Mỗi độ xuân về, dọc những bãi bồi ven sông Trà Khúc lại hiện lên một khung cảnh rất riêng. Những dải đất màu mỡ kéo dài từ khu vực đập Thạch Nham xuống hạ lưu được cày xới thành luống, phủ kín màu xanh của những ruộng dưa mới xuống giống.
Xen giữa đồng ruộng là những căn lều bạt dựng tạm – nơi ở của những người nông dân sống đời “du mục” theo mùa vụ.
Phần lớn họ là người ở vùng Bình Sơn, Sơn Tịnh, nhiều năm nay chọn cách thuê đất để trồng dưa. Hết mùa ở đồng bằng lại ngược lên Tây Nguyên, hết vụ nơi đất đỏ lại trở về quê chờ mùa mới.
Trên bãi bồi cạnh đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc ông Nguyễn Thuần (56 tuổi) đang tất bật xuống giống cho vụ mới. Gắn bó với nghề trồng dưa hơn 20 năm, mỗi năm ông Thuần gần như sống theo nhịp của hai vụ mùa, mỗi vụ kéo dài khoảng 60 ngày.
Ông Thuần cho biết gia đình hiện canh tác khoảng 20 sào dưa trên bãi bồi ven sông. Theo ông, nhiều người dân ở vùng Bình Sơn cũng tìm đến khu vực này thuê đất trồng dưa bởi bãi bồi rộng, được bồi đắp phù sa hằng năm nên đất tơi xốp, màu mỡ, rất phù hợp cho cây dưa sinh trưởng và phát triển.
Tuy nhiên, nghề trồng dưa chưa bao giờ là công việc nhàn hạ. “Cây dưa khó tính lắm, nắng quá cũng không được mà mưa nhiều lại càng khó. Chỉ cần thời tiết thất thường là người trồng đứng ngồi không yên”, ông Thuần chia sẻ.
Cách đó không xa, ông Dương Đức vẫn cặm cụi bên luống dưa, tay nhổ cỏ, tay chăm chút những mầm cây vừa nhú. Ở tuổi 61, người đàn ông ấy đã có hơn 30 năm gắn đời mình với những chuyến đi theo ruộng dưa.
Ông kể rằng đất bãi bồi ven sông Trà Khúc vốn giàu phù sa nên rất thích hợp để trồng dưa. Ngay từ trước Tết, ông đã thuê đất vào làm vụ mới với giá khoảng 1,1 triệu đồng mỗi sào cho hai vụ xuân hè và hè thu.
Năm nay ông thuê 20 sào, còn con trai út Dương Vui thuê thêm 30 sào kế bên. Một người con khác của ông hiện ở tận Đắk Lắk để tiếp tục theo nghề trồng dưa.
“Từ lúc con cái còn nhỏ, vợ chồng tôi đã đi làm dưa thuê khắp nơi. Hết mùa ở đây thì khoảng tháng Sáu âm lịch lại dọn lều lên Tây Nguyên làm tiếp. Đến cuối năm thu hoạch xong mới trở về quê đón Tết rồi lại tiếp tục vòng quay mới”, ông Đức kể.
Theo ông, trước đây giá thuê đất trên Tây Nguyên còn thấp nhưng vài năm gần đây tăng lên đáng kể do người đến thuê ngày càng đông. Làm dưa nơi đất đỏ cũng tốn kém hơn nhiều vì mọi chi phí sinh hoạt đều phải tự lo.
“Ở quê thiếu gạo, thiếu mắm còn chạy về nhà lấy được. Chứ lên Tây Nguyên cái gì cũng mua. Đất tốt nhưng cỏ nhiều, công làm cũng cực hơn”, ông nói.
Do cây dưa khá kén đất, sau mỗi vụ thu hoạch người trồng phải tiếp tục tìm vùng đất mới. Có những nơi xa xôi, heo hút, họ thường rủ nhau đi thành nhóm để tiện giúp đỡ khi đau ốm hay gặp sự cố.
Mỗi năm theo hai mùa dưa khiến nhiều người chỉ ở nhà vài tháng ngắn ngủi. “Có đứa nhiều năm liền không kịp về ăn Tết. Thằng con tôi giờ cũng bám riết theo ruộng dưa”, ông Đức thở dài.
Người trồng dưa vẫn thường nói vui rằng chăm dưa còn cực hơn chăm con nhỏ. Khi cây vừa xuống giống, họ gần như ăn ngủ ngoài đồng. Ban ngày nhổ cỏ, bắt sâu, bón phân, ghim gốc chống gió; tối đến lại cầm đèn pin ra ruộng kiểm tra từng luống.
“Có hôm làm tới 9-10 giờ đêm. Mệt thì nghỉ chút rồi lại làm tiếp. Dưa khoảng 20 ngày tuổi bắt đầu ra nhánh thì phải bấm ngọn, dẫn dây, chăm từng chút một”, ông Đức nói.
Theo ông, chi phí đầu tư cho mỗi sào dưa khoảng 8 triệu đồng, bao gồm tiền đất, giống, phân bón và nhân công. “Nếu bán khoảng 4.000 đồng/kg thì gần như không có lời. 5.000 đồng/kg mới huề vốn. Có năm giá rớt còn 2.000 đồng/kg, coi như mất trắng”, ông chia sẻ.
Ba mươi năm làm nghề, ông Đức trải qua không ít lần nợ nần vì thất mùa hay giá xuống thấp. Nhưng đổi lại cũng có những vụ trúng lớn. “Có thất bại, có thắng lợi nên vẫn theo nghề. Người làm nông ai cũng mong vụ tới khá hơn”, ông cười.
Theo thời gian, những nông dân như ông dần tích lũy kinh nghiệm chẳng khác gì kỹ sư nông nghiệp. Cách trồng dưa hiện nay cũng thay đổi đáng kể.
Nếu trước kia đất chỉ cày xới đơn giản thì nay nhiều hộ thuê máy đào đảo lớp đất sâu, vùi cỏ và mầm bệnh xuống dưới rồi phủ màng ni lông hạn chế cỏ dại, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Chị Nguyễn Thị Dung vừa ghim dây dưa vừa nói: “Những năm trước từng có cảnh dưa ùn ứ ở cửa khẩu, phải kêu gọi giải cứu. Sau chuyện đó, nhiều người thay đổi cách làm, hướng tới sản xuất sạch hơn để dễ vào siêu thị, cửa hàng”.
Theo chị, người tiêu dùng ngày càng quan tâm sức khỏe nên nông dân cũng buộc phải thay đổi. “Sản lượng ít hơn chút cũng được, miễn chất lượng tốt, bán được giá. Mỗi vụ dư dả tiền nuôi con ăn học là mừng rồi”.
Theo thống kê, Quảng Ngãi mỗi năm có khoảng 800 ha dưa hấu, sản lượng hơn 20.000 tấn. Ngoài diện tích trong tỉnh, còn hàng trăm héc ta đất ở Tây Nguyên được người dân thuê để tiếp tục những mùa dưa nối dài.
Trong nỗ lực khơi dậy nguồn lực văn hóa của Thủ đô, UBND thành phố Hà Nội tổ chức Festival Thăng Long - Hà Nội lần II, năm 2026 với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage Flow".
Sự kiện văn hóa thường niên này không chỉ là dịp để tôn vinh các giá trị lịch sử, văn hóa của Thủ đô ngàn năm văn hiến, mà còn là lời khẳng định về sức sống bền bỉ của di sản Thăng Long giữa nhịp sống đương đại.
Không chỉ dừng lại ở một lễ hội quy mô lớn, Festival còn thể hiện quyết tâm của Thành phố Hà Nội trong việc hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trong Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy, bám sát Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Tiếp nối những thành công của lần đầu tổ chức vào năm 2025, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 dự kiến diễn ra từ ngày 11/9 đến ngày 20/9/2026 tại nhiều không gian văn hóa - di sản tiêu biểu của Thủ đô như Hoàng thành Thăng Long, Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Bảo tàng Hà Nội và làng gốm Bát Tràng.
Đây là những địa điểm gắn với các lớp trầm tích văn hóa đặc trưng của Hà Nội, nơi di sản không chỉ được lưu giữ mà còn hiện diện trong nhịp sống thường ngày của Thành phố. Sự kiện do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội chủ trì, có sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong nước và quốc tế.
Chia sẻ về sự kiện, Ban Tổ chức cho biết: "Festival Thăng Long – Hà Nội là dịp để chúng ta nhìn lại và tiếp nối dòng chảy văn hóa của Thủ đô, trong đó di sản không chỉ được gìn giữ mà còn được làm sống động trong đời sống hôm nay.
Thành phố Hà Nội xác định việc phát huy giá trị di sản phải gắn với sáng tạo, với sự tham gia của cộng đồng, để di sản thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển".
Với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage Flow", Festival Thăng Long - Hà Nội lần II, năm 2026 được định hướng như một hành trình kết nối liên tục giữa truyền thống và hiện đại. Trong đó, di sản không còn được nhìn nhận như những giá trị tĩnh mà trở thành một dòng chảy sống động trong đời sống đô thị, gắn liền với trải nghiệm và sự tham gia của cộng đồng.
Festival hướng tới các mục tiêu như bảo tồn và phát huy giá trị di sản Thăng Long - Hà Nội; thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật trên nền tảng truyền thống; mở rộng giao lưu văn hóa; góp phần phát triển công nghiệp văn hóa, qua đó khẳng định vị thế Hà Nội là một trung tâm sáng tạo của khu vực.
Chương trình khai mạc Festival "Dòng chảy di sản - Heritage Flow" dự kiến diễn ra vào tối 11/9/2026 tại Hoàng thành Thăng Long, mở đầu cho chuỗi hoạt động nghệ thuật được dàn dựng theo hướng kết hợp giữa yếu tố truyền thống và công nghệ trình diễn hiện đại, tái hiện dòng chảy lịch sử - văn hóa Thăng Long trong một không gian nghệ thuật đương đại.
Trong những ngày tiếp theo, Festival sẽ mang đến nhiều hoạt động nghệ thuật và trải nghiệm đa dạng, trải rộng tại các không gian văn hóa của Thủ đô.
Tại Hoàng Thành Thăng Long, công chúng có thể tham gia chương trình âm nhạc đương đại vào ngày 12/9, nơi những giai điệu hiện đại được kết nối với cảm hứng từ di sản, góp phần đưa các giá trị văn hóa đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Không gian giao lưu nghệ thuật vào ngày 13/9 tạo cơ hội để nghệ sĩ trong và ngoài nước gặp gỡ, trao đổi và cùng sáng tạo, mở ra những điểm chạm đa văn hóa trong khuôn khổ Festival.
Tiếp đó, đêm thời trang "Sắc màu Hà Nội – The Color of Hanoi" diễn ra ngày 18/9 tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục sẽ mang đến góc nhìn mới về Hà Nội thông qua ngôn ngữ thiết kế đương đại, nơi chất liệu truyền thống được chuyển hóa thành những sáng tạo mang tinh thần mới.
Đặc biệt, chương trình trình diễn nghệ thuật "Thanh âm Gốm" vào ngày 19/9 tại làng gốm Bát Tràng sẽ đưa công chúng đến gần hơn với không gian làng nghề, nơi âm thanh của đất và lửa được khai thác như một chất liệu nghệ thuật, gợi mở chiều sâu văn hóa của nghề thủ công truyền thống trong cách tiếp cận mới.
Song song với các chương trình nghệ thuật, Festival còn mở rộng thành chuỗi không gian trải nghiệm di sản tại nhiều địa điểm văn hóa tiêu biểu của Thủ đô, mang đến cho công chúng những cách tiếp cận trực quan và gần gũi hơn với các giá trị truyền thống.
Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, các hoạt động triển lãm, trưng bày và trải nghiệm được tổ chức xuyên suốt thời gian diễn ra Festival, giúp công chúng khám phá di sản thông qua các hình thức tương tác sáng tạo, qua đó làm sống động hơn các giá trị văn hóa trong đời sống đương đại.
Tại Bảo tàng Hà Nội, không gian trưng bày về tinh hoa làng nghề và trình diễn di sản văn hóa phi vật thể sẽ mở ra hành trình kết nối giữa di sản và đời sống hiện đại, làm rõ vai trò của các giá trị truyền thống trong phát triển bền vững của thành phố.
Đặc biệt trong ngày 10/10 tại Hoàng Thành Thăng Long sẽ tổ chức vở diễn "Thăng Long Ngự Yến", kết hợp giữa trình diễn nghệ thuật và ẩm thức mang đến những trải nghiệm đa giác quan, giúp công chúng không chỉ quan sát mà còn trực tiếp cảm nhận chiều sâu văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
Thông qua chuỗi hoạt động này, di sản không chỉ được giới thiệu mà còn được "kích hoạt" trong trải nghiệm của người tham gia, góp phần tăng cường sự gắn kết giữa cộng đồng và các giá trị văn hóa truyền thống.
Ban Tổ chức chia sẻ: "Thông qua Festival lần này, Hà Nội mong muốn tạo ra một không gian văn hóa mở, nơi các giá trị truyền thống được kết nối với những cách tiếp cận hiện đại, qua đó lan tỏa hình ảnh một Thủ đô giàu bản sắc, năng động, sáng tạo và ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và quốc tế".
Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II, năm 2026 là hoạt động văn hóa có ý nghĩa trong việc cụ thể hóa định hướng phát triển văn hóa của Thành phố theo hướng vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị di sản.
Thông qua Festival, các giá trị văn hóa truyền thống được đặt trong mối quan hệ với đời sống đương đại, từ đó mở ra những cách tiếp cận mới trong việc khai thác, lan tỏa và phát triển di sản.
Đây cũng là cơ sở để từng bước xây dựng hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và quảng bá hình ảnh Thủ đô.
Festival dự kiến bế mạc vào ngày 20/9/2026 tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, qua đó khép lại hành trình "Dòng chảy di sản", đồng thời mở ra những tiếp nối trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Tp.Huế trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên nền tảng di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh, việc Tp.Huế đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một bước đi có ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Đây không chỉ là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội đơn thuần, mà còn là sự định vị lại vai trò của một không gian địa lý – sinh thái – văn hóa độc đáo bậc nhất Việt Nam trên bản đồ phát triển quốc gia và quốc tế.
Với diện tích mặt nước rộng hơn 22.000 héc ta, lớn nhất Đông Nam Á, hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai từ lâu đã được nhìn nhận như một "kho báu sinh thái" của miền Trung. Nhưng hơn thế, đó còn là một không gian văn hóa – lịch sử dày đặc, nơi thiên nhiên và con người đã cùng nhau kiến tạo nên một hệ giá trị đặc sắc qua hàng trăm năm. Hiện khu vực này có diện tích khoảng hơn 1300km2 (27% diện tích Tp.Huế), dân số trên 452.000 người, thuộc địa bàn 16/20 phường xã của Tp.Huế.
Vùng đầm phá này hiện sở hữu một hệ thống di sản và cảnh quan hết sức phong phú với 151 di tích đã được xếp hạng và kiểm kê, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt là Trấn Hải thành và chùa Thánh Duyên; 18 di tích cấp quốc gia và 36 di tích cấp thành phố. Đặc biệt, trong "Thần Kinh nhị thập cảnh" do vua Thiệu Trị tuyển chọn, một bảng xếp hạng danh thắng tiêu biểu của kinh đô Huế thế kỷ XIX, khu vực đầm phá đã có tới 3 danh thắng được vinh danh, gồm cửa biển Thuận An, đầm Hà Trung và núi Thúy Vân – chùa Thánh Duyên. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, không gian đầm phá đã được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của cảnh quan văn hóa Huế.
Không chỉ dừng lại ở di sản vật thể, vùng Tam Giang – Cầu Hai còn là nơi lưu giữ một kho tàng di sản phi vật thể phong phú, tiêu biểu như lễ Cầu ngư làng Thai Dương với lịch sử hơn 500 năm, một nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng biển, phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người và đại dương. Cùng với đó là hệ thống tri thức dân gian về con nước, mùa gió, nghề cá, ẩm thực và các hình thức sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tất cả tạo nên một "di sản sống" hiếm có.
Chính vì vậy, cách tiếp cận phát triển vùng đầm phá không thể chỉ dừng lại ở các yếu tố kinh tế hay môi trường, mà cần đặt văn hóa vào vị trí trung tâm, như một "hệ điều hành mềm" chi phối toàn bộ quá trình phát triển.
Nhìn tổng thể, kế hoạch đã thể hiện một tầm nhìn bao quát và phù hợp với các định hướng lớn của Trung ương. Việc xác định mục tiêu xây dựng đầm phá trở thành "Công viên đầm phá Quốc gia", tiến tới khu dự trữ sinh quyển có tầm quan trọng quốc tế là một định hướng đúng đắn, thể hiện tư duy phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Đặc biệt, việc lựa chọn du lịch – dịch vụ – kinh tế biển làm động lực tăng trưởng cũng phù hợp với lợi thế so sánh của vùng.
Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ ngành văn hóa – thể thao, có thể thấy một khoảng trống rất cần được bổ sung: Văn hóa tuy đã được đề cập, nhưng chưa thực sự được đặt vào đúng vai trò nền tảng và động lực phát triển. Các nội dung liên quan đến văn hóa hiện vẫn phân tán trong các nhóm giải pháp về xã hội, du lịch hay môi trường, thiếu một cấu trúc tổng thể mang tính hệ thống. Nói cách khác, văn hóa mới dừng lại ở mức "thành tố hỗ trợ", chứ chưa trở thành "trục xuyên suốt" của toàn bộ đề án.
Trao đổi với PV, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế cho biết, một trong những nội dung quan trọng khác là cần có một chương trình tổng thể về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của vùng. Những giá trị như lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, văn hóa ẩm thực đầm phá hay các nghề truyền thống gắn với mặt nước cần được tích hợp thành các sản phẩm cụ thể. Điều này không chỉ làm tăng chiều sâu văn hóa của du lịch, mà còn khiến vùng đầm phá mới có thể trở thành một không gian "đẹp và có hồn".
Theo ông Hải, cùng với đó, việc phát triển các sản phẩm văn hóa – du lịch đặc thù cần phải được quan tâm nhấn mạnh, vì đây chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của vùng. Một tour trải nghiệm đời sống ngư dân, một không gian ẩm thực đầm phá với những món ngon hiếm có được nâng tầm, hay một chương trình biểu diễn thực cảnh trên mặt nước, nếu được đầu tư bài bản, hoàn toàn có thể trở thành những sản phẩm mang tính biểu tượng, góp phần định vị thương hiệu Huế trên bản đồ du lịch quốc tế.
"Quan trọng hơn cả, cần khẳng định vai trò của người dân địa phương như là chủ thể của văn hóa. Mọi chiến lược phát triển, nếu không đặt cộng đồng vào trung tâm, sẽ khó có thể bền vững. Người dân đầm phá không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà phải là người tham gia, sáng tạo và hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để kế hoạch thực sự phát huy hiệu quả, cần bổ sung một cách tiếp cận mang tính hệ thống hơn về văn hóa. Trước hết, cần xây dựng một "Đề án hệ sinh thái văn hóa đầm phá Tam Giang – Cầu Hai", trong đó tiến hành bản đồ hóa toàn bộ tài nguyên di sản, từ Trấn Hải thành, tháp Chăm Phú Diên, chùa Hà Trung, chùa Thánh Duyên… cho đến các không gian lễ hội và sinh kế cộng đồng, để tạo nền tảng cho phát triển", ông Hải nhấn mạnh.
Cũng theo ông Hải, song song với đó, việc gắn kết vùng đầm phá với các chương trình lớn của Huế như Festival bốn mùa, phát triển công nghiệp văn hóa hay kinh tế đêm sẽ mở ra những không gian sáng tạo mới. Khi đó, đầm phá không chỉ là nơi "đến để ngắm", mà còn là nơi "đến để sống, để trải nghiệm và để hiểu".
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, từ ngày 10/5, miền Bắc đón thêm đợt không khí lạnh mới, tiếp tục gây mưa to và rất to. Từ Thanh Hóa đến Huế, trời mưa rào và dông rải rác, riêng khu vực Tây Bắc Bộ mưa to xuất hiện từ đêm 9/5, đề phòng lốc sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Cơ quan khí tượng dự báo từ chiều tối 9/5 đến hết ngày 10/5, vùng núi và trung du Bắc Bộ tiếp tục có mưa dông với lượng phổ biến 10-30mm, cục bộ có nơi vượt 90mm.
Thời tiết cực đoan trong mưa dông có thể đi kèm lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, làm gãy đổ cây cối, hư hại nhà cửa và các công trình hạ tầng.
Ngoài ra, mưa lớn cục bộ còn có thể gây lũ quét trên sông suối nhỏ, sạt lở đất ở khu vực đồi núi và ngập úng tại vùng trũng thấp.
Nhiều mây, có lúc có mưa rào và dông. Gió đông cấp 2-3. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Nhiệt độ thấp nhất từ : 23-25 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : 28-30 độ.
Tây Bắc Bộ
Nhiều mây, có mưa rào và dông rải rác, cục bộ có nơi mưa to đến rất to. Gió nhẹ. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Nhiệt độ thấp nhất từ : 21-24 độ, có nơi dưới 20 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : 26-29 độ.
Đông Bắc Bộ
Nhiều mây, có mưa rào và dông rải rác, cục bộ có nơi mưa to đến rất to, riêng khu vực đồng bằng có mưa rào và dông vài nơi. Gió đông cấp 2-3. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Nhiệt độ thấp nhất từ : 22-25 độ, vùng núi có nơi dưới 21 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : 27-30 độ.
Thanh Hóa đến Huế
Có mây, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, ngày nắng. Gió nhẹ. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Nhiệt độ thấp nhất từ : 23-26 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : Phía Bắc 29-32, phía Nam có nơi trên 32 độ.
Duyên hải Nam Trung Bộ
Có mây, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi; ngày nắng, có nơi nắng nóng. Gió nhẹ. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Nhiệt độ thấp nhất từ : 24-27 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : 32-35 độ, có nơi trên 35 độ.
Cao nguyên Trung Bộ
Nhiệt độ thấp nhất từ : 20-23 độ, có nơi dưới 20 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : 30-33 độ.
Có mây, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi; ngày nắng, có nơi nắng nóng, riêng miền Đông có nắng nóng. Gió nhẹ. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Nhiệt độ thấp nhất từ : 25-28 độ.
Nhiệt độ cao nhất từ : 33-36 độ, riêng miền Đông có nơi trên 36 độ.
Tp.Hồ Chí Minh
Có mây, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi; ngày nắng nóng. Gió nhẹ. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.