kiến khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 8 năm 2027, cung cấp lộ trình giáo dục Anh quốc toàn diện cho học sinh từ 2 đến 18 tuổi, (tương đương bậc mầm non đến trung học).
Được thành lập theo Hiến chương Hoàng gia năm 1829, ban đầu là khối tiểu học của Trường đại học King's College London, King's kế thừa và phát huy tinh hoa của giáo dục Anh quốc. Trường liên tục nằm trong xếp hạng các tổ chức giáo dục hàng đầu thế giới, được công nhận là: một trong năm trường phổ thông tốt nhất thế giới* và là một trong những trường tư thục hàng đầu tại Vương quốc Anh**.
Thành tích học thuật của King's cũng được xếp hạng hàng đầu tại Anh quốc: Hơn 98% kết quả GCSE và IGCSE đạt mức A*/A (tương đương 9-7), và hơn 96% kết quả A Level đạt A*/A/B, trong đó hơn một nửa đạt mức A* hoặc tương đương theo thang điểm 7 của IB. Mỗi năm, hầu hết học sinh ( 99%) đều trúng tuyển được các trường đại học danh tiếng trên thế giới, với 25% giành được suất vào Oxford, Cambridge và các trường trong nhóm Ivy League danh giá của Hoa Kỳ.
Triết lý giáo dục của King's hướng tới "Thế giới sau cánh cửa trường học" (The world beyond) và cuộc sống ở tuổi 25 (Life at 25), trang bị cho học sinh trải nghiệm giáo dục xuất sắc về Trí tuệ, Tinh thần và Nhân cách, cùng sự chuẩn bị tốt nhất cho tương lai trong thế giới rộng lớn sau cánh cửa trường học.
Tiến sĩ Anne Cotton, Hiệu trưởng King's College School, Wimbledon kiêm Hiệu trưởng Danh dự của King's College Wimbledon TP.HCM, cho biết: "Tại King's, sứ mệnh của chúng tôi là mang đến cho học sinh nền giáo dục kết hợp hài hòa giữa Trí tuệ, Tinh thần và Nhân cách, cùng sự chuẩn bị tốt nhất cho tương lai trong thế giới rộng lớn sau cánh cửa trường học. Với việc ra mắt King's College Wimbledon TP.HCM, chúng tôi cam kết đồng hành chặt chẽ cùng đội ngũ tại Việt Nam và kết nối với cộng đồng King's toàn cầu, nhằm mang giáo dục Anh Quốc nguyên bản nhất đến Việt Nam".
Trường tại TP.HCM sẽ được quản lý và bảo đảm chất lượng trực tiếp bởi King's College School, Wimbledon. Nhằm đảm bảo mang đến một nền giáo dục nguyên bản nhất, King's sẽ tham gia và kiểm soát toàn bộ quá trình, từ thiết kế chương trình học, tuyển dụng và đào tạo giáo viên, đến công tác chăm sóc học sinh, triển khai các chương trình học thuật và phát triển cá nhân.
Ông Kieran McLaughlin, Hiệu trưởng Sáng lập của King's College Wimbledon TP.HCM, nhấn mạnh: "Giá trị cốt lõi của King's College Wimbledon TP.HCM nằm ở chương trình học được thiết kế chặt chẽ, giúp học sinh phát triển tư duy và đạt được kết quả học tập ngoài mong đợi. Ngoài ra, chương trình Phát triển Toàn diện Cá nhân (Personal Enrichment Programme) đặc biệt sẽ trang bị cho các em sự linh hoạt và khả năng thích ứng vượt trội trong một thế giới không ngừng biến động".
Ngôi trường mới tọa lạc tại The Global City, TP.HCM với diện tích gần 2 hecta. Hệ thống cơ sở vật chất hiện đại hỗ trợ tối đa cho lộ trình học tập lẫn phát triển cá nhân toàn diện của học sinh. Các tiện ích vượt trội bao gồm: sân bóng đá 7 người, nhà thi đấu đa năng, hồ bơi trong nhà tiêu chuẩn 25m cùng hồ bơi chuyên biệt cho khối mầm non, hệ thống phòng thí nghiệm khoa học hiện đại và nhà hát quy mô 500 chỗ ngồi. Bên cạnh đó là các không gian học tập ngoài trời cùng khu vực dành riêng cho biểu diễn nghệ thuật và sáng tạo.
Hiện tại, School Gallery đã chính thức mở cửa, sẵn sàng chào đón quý phụ huynh đến tham quan. Đây là không gian đầu tiên phản ánh tinh thần và tiêu chuẩn của nhà trường, nơi phụ huynh và học sinh có thể trải nghiệm về môi trường giáo dục, tìm hiểu về cơ sở vật chất, trực tiếp trao đổi cùng đội ngũ chuyên gia học thuật về phương pháp giáo dục của King's College Wimbledon TP.HCM.
Truy cập website để tìm hiểu thêm thông tin về trường King's College Wimbledon TP.HCM: https://kingshcmc.edu.vn/
* Top 5 trường tốt nhất thế giới (Theo Bảng xếp hạng HSBC Hurun Education Global High Schools 2025)
** Trường tư thục hàng đầu tại Vương quốc Anh (Xếp hạng bởi The Sunday Times Parent Power - 2026)