Báo Chosun Daily ngày 15-5 đưa tin CEO Tesla Elon Musk gây chú ý khi đưa con trai đi cùng phái đoàn Mỹ trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Donald Trump.
Hôm 14-5, ông Musk đã xuất hiện ở Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh cùng con trai 6 tuổi X.
Cậu bé thu hút chú ý khi được cha nắm tay và đeo chiếc túi hình mặt rồng kiểu dân gian Trung Quốc. Trong buổi chụp hình kỷ niệm với các quan chức Chính phủ Mỹ, ông Musk đã cõng con trai.
Trên mạng xã hội, vị tỉ phú tiết lộ: “Thằng bé đang học tiếng Quan Thoại”.
Theo tờ Shanghai Daily, chiếc túi hình mặt rồng của cậu bé X là một sản phẩm thủ công, do cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Tây làm. Mỗi chiếc có giá 47 USD. Công ty sản xuất chiếc túi chỉ có khoảng 100 chiếc trong kho.
Sau khi hình ảnh con trai ông Elon Musk mang túi lan truyền, doanh số bán hàng của công ty nói trên đã tăng gấp 10 lần chỉ trong tối 14-5.
Người dùng mạng xã hội nhận xét: “Không khí giống một chuyến đi dã ngoại hơn là một chuyến thăm cấp nhà nước”.
Theo thông báo từ Nhà Trắng, phái đoàn thăm Trung Quốc cùng Tổng thống Donald Trump bao gồm 14 giám đốc điều hành hàng đầu của các tập đoàn Mỹ từ nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm công nghệ thông tin, hàng không vũ trụ và tài chính, như Elon Musk (Tesla), Jensen Huang (NVIDIA), Tim Cook (Apple), Kelly Ortberg (Boeing), Larry Fink (BlackRock) và David Solomon (Goldman Sachs).
Ông Trump cho biết: “Tôi đã mang đến những đại diện ưu tú nhất của cộng đồng doanh nghiệp Mỹ. Họ đều tôn trọng, coi trọng Trung Quốc và tôi khuyến khích họ mở rộng hợp tác với quốc gia này”.
Đáp lại, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận định: “Cánh cửa của Trung Quốc sẽ ngày càng rộng mở hơn và tôi tin rằng các công ty Mỹ sẽ có triển vọng lớn hơn nữa tại đây”.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

"Mẹ đã được giải thoát khỏi những cơn đau, nhưng khi bà mất tôi nhận ra mình thực sự cô độc trên đời", chị My, 37 tuổi, ở Bắc Ninh nói.
Năm 2023, mẹ chị phát hiện ung thư giai đoạn ba trên nền bệnh Parkinson. Chị My nghỉ việc tại Hà Nội, chuyển sang làm tự do để vừa chăm con nhỏ, vừa lo cho mẹ. Thời điểm bà bị bệnh viện trả về, con thứ hai của chị mới ba tháng tuổi. Một mình chị xoay xở với 5 cữ thuốc, bơm cháo qua ống sonde, thay băng và xử lý dịch khối u mỗi ngày.
Chồng đi làm xa đến khuya, họ hàng chỉ hỗ trợ được lúc ngặt nghèo. Mẹ chị không nói được nên mỗi khi cần con gái trợ giúp, bà vỗ tay. "Có những đêm vừa chợp mắt đã bật dậy vì tiếng vỗ tay. Mọi thứ cứ lặp lại đến kiệt sức", chị kể.
Anh Trần Quốc Trung, 26 tuổi, ở Ninh Bình cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Hai năm trước, anh nghỉ việc ở nước ngoài về chăm mẹ đột quỵ nằm liệt giường. Không có anh chị em, Trung vừa làm việc tự do, vừa hỗ trợ bố chăm mẹ. Để duy trì tài chính chi trả viện phí của mẹ, anh làm hai, ba công việc một lúc, mỗi ngày chỉ ngủ 4 tiếng.
"Một bên là mẹ bệnh, một bên là bố đã già yếu. Nhiều lúc tôi muốn trốn đi đâu đó nhưng không thể vì mình là điểm tựa duy nhất", Trung nói.
Theo tiến sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh, Học viện Chính trị Khu vực II, những người con một phải gánh chịu áp lực như Hà My, Quốc Trung không hiếm, tương lai sẽ tăng lên bởi quy mô gia đình Việt Nam có xu hướng ít người hơn.
Theo thống kê của Bộ Y tế, mức sinh toàn quốc đang giảm mạnh, từ 2,11 con/phụ nữ năm 2021 xuống 1,91 vào năm 2024 và tiếp tục xu hướng giảm. Báo cáo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy nhóm hộ gia đình từ 1 đến 3 người chiếm 50% trên cả nước. Đây là sự dịch chuyển cấu trúc xã hội rất lớn khi mô hình gia đình truyền thống (4-5 người trở lên) không còn áp đảo. Điều này đồng nghĩa số gia đình một con, trong đó người con phải gánh toàn bộ trách nhiệm chăm sóc cha mẹ, ngày càng tăng.
GS TS Giang Thanh Long, chuyên gia về dân số, nhận định hệ thống chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào gia đình. Khi quy mô gia đình thu hẹp theo mô hình "1-2-4" (một người con phải lo cho hai bố mẹ và bốn ông bà), gánh nặng sẽ dồn lên vai từng cá nhân. "Khoảng trống giữa nhu cầu chăm sóc và hệ thống hỗ trợ cộng đồng đang ngày càng lớn", ông Long nhấn mạnh.
Nghiên cứu từ Đại học Missouri (Mỹ) trên 1.800 người cũng chỉ ra con một có mức độ căng thẳng cao hơn hẳn khi chăm sóc người thân. Họ thường rơi vào tình trạng "caregiver burnout" (người chăm sóc kiệt sức) nhanh hơn vì không có người cùng chia sẻ những ký ức gia đình hay cùng bàn bạc trước các quyết định sinh tử của cha mẹ.
Tuy vậy, giáo sư Long cho rằng không nên nhìn vấn đề một chiều. Sinh nhiều con không đồng nghĩa cha mẹ sẽ được chăm sóc tốt. Trong những gia đình khó khăn, sự thiếu thốn có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Ngược lại, nếu con một được đầu tư tốt về giáo dục, sức khỏe và tài chính, việc chăm sóc cha mẹ sẽ được thực hiện tốt trong khả năng.
Ở góc nhìn khác, tiến sĩ Nguyễn Thị Minh cho biết rằng con một không chỉ gánh trách nhiệm tài chính, thể chất mà còn gánh toàn bộ kỳ vọng tình cảm. Trong khi những gia đình đông con có thể bù đắp cho nhau (người góp tiền, người góp công sức), con một hoàn toàn không có "hệ thống dự phòng" này.
Một bất lợi nữa là mối gắn kết sâu sắc giữa con một và cha mẹ. Khi cha mẹ yếu, họ không chỉ mất người thân mà còn mất luôn chỗ dựa tinh thần. Đồng thời, họ cũng thiếu người cùng chia sẻ ký ức gia đình, yếu tố giúp giảm cảm giác cô lập trong quá trình chăm sóc.
Trường hợp của Diệu Linh, 40 tuổi, ở Hưng Yên là minh chứng. Năm năm trước, mẹ chị mắc Alzheimer ở tuổi 54, không còn nhận ra người thân. Tài chính không phải vấn đề, nhưng Linh dần đối diện mất mát lớn hơn khi mẹ, chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất, không còn như trước. "Tôi mất hai năm để làm quen với cú sốc này", chị nói. Chị đón mẹ về sống cùng để tiện chăm sóc.
Nhưng khi mẹ bệnh, bố chị sống một mình tại Thái Nguyên cũng bắt đầu yếu. Ông từng đi phẫu thuật một mình vì không muốn con gái thêm gánh nặng. "Những lúc đó, tôi thấy mình bất lực vì không thể phân thân để ở bên cả hai", chị Linh nói.
Để giảm bớt áp lực này, các chuyên gia cho rằng cần có sự chuẩn bị từ cả hai phía. Cha mẹ cần xây dựng nền tảng tài chính và sức khỏe độc lập sớm nhất có thể. Với những người con, thay vì tâm lý "tự mình phải làm tất cả", cần chủ động kết nối với các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp hoặc mạng lưới họ hàng ngay từ khi cha mẹ còn minh mẫn.
Ở tầm vĩ mô, GS. Giang Thanh Long cho rằng Việt Nam cần sớm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, phát triển các mô hình dưỡng lão cộng đồng và dịch vụ chăm sóc tại nhà chuyên nghiệp để giải phóng sức lao động cho "thế hệ bánh mì kẹp".
Tin Gốc: Vnexpress
Gia Đình
2,5 triệu người khuyết tật nghe, nói: Không can thiệp ngay đầu đời, trẻ sẽ nghèo ngôn ngữ

Trong lĩnh vực việc làm, chỉ 7,8% người khuyết tật nặng có việc làm, so với hơn 78% ở người không khuyết tật.
Những con số này không chỉ phản ánh khoảng trống và sự thiếu hụt những cơ hội cho người khiếm thính, mà còn cho thấy một hệ thống vẫn còn nhiều khoảng cách để giúp người khiếm thính hòa nhập.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ người khuyết tật, việc phát hiện và can thiệp sớm đối với trẻ khiếm thính vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở cấp cộng đồng.
Nhiều trẻ khuyết tật nghe, nói tại Việt Nam không được phát hiện và can thiệp sớm. Việc thiếu tiếp cận ngôn ngữ (ngôn ngữ ký hiệu hoặc ngôn ngữ nói có hỗ trợ) trong những năm đầu đời dẫn đến "nghèo ngôn ngữ", ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy và khả năng học tập.
Hệ quả là trẻ khó theo kịp chương trình học hòa nhập, tỉ lệ bỏ học cao, cơ hội học nghề bị thu hẹp ngay từ đầu.
Về cơ hội việc làm, nhiều người khuyết tật nghe, nói có khả năng làm việc tốt, thậm chí có những lợi thế như tập trung cao, khéo léo, nhưng họ vẫn gặp rào cản trong việc tiếp cận việc làm. Có thể kể đến thiếu dịch vụ phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu (hoặc kinh phí cao và rất khó có thể chi trả cho các khoản này), doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận và điều chỉnh môi trường làm việc, định kiến không giao tiếp được nghĩa là không làm việc được,
Điều này khiến nhiều người phải chọn tự làm việc nhỏ lẻ, không ổn định, không được bảo vệ quyền lợi lao động.
Trong không gian công cộng, người khiếm khuyết như bị "vô hình hóa".
Ở nhiều nơi công cộng như nhà ga, sân bay chưa có các điều chỉnh tiếp cận thông tin với người khuêts tật nghe, nói, thông báo thiếu phụ đề, thiếu ngôn ngữ ký hiệu, thiết kế dịch vụ chưa tính đến người không nghe được. Khi đó, người khiếm thính trở thành người ngoài cuộc ngay trong chính xã hội của mình.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất là nhận thức. Gần đây các chương trình trên tivi có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, mọi người đã biết hơn về cộng đồng này. Nhưng vẫn còn đó quan điểm rằng người khuyết tật nghe, nói "kém thông minh", không thể học cao, không thể làm việc chuyên môn.
Thực tế trên thế giới đã có nhiều chứng minh về khả năng của người điếc/khiếm thính có thể trở thành giáo viên, nghệ sĩ, kỹ sư, doanh nhân. Tại Việt Nam cũng có một số bạn điếc/khiếm thính đã tốt nghiệp đại học, đi làm và thậm chí có bạn còn đi du học, lấy bằng thạc sĩ tại nước ngoài. Con số tuy chưa cao nhưng đấy cũng là một điều khích lệ và điều đó cũng chỉ ra vấn đề không phải là khả năng - mà là cơ hội và môi trường.
Phát hiện sớm và can thiệp sớm giúp trẻ điếc/khiếm thính và gia đình định hướng sớm và thực hiện việc can thiệp sớm nhằm rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ cho trẻ so với các trẻ không khiếm thính khác.
Ngoài ra cần có chính sách sàng lọc sơ sinh, hỗ trợ cha mẹ học giao tiếp với con (ký hiệu hoặc nói).
Giao tiếp là chìa khóa của thành công, vì vậy nếu chúng ta giải quyết được các vấn đề trên thì đây là "chìa khóa vàng" quyết định 70-80% khả năng hòa nhập sau này của trẻ.
• Đào tạo giáo viên giáo dục đặc biệt - chuyên ngành.
• Có trợ giảng hoặc phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu.
• Phát triển song ngữ: ngôn ngữ ký hiệu và tiếng Việt.
• Nên thống nhất ngôn ngữ ký hiệu phổ thông tại Việt Nam.
• Có các chương trình hướng dẫn cha mẹ giúp trẻ khuyết tật nghe, nói phát triển giao tiếp và ngôn ngữ tại gia đình, nâng cao năng lực cho cha mẹ trong việc đồng hành nuôi dạy trẻ khiếm thính.
• Xây dựng mô hình "nơi làm việc hòa nhập".
• Đào tạo nội bộ về giao tiếp với người khuyết tật nghe, nói.
• Có chính sách tuyển dụng rõ ràng.
Người khuyết tật nghe, nói chiếm một lực lượng không nhỏ, vì vậy nếu khai khác được và giúp họ các kiến thức kỹ năng để có thể bước chân vào thị trường lao động thì sẽ giải quyết được hơn cả một vấn đề việc làm mà cả vấn đề an sinh, hướng đến cuộc sống độc lập, bình đẳng cho người khuyết tật nghe, nói và tận dụng được nguồn nhân lực đang bị bỏ quên.
• Tăng nội dung có phụ đề, ngôn ngữ ký hiệu.
• Kể câu chuyện thành công.
• Đưa hình ảnh người khuyết tật vào đời sống bình thường, không phải "ngoại lệ".
Người khuyết tật nghe, nói không cần sự thương hại. Họ cần cơ hội để được lắng nghe, theo cách của riêng mình. Một xã hội hòa nhập không phải là nơi người khuyết tật nghe, nói phải nỗ lực gấp đôi để "theo kịp", mà là nơi mọi người cùng bước chậm lại một chút để đi cùng nhau.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Gia Đình
Câu lạc bộ của những người bạn nghe bằng trái tim, 'nói' bằng ngón tay

Đó là câu chuyện của các bạn trẻ Câu lạc bộ Ngôn ngữ ký hiệu (khoa công tác xã hội - nhân học - xã hội học Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM) chọn cách lắng nghe bằng ánh mắt và trái tim, mong muốn xã hội đổi thay cách nhìn với người khiếm thính.
Những buổi sinh hoạt của câu lạc bộ diễn ra trong không gian khá đặc biệt. Ở đó chỉ có những đôi tay chuyển động, những ánh mắt tập trung và từng nụ cười nhẹ. Mỗi động tác được thực hiện chậm rãi, chính xác. Họ giao tiếp không cần âm thanh.
Điều đáng nói phần lớn thành viên câu lạc bộ đều không phải người điếc hay khiếm thính. Họ là những sinh viên bình thường song lại chọn học một ngôn ngữ không lời để hiểu những con người mà đôi khi vốn ít được lắng nghe trong xã hội.
Thành lập năm 2012, Câu lạc bộ Ngôn ngữ ký hiệu nhiều năm qua đã trở thành điểm đến của những sinh viên yêu thích hoạt động xã hội. Họ còn có điểm chung khác là mong muốn tìm hiểu, hỗ trợ cộng đồng người điếc. Các bạn không đến câu lạc bộ với suy nghĩ cho đi như bao hội, nhóm thiện nguyện khác mà là hướng đến sự hiểu đúng và tôn trọng dành cho những người kém may mắn này.
"Ban đầu tụi mình cũng nghĩ học cho biết thôi nhưng càng học, càng tiếp xúc mới thấy đây không chỉ là một ngôn ngữ mà là cả một thế giới" - bạn Cao Thị Hải Yến, sinh viên năm 4 khoa văn hóa học Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), chia sẻ.
Sinh viên Huỳnh Quốc Nam - chủ nhiệm câu lạc bộ - kể từng nghĩ người điếc cần được giúp đỡ nhưng khi tiếp xúc đã nhận ra họ không cần sự thương hại mà chỉ cần sự tôn trọng và được hiểu đúng. Điều này cũng làm thay đổi góc nhìn của nhiều bạn trong câu lạc bộ. "Có không ít người vô thức dùng cụm từ người khiếm khuyết với ý nghĩa tiêu cực nhưng thực ra họ có văn hóa riêng và cách giao tiếp riêng, tức là họ không thiếu mà chỉ là họ khác chúng ta", Nam nói.
Cuối tháng 3 vừa qua, chương trình thiện nguyện "Dấu yêu" do câu lạc bộ phối hợp tổ chức tại Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Đồng Nai đã để lại nhiều cảm xúc cho các thành viên. Không có lời dẫn chuyện qua micro, không có những bài hát được nghe bằng tai nhưng ấy là không gian tràn ngập niềm vui.
Những trò chơi đơn giản, những tiết mục "múa dấu" theo nhịp nhạc, những cái nắm tay thật chặt… tạo nên một ngày kết nối rất khác. Các bạn nhỏ không cần cố gắng "nghe" để hòa nhập với người khác mà chính sinh viên chủ động bước vào thế giới của trẻ. "Có những khoảnh khắc mình không cần nói gì, chỉ cần nhìn ánh mắt và nụ cười của các em là hiểu, sự im lặng không còn là rào cản", một thành viên câu lạc bộ kể lại.
Sinh hoạt cùng câu lạc bộ, nhiều bạn sinh viên bảo rằng tìm được môi trường giúp mình thay đổi. Bạn Cao Thị Hải Yến, sinh viên năm 4 khoa văn hóa học, khoe rất tình cờ song bạn đã gắn bó khá lâu dù ban đầu khá rụt rè, giao tiếp không tốt.
Tham gia câu lạc bộ, Yến nói buộc phải quan sát nhiều hơn, chú ý đến người khác nhiều hơn, chưa kể việc học ngôn ngữ ký hiệu không chỉ là học động tác tay mà còn là học cách cảm nhận.
"Mình nhận ra trước đây nghe nhiều nhưng chưa chắc đã hiểu, còn bây giờ mình học cách lắng nghe bằng mắt, bằng cảm xúc, Nhờ đó thấy tự tin vào khả năng kết nối của bản thân hơn trước", Yến bộc bạch.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

