Tháng trước, Bộ Công Thương ra Quyết định 963 về thay đổi khung giờ cao điểm của hệ thống điện quốc gia rơi hoàn toàn vào buổi tối, 17h30-22h30 (5 giờ), thay vì chia 2 khung như trước. Trong khi đó, khung giờ thấp điểm là 0h-6h (6 giờ).
Các khung giờ sử dụng là căn cứ để tính giá điện theo thời gian. Hiện có khoảng 1,25 triệu công tơ điện đang áp dụng cơ chế này, chủ yếu là của nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh.
Tại hội thảo ngày 15/5, các chuyên gia đánh giá khung giờ cao điểm và thấp điểm mới thuận tiện cho việc đầu tư hệ thống pin lưu trữ năng lượng (Battery Energy Storage System – BESS), giúp doanh nghiệp giảm chi phí.
Ông Trần Quốc Tâm, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Tái tạo TP HCM (HCMREA), Giám đốc Lithaco, cho rằng doanh nghiệp có thể sạc đầy BESS vào giờ thấp điểm và xả ra dùng song song với điện lưới trong khung cao điểm.
“Bằng cách này, chúng ta có thể mua và lưu trữ điện khi giá rẻ, rồi sử dụng vào thời điểm giá điện cao, giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất”, ông Tâm nói.
Theo ông, các hệ thống BESS kích cỡ bằng một container hiện có thể trữ hơn 5 MWh.
Ông Lê Bá Thông, Trưởng phòng phát triển kinh doanh cấp cao Huawei Digital Power Việt Nam, ví dụ mỗi kWh điện kinh doanh vào khung giờ thấp điểm chỉ hơn 1.900 đồng, trong khi giá cao điểm có thể lên đến 5.400 đồng. “Doanh nghiệp có thể tận dụng chênh lệch giá giữa giờ thấp và cao điểm để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tiết giảm chi phí vận hành”, ông nói.
Việc gộp thành một khung giờ cao điểm (17h30-22h30) cũng thuận tiện để duy trì tuổi thọ pin. Theo ông Thông, 3 yếu tố chính quyết định tuổi thọ pin gồm nhiệt độ môi trường, chu kỳ sử dụng mỗi ngày và số ngày dùng trong năm.
Với một khung cao và thấp điểm, BESS chỉ cần một chu kỳ sạc xả (sạc đầy và xả gần hết dung lượng) mỗi ngày. Ví dụ, hệ thống lưu trữ của Huawei có thể đạt tuổi thọ khoảng 8.000 chu kỳ, tương đương 20 năm nếu sạc xả một chu kỳ mỗi ngày và 13-15 năm khi sạc xả 2 chu kỳ mỗi ngày như khung giờ cao điểm cũ.
Ông Trần Quốc Tâm cho biết nếu không có pin lưu trữ, khoảng 30% nguồn điện mặt trời sản xuất ra bị lãng phí. Vì thế, nếu sạc BESS bằng năng lượng tái tạo như mặt trời thì sẽ là “cặp đôi hoàn hảo” để giảm phụ thuộc vào điện lưới.
PGS. TS Phạm Trung Kiên, Khoa Công nghệ Vật liệu, Đại học Bách khoa TP HCM, đánh giá BESS là thành phần cốt lõi đi cùng sự phát triển của điện mặt trời và điện gió, giúp điều hòa nguồn năng lượng, cải thiện hiệu suất tải.
Theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, hệ thống pin lưu trữ dự kiến đạt công suất khoảng 10.000-16.300 MW vào 2030, chiếm 5,5-6,9% tổng công suất nguồn điện, để phù hợp với tỷ trọng ngày càng cao của năng lượng tái tạo.
Hệ thống BESS khi kết hợp với năng lượng tái tạo sẽ giúp giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch. “Điều này đặc biệt quan trọng khi các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu đối mặt với các rào cản thuế carbon”, ông Kiên nhận định.
Không ít doanh nghiệp, nhà đầu tư băn khoăn về chi phí và phương án xử lý pin khi hết vòng đời. Tuy vậy, theo chuyên gia, suất đầu tư điện tái tạo và hệ thống BESS ngày càng giảm. “Cách đây 5 năm, chi phí đầu tư cho 1 MW điện mặt trời 20-25 tỷ đồng, hiện chỉ còn khoảng 10 tỷ”, ông Thông nêu.
Ông Trần Quốc Tâm cho biết khi sản lượng tấm pin mặt trời toàn cầu tăng gấp đôi, chi phí sản xuất giảm khoảng 20%. “Xu hướng diễn ra tương tự trong ngành pin lưu trữ. Khi sản lượng bán ra ngày càng tăng, giá pin sẽ tiếp tục hạ, giúp công nghệ này dần dễ tiếp cận hơn”, ông nói.
Với pin sau khi sử dụng, ông Tâm cho biết công nghệ hiện nay có thể tái chế đến 85% các thành phần. “Pin sau khi hết hạn là tài nguyên, không phải rác thải”, ông nói. Nhưng do nguồn pin lưu trữ thải bỏ ở Việt Nam còn ít nên chưa hình thành doanh nghiệp chuyên thu gom, tái chế.
PGS. TS Phạm Trung Kiên cho rằng trách nhiệm thu hồi và xử lý BESS sau vòng đời nên thuộc về nhà sản xuất. Singapore và châu Âu đã áp trách nhiệm này, trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc quy định các hệ thống pin công nghiệp phải được thu gom, phân loại và xử lý.
Từ đầu tháng 4, giá xăng dầu liên tục điều chỉnh giảm. Tại kỳ điều hành gần nhất (hôm 16/4), Liên bộ Công Thương - Tài chính công bố giá bán lẻ dầu diesel giảm 1.920 đồng mỗi lít, còn 31.040 đồng; dầu mazut giảm 2.280 đồng mỗi kg, xuống 20.330 đồng. Tính trong ba kỳ điều hành liên tiếp, dầu diesel đã giảm tổng cộng 13.740 đồng một lít, tương đương 44%, còn dầu mazut giảm 4.260 đồng mỗi kg so với mức đỉnh ngày 3/4.
Với xăng, giá RON 95-III tăng nhẹ 220 đồng, lên 23.760 đồng một lít; E5 RON 92 tăng 250 đồng, lên 22.590 đồng. Dù vậy, mức giá hiện tại vẫn thấp hơn đáng kể so mức đỉnh ngày 24/3, giảm gần 30% với RON 95-III và khoảng 25% với E5 RON 92.
Diễn biến này trái ngược với giá cả hàng hóa. Ghi nhận từ đầu tháng 4 đến nay cho thấy nhiều quán ăn tiếp tục tăng giá. Điển hình, quán bánh mì chay trên đường Âu Cơ, phường Tân Phú (TP HCM) tăng 3.000-4.000 đồng mỗi ổ, cà phê tăng 3.000-5.000 đồng mỗi ly.
Tương tự, quán bánh canh lớn trên đường Vạn Kiếp vừa tăng từ 37.000 đồng lên 40.000 đồng mỗi tô (trước đó vài tháng, họ đã tăng 2.000 đồng). Một quán bún bò trên đường Lê Văn Thọ, phường Thông Tây Hội sau khi tăng 5.000 đồng mỗi tô cuối năm ngoái, hiện nâng thêm 5.000 đồng, đưa giá tô thường lên 50.000 đồng, tô thập cẩm 60.000 đồng và tô đặc biệt 70.000 đồng.
Một quán ăn chuyên về các món gà trên đường Bà Huyện Thanh Quan, phường Nhiêu Lộc cũng tăng 5.000 đồng mỗi suất, lên khoảng 55.000 đồng cho các món bún, miến, phở.
Phần lớn chủ quán cho biết nguyên nhân chính là giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng, nhiều mặt hàng cao hơn 5-15% so với vài tháng trước.
Chị Hoa, chủ quán bún phở tại phường Nhiêu Lộc, nói giá nguyên liệu đã tăng liên tục suốt 4 tháng qua khiến quán không thể tiếp tục giữ giá. "Giá xăng giảm nhưng nhà cung cấp vẫn duy trì mức cao. Thịt, gia vị đều tăng 5-7%," chị cho biết.
Ngoài ra, giá gas dù đã hạ nhưng hiện cao hơn khoảng 40% so với giai đoạn trước xung đột Trung Đông (gần cuối tháng 2), trong khi chi phí nhân công cũng tăng khoảng 5%. Theo chị, việc điều chỉnh giá không chỉ nhằm bù đắp chi phí mà còn để duy trì chất lượng khẩu phần, tránh cắt giảm nguyên liệu.
Một yếu tố quan trọng khác là độ trễ trong điều chỉnh giá. Theo các chủ quán, giá bán thường được tính toán dựa trên chi phí bình quân trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng, thay vì phản ứng ngay với biến động ngắn hạn. Giai đoạn trước, họ đã chịu áp lực lớn từ giá nguyên liệu, tiền thuê mặt bằng, lương nhân viên, điện nước, bao bì... Khi một số yếu tố đầu vào hạ nhiệt, phần chi phí giảm này chủ yếu được dùng để bù đắp biên lợi nhuận đã bị thu hẹp.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Lý Kim Chi - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP HCM (FFA) kiêm Phó Chủ tịch HUBA, cho hay việc giá xăng dầu hạ nhiệt thời gian qua đã giúp doanh nghiệp thực phẩm giảm bớt áp lực.
Tuy vậy, bà nhấn mạnh xăng dầu chỉ là một cấu phần trong tổng chi phí, nên mức giảm này chưa đủ để làm thay đổi đáng kể giá thành. Trong cơ cấu hiện nay, yếu tố chi phối lớn nhất vẫn là nguyên liệu đầu vào - từ nông, thủy sản đến bao bì, nguyên liệu nhập khẩu - vốn biến động mạnh và có thời điểm tăng cao hơn nhiều so với chi phí nhiên liệu. Bên cạnh đó, chi phí tài chính, áp lực dòng tiền và sức mua chưa phục hồi rõ nét cũng khiến doanh nghiệp khó giảm giá bán.
Phần tiết giảm từ xăng dầu chủ yếu giúp bù đắp chi phí tăng trước đó, hơn là tạo dư địa để giảm giá ngay, theo bà Chi. Đồng thời, yếu tố tâm lý thị trường cũng góp phần ổn định kỳ vọng và hạn chế tình trạng tăng giá dây chuyền.
Thời gian tới, bà Chi dự đoán mặt bằng giá thực phẩm và dịch vụ ăn uống nhiều khả năng sẽ thiên về ổn định hơn là giảm sâu. Việc giá xăng dầu đi xuống giúp giảm bớt áp lực chi phí, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp kìm đà tăng giá và duy trì nguồn cung. Để giá có thể giảm rõ rệt, cần thêm các điều kiện thuận lợi khác, nhất là giá nguyên liệu và sức mua thị trường.
Bên cạnh đó, nhiều chi phí gần như không giảm. Báo cáo thị trường F&B Việt Nam 2025 của iPOS.vn và Nestlé Professional vừa công bố, cho thấy các quán ăn vẫn chịu áp lực lớn từ chi phí nhân sự, mặt bằng, sức mua thận trọng và các yêu cầu tuân thủ như hóa đơn điện tử, thuế. Điều này cho thấy áp lực vận hành không chỉ nằm ở nguyên liệu hay nhiên liệu.
Ngoài yếu tố chi phí, theo các chủ cửa hàng, giá bán còn gắn với định vị thương hiệu. Khi đã điều chỉnh tăng, việc giảm giá không đơn thuần là "trả lại" cho khách mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh và kỳ vọng thị trường. Nhiều chủ quán e ngại việc giảm rồi tăng trở lại sẽ khiến khách hàng cảm thấy thiếu ổn định, do đó có xu hướng giữ nguyên hoặc điều chỉnh theo mặt bằng chi phí mới.
Ngân hàng Nhà nước mới đây ban hành Thông tư 08 liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trọng tâm của văn bản này là việc điều chỉnh cách xác định tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Theo quy định mới, tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước (bao gồm cả tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) tiếp tục phải loại trừ một số khoản mục trước khi đưa vào mẫu số LDR. Các khoản mục bị loại trừ bao gồm: tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước và 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Như vậy, Thông tư 08 chính thức cho phép các ngân hàng thương mại tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức LDR. Phần tiền gửi không kỳ hạn của cơ quan này tiếp tục không được ghi nhận. Việc phân định cơ cấu kỳ hạn là yếu tố nền tảng, do quy định mới không áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tiền gửi Kho bạc.
Động thái này đánh dấu sự điều chỉnh cơ chế so với lộ trình thắt chặt trước đó tại Thông tư 26/2022. Trước đây, tỷ lệ khấu trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi mẫu số LDR được quy định tăng dần: từ 50% (năm 2023), 60% (năm 2024), 80% (năm 2025) và lên mức 100% kể từ ngày 1/1/2026. Tính đến đầu năm nay, toàn bộ dòng tiền này đã hoàn toàn nằm ngoài công thức xác định LDR.
Tỷ lệ LDR được tính bằng tổng dư nợ cho vay chia cho tổng tiền gửi được phép tính vào nguồn vốn huy động. Trong trường hợp dư nợ cho vay giữ nguyên, việc mẫu số tăng lên sẽ giúp tỷ lệ này giảm xuống.
Ví dụ, một ngân hàng có 2 triệu tỷ đồng tiền gửi và 1,5 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay, tương ứng tỷ lệ LDR ở mức 75%. Nếu ngân hàng tiếp nhận thêm 300.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn từ Kho bạc Nhà nước, theo quy định mới, 20% số tiền này - tương đương 60.000 tỷ đồng được tính vào mẫu số của LDR.
Khi đó, tổng tiền gửi được phép tính tăng lên 2,06 triệu tỷ đồng, kéo tỷ lệ LDR giảm xuống còn khoảng 72,8%.
Trong bối cảnh trần LDR hiện hành là 85%, việc gia tăng 60.000 tỷ đồng ở mẫu số về lý thuyết có thể tạo thêm khoảng 51.000 tỷ đồng dư địa cho vay.
Tuy nhiên, khả năng mở rộng tín dụng trên thực tế còn phụ thuộc vào hạn mức tăng trưởng tín dụng được cấp, chất lượng tài sản, cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản và các chỉ tiêu an toàn nội bộ của từng ngân hàng.
Ngoài ra, việc nới cách tính LDR giúp các nhà băng cải thiện tỷ lệ an toàn và có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, trong đó được hưởng lợi nhiều nhất là nhóm Ngân hàng có vốn nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank).
Tính tới cuối quý I, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh chiếm hơn 99% tiền gửi kho bạc toàn hệ thống. Tỷ lệ LDR của 4 ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank đều tăng trong những tháng đầu năm. Tại ngày 31/3, tỷ lệ này lần lượt ở mức 83%; 82,9%; 84,5% và 83,5%, tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Các chuyên gia của Chứng khoán MBS nhận định tỷ lệ LDR của các ngân hàng quốc doanh có thể giảm từ 1,1-1,5% so với trước khi thay đổi chính sách. Đồng thời, dư địa cho vay mới được bổ sung tương đương khoảng 0,3-0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại của toàn hệ thống.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay vẫn ở mức cao, trong khi áp lực giữ mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vẫn hiện hữu. Khi huy động vốn chưa thể cải thiện nhanh, việc nới kỹ thuật trong cách tính LDR giúp các ngân hàng có thêm “không gian” để duy trì nhịp tăng trưởng tín dụng mà không tạo áp lực quá lớn lên chi phí vốn.
Bên cạnh đó, từ đầu năm nay, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém cũng được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó tạo thêm dư địa cho vay toàn hệ thống. Tuy nhiên, theo MBS, tác động của chính sách này chủ yếu mang tính hỗ trợ cục bộ, giúp giảm áp lực thanh khoản và chi phí vốn ở một số nhà băng cụ thể, thay vì tạo thay đổi lớn trên toàn hệ thống.
Tại đại hội cổ đông thường niên ngày 16/4, ông Phan Chiến Thắng, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Masan High-tech Materials (MSR), cho rằng sau làn sóng tỷ phú nhờ trí tuệ nhân tạo (AI), giới siêu giàu tiếp theo sẽ là những người nắm giữ các vật liệu thiết yếu cho ngành này. Ông nhắc tới vonfram (tungsten), loại vật liệu đóng góp phần lớn trong cơ cấu doanh thu doanh nghiệp.
Do đó, MSR đặt mục tiêu doanh thu năm nay tới 20.300 tỷ đồng, tăng gần gấp 3. Còn lợi nhuận sau thuế khoảng 1.700-2.500 tỷ đồng, tăng hơn 150-220 lần so với năm ngoái.
Nhờ chịu nhiệt trên 3.400 độ C, độ cứng gần bằng kim cương và dẫn điện tốt, vonfram được dùng làm vật liệu kết nối vi mạch, hệ thống điện toán trong ngành bán dẫn và sản xuất đạn lĩnh vực quốc phòng. Vật liệu này hầu như không có giải pháp thay thế hoàn hảo, giá tăng cả chục lần trong một năm qua, biến động mạnh nhất trong hơn hai thập kỷ.
Theo ông Thắng, mức giá ammonium paratungstate (APT, sản phẩm trung gian của vonfram) phản ánh trong báo cáo tài chính năm 2025 trung bình là 500 USD mỗi 10 kg (mtu). Trong khi đó, giá vật liệu này niêm yết tại công ty nghiên cứu thị trường Shanghai Metals Market ở mức 180.000 USD mỗi tấn (khoảng 1.800 USD một mtu) vào trưa ngày 16/4. Vật liệu này từng tăng hơn 3.000 USD vào cuối tháng 3, do xung đột Trung Đông và tình trạng siết xuất khẩu của Trung Quốc - thị trường cung ứng lớn nhất thế giới, theo CNBC.
Ông Danny Le, Chủ tịch HĐQT MSR, cho biết với mỗi 100 USD APT tăng giá, họ có thêm 50 triệu USD doanh thu và 10 triệu USD lợi nhuận sau thuế. "Nếu giá mỗi mtu ở mức 1.500 USD, chúng tôi trả hết nợ trong năm 2028", ông nói. Thời điểm xóa nợ sẽ sớm hơn một năm nếu giá này đạt 2.000 USD. Điều này đồng nghĩa, công ty sẽ có nguồn lực để trả cổ tức cho cổ đông vào 2027.
Tính đến cuối năm 2025, MSR nợ ròng gần 10.400 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ/EBITDA (chỉ số đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp bằng lợi nhuận trước lãi vay, thuế, khấu hao) là 4,8 lần, cải thiện so với mức 6 lần của năm trước đó.
Năm ngoái, mỏ Núi Pháo (trữ lượng 55 triệu tấn) của công ty được kéo dài thời gian khai thác đến năm 2044. Họ cũng được cấp phép khai thác thêm một mỏ trữ lượng 28 triệu tấn, dự kiến vận hành trong quý tới.
MSR cũng nhập khẩu thêm quặng ngoài để tinh chế, nhằm tối ưu hóa công suất cho nhà máy tinh luyện tại Công ty con Vonfram Masan (MTC). Hiện họ có hơn 20 nhà cung cấp, gồm "ông lớn" Mitsubishi từ Nhật Bản.
Đại diện MSR dẫn các dự báo cho thấy làn sóng đầu tư vào hạ tầng AI toàn cầu có thể đạt 5.000-8.000 tỷ USD tới năm 2030, thúc đẩy nhu cầu vonfram lên 24.000 tấn. Trong 5 năm qua, công ty nắm giữ trung bình 21% nguồn cung vật liệu này ngoài Trung Quốc.
Ngoài vonfram, quặng đa kim từ mỏ Núi Pháo còn chế biến ra các vật liệu khác gồm fluorspar, tinh quặng đồng, bismuth - các vật liệu quan trọng trong ngành công nghiệp và điện khí hóa.
Ban điều hành cho biết kết quả kinh doanh đầu năm khá thuận lợi. Quý I, họ đạt lợi nhuận sau thuế gần 540 tỷ đồng, tương đương 20 triệu USD. Công ty dự tính chuyển niêm yết từ sàn UPCoM sang Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), sau khi công ty mẹ Masan bán thêm 2% tổng lượng cổ phiếu, nhằm giảm tỷ lệ sở hữu tại MSR.