Bị cáo Bá Minh Trí (SN 1979, quê tỉnh Khánh Hòa) cùng với các cá nhân khác là các ông Hoàng Văn Thiết và Nguyễn Quốc Phong là cổ đông sáng lập Công ty Cổ phần xây dựng phát triển địa ốc Trường Thịnh Phát (Công ty Trường Thịnh Phát). Ngành nghề kinh doanh: Tư vấn, môi giới, đấu giá bất động sản, đấu giá quyền sử dụng đất.
Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng phát triển địa ốc Danh Tiến (Công ty Danh Tiến) có các cổ đông sáng lập gồm Nguyễn Quốc Phong, Nguyễn Hoàng Phạm Thái, Đỗ Bá Chiến, Hoàng Văn Thiết, Nguyễn Anh Kiệt. Người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Quốc Phong.
Cuối năm 2021, ông Đỗ Bá Chiến thỏa thuận nhận chuyển nhượng 07 lô đất, thuộc thửa đất số 1260, diện tích 2.637m2 của ông Nguyễn Thế Lộc và thửa đất 1452, diện tích 1.871,2m2 của ông Lê Văn Thành và bà Trần Thị Hạnh. Cả hai thửa đất trên đều thuộc xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (nay là xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai).
Quá trình thực hiện thủ tục phân lô, tách thửa, ông Chiến giao cho ông Nguyễn Quốc Phong và ông Hoàng Văn Thiết tìm kiếm khách hàng để chuyển nhượng cho khách mua.
Do có quan hệ quen biết, cùng hợp tác kinh doanh với Bá Minh Trí nên ông Nguyễn Quốc Phong thỏa thuận miệng cho Trí môi giới chuyển nhượng các lô đất thuộc thửa đất số 1260 và 1452 nêu trên của ông Chiến.
Theo thỏa thuận, Trí có quyền tìm kiếm khách hàng, nhận tiền đặt cọc và chuyển cho đại diện Công ty Danh Tiến; khi làm xong thủ tục tách thửa và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại diện Công ty Danh Tiến sẽ thông báo cho Trí biết, đưa khách hàng đến Văn phòng Công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng, thanh toán đủ tiền.
Dựa trên sơ đồ phân lô do ông Phong cung cấp, Trí đặt tên các lô đất thuộc thửa đất số 1260 là Khu dân cư Lộc Hưng 3 và các lô đất thuộc thửa đất số 1452 là khu dân cư Lộc Hưng 4, rồi triển khai cho các nhân viên của Công ty Trường Thịnh Phát quảng cáo tìm kiếm khách hàng.
Qua tìm hiểu, ông Phạm Văn Nghiêm và ông Lê Thế Cầu biết Công ty Trường Thịnh Phát môi giới chuyển nhượng các lô đất nên đến gặp Trí thỏa thuận đặt cọc mỗi người 100 triệu đồng; riêng bà Ngô Thị Lệ Mi đặt cọc 200 triệu đồng để mua 2 lô đất.
Đồng thới Trí hứa ký hợp đồng chuyển nhượng với các cá nhân này và các cá nhân phải đóng thêm tiền, tổng cộng 95% giá trị hợp đồng.
Mặc dù ông Chiến chưa làm xong thủ tục tách thửa đất số 1260 nhưng Trí vẫn thông báo cho bà Mi, ông Cầu, ông Nghiêm đến văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tiếp đó, Trí dẫn bà Mi và ông Cầu, ông Nghiêm về trụ sở Công ty Trường Thịnh Phát yêu cầu thanh toán thêm tiền theo thỏa thuận hợp đồng đặt cọc.
Tổng số tiền Trí nhận của bà Mi, ông Cầu, ông Nghiêm là 2.355.000.000 đồng, Trí đã sử dụng tiêu xài và chi cho hoạt động của Công ty Trường Thịnh Phát.
Đến tháng 4/2022, sau khi làm xong thủ tục tách thửa, ông Hoàng Văn Thiết thông báo cho Trí chuẩn bị tiền để thanh toán và ký hợp đồng chuyển nhượng các lô đất Trí đặt cọc, Trí xác nhận không có tiền để nhận chuyển nhượng các lô đất và bỏ tiền đặt cọc.
Quá thời hạn cam kết nhưng Trí không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Mi, ông Cầu, ông Nghiêm nên họ yêu cầu trả lại tiền, nhưng Trí chỉ trả lại cho bà Mi 70.000.000 đồng; hiện còn chiếm đoạt là 2.285.000.000 đồng.
Ngoài các hành vi trên, bị cáo Bá Minh Trí còn thừa nhận, vào năm 2022, Trí còn đại diện Công ty Trường Thịnh Phát ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng lô một lô đất thuộc thửa đất số 37, Tờ bản đồ 44, tại Ấp 9, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (nay là xã Lộc Ninh, tỉnh Đồng Nai) với bà Nguyễn Thị Chuyên với tổng trị giá là 595.000.000 đồng. Bà Chuyên đặt cọc cho Trí 100.000.000 đồng.
Bà Chuyên đã chuyển cho Trí tổng cộng 515 triệu đồng nhưng sau đó không được Trí tiếp tục thực hiện các thủ tục để chuyển nhượng cho bà Chuyên, cũng không trả lại tiền cho người này.
Tổng số tiền bị cáo Bá Minh Trí chiếm đoạt của các bị hại là gần 2,9 tỷ đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trí thừa nhận hành vi phạm tội như trên, đồng thời cho biết không còn khả năng hoàn trả lại tiền cho các bị hại. Tuy nhiên, bị cáo Trí vẫn mong được pháp luật khoan hồng, tuyên mức án nhẹ.
Sau khi nghị án, HĐXX nhận định hành vi của bị cáo Trí đặc biệt nghiêm trọng, cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội nên có có mức án nghiêm khắc.
Bộ Công an vừa đề xuất sửa đổi, bổ sung điều luật này theo hướng mở rộng các hành vi phạm tội, phù hợp với Luật Đất đai năm 2024.
Theo quy định hiện hành, Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội "vi phạm các quy định về quản lý đất đai" với cấu thành cơ bản là hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện các quyết định trái pháp luật trong các hoạt động như giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Tuy nhiên, điều luật này mới chỉ liệt kê một số nhóm hành vi cụ thể, trong khi phạm vi quản lý nhà nước về đất đai trên thực tế rộng hơn nhiều.
Đáng chú ý, một số hoạt động quản lý quan trọng như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý quy hoạch, bồi thường, hỗ trợ tái định cư… lại chưa được quy định trong cấu thành tội phạm của Điều 229.
Thực tiễn xét xử đã phát sinh những tình huống pháp lý gây tranh luận. Điển hình, trong một vụ án liên quan đến dự án tại khu vực núi Chín Khúc (Khánh Hòa), bị cáo là nguyên lãnh đạo địa phương bị truy tố, xét xử về hành vi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái quy định.
Trong quá trình tranh tụng, quan điểm bào chữa cho rằng hành vi này không thuộc các nhóm hành vi được liệt kê tại Điều 229. Tuy nhiên, cơ quan xét xử vẫn áp dụng điều luật này để buộc tội.
Từ thực tiễn trên cho thấy, khi quy định pháp luật chưa bao quát đầy đủ các hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng có thể phải mở rộng cách hiểu để xử lý. Điều này tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến nguyên tắc xác định tội danh một cách chặt chẽ trong pháp luật hình sự.
Luật Đất đai năm 2024 đã mở rộng đáng kể phạm vi quản lý nhà nước về đất đai. Cụ thể, Điều 20 của luật này quy định 18 nội dung quản lý, bao gồm các lĩnh vực như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý tài chính đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bồi thường - hỗ trợ - tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại và cung cấp dịch vụ công về đất đai. Sự mở rộng này cho thấy rõ sự "lệch pha" giữa pháp luật hình sự và pháp luật chuyên ngành.
Trong khi Luật Đất đai điều chỉnh toàn diện các hoạt động quản lý, thì Điều 229 Bộ luật Hình sự lại chưa cập nhật tương ứng, dẫn đến khoảng trống pháp lý trong việc xử lý các hành vi vi phạm.
Nếu không kịp thời sửa đổi, bổ sung Điều 229, có thể phát sinh hai hệ quả: hoặc là bỏ lọt những hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được điều chỉnh, hoặc là phải vận dụng, suy diễn quy định hiện hành để xử lý. Cả hai trường hợp đều không bảo đảm yêu cầu chặt chẽ của pháp luật hình sự.
Vừa qua, Bộ Công an đã đề xuất nghiên cứu sửa đổi Điều 229 theo hướng bổ sung các hành vi phạm tội phù hợp với nội dung quản lý đất đai theo Luật Đất đai năm 2024.
Trong đó, đáng chú ý là các hành vi như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật; vi phạm trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; sai phạm trong quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các hoạt động quản lý tài chính đất đai.
Đề xuất này được đánh giá là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai - một lĩnh vực vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro và phức tạp.
Việc hoàn thiện quy định của Điều 229 không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống vi phạm mà còn giúp bảo vệ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ, tránh trường hợp bị xử lý hình sự do cách hiểu không thống nhất hoặc do khoảng trống của pháp luật.
Trong bối cảnh các vi phạm đất đai ngày càng đa dạng, tinh vi, yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng đầy đủ, minh bạch và khả thi là hết sức cấp thiết. Đây cũng là điều kiện quan trọng để bảo đảm việc xử lý vi phạm được thực hiện đúng quy định, công bằng và phù hợp với thực tiễn.
Khoảng 12h30 ngày 10/5, từ tin báo của người dân, công an kiểm tra khu vực bãi tắm ở thôn 2 Cát Bà, đưa 6 người nghi sử dụng ma túy về trụ sở.
Trong nhóm này, Trần Đức Phong (35 tuổi, trú Hà Nội) bị nghi là người chuẩn bị ma túy MDMA, Methamphetamine và Ketamine. Đoàn Thị Thúy An (36 tuổi, trú Cát Bà, hai quốc tịch Việt Nam và Mỹ) chuẩn bị địa điểm.
Những người tham gia còn lại là Lê Ánh Nhật (ca sĩ Miu Lê, 35 tuổi, trú TP HCM), Vũ Khương An (31 tuổi, trú TP HCM, hai quốc tịch Việt Nam và Canada), Trần Minh Trang (30 tuổi, trú Hà Nội) và Vũ Tài Nam (24 tuổi, Bắc Ninh).
Kết quả xét nghiệm nhanh cho thấy 6 người dương tính với ma túy. Trong đó, Phong, Nam, An và Nhật dương tính với Methamphetamine, Ketamine và MDMA.
Công an TP Hải Phòng đang tiếp tục làm rõ sự việc.
Miu Lê năm nay 35 tuổi, quê Ninh Thuận cũ. Năm 2009, cô bắt đầu sự nghiệp diễn xuất với phim Những thiên thần áo trắng, sau đó ghi dấu ấn qua các dự án khác như Em là bà nội của anh, Bạn gái tôi là sếp, Anh thầy ngôi sao. Ngoài đóng phim, cô còn là ca sĩ, nổi tiếng với bản hit Giá như cô ấy chưa xuất hiện, Thầm thương trộm nhớ, Vì mẹ em bắt chia tay.
Ông Nguyễn Bá Hoan, cựu Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ), vừa bị Viện KSND tối cao truy tố với cáo buộc nhận hối lộ của nhóm doanh nghiệp (DN) đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài.
Nhóm cán bộ cấp dưới của ông Hoan bị viện kiểm sát truy tố cùng tội danh gồm: Tống Hải Nam, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước; Phạm Viết Hương và Nguyễn Gia Liêm (đều là cục phó); Lê Thanh Hà (Trưởng phòng Hàn Quốc) cùng 3 người khác. 11 người bị truy tố tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, trong đó có các ông Nghiêm Quốc Hưng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Hoàng Long; Nguyễn Đức Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Sona; Nghiêm Văn Định, Giám đốc Công ty Incoop3.
Ông Nguyễn Bá Hoan giữ chức Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội từ năm 2020 - 2025, phụ trách chỉ đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước. Và theo cáo trạng, nhóm cán bộ thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước đã kéo dài thời gian thẩm định hồ sơ, yêu cầu bổ sung tài liệu nhiều lần, gây khó dễ cho các DN đưa người đi xuất khẩu lao động, để buộc họ chi tiền "bôi trơn" khi xin cấp, cấp đổi giấy phép. Trong suốt 8 năm, tổng số tiền cựu lãnh đạo, cán bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận hơn 9 tỉ đồng.
Cáo trạng thể hiện, trong giai đoạn 2017 - 2025, với vai trò cục trưởng, ông Tống Hải Nam đã chỉ đạo cấp dưới là Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang (chuyên viên Phòng Pháp chế) gây khó khăn cho DN khi nộp hồ sơ đề nghị cấp mới hoặc cấp đổi giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Nguyễn Thành Hưng chủ động đưa ra mức "chi phí" từ 250 - 400 triệu đồng/hồ sơ cấp mới. Với hồ sơ cấp đổi, mức tiền thấp hơn.
Còn đối với các hồ sơ thông qua Nguyễn Lâm Sơn (Giám đốc một công ty luật làm trung gian) mức chi được ấn định 400 triệu đồng cho cấp mới và 100 triệu đồng cho cấp đổi. Số tiền "bôi trơn" sau đó được Hưng và Trang phân chia, chuyển cho Tống Hải Nam theo "định mức" từ 150 - 250 triệu đồng/hồ sơ. Từ số tiền nhận của DN, ông Nam tiếp tục chuyển khoảng 100 triệu đồng/hồ sơ cho ông Hoan để được ký duyệt giấy phép.
Viện kiểm sát cáo buộc, khi được giao phụ trách Cục Quản lý lao động ngoài nước, Thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan biết tình trạng cán bộ kéo dài thời gian thẩm định để vòi tiền DN. Tuy nhiên thay vì chấn chỉnh, ông lại nhiều lần nhận tiền do Tống Hải Nam đưa để ký cấp phép.
Kết quả điều tra cho thấy trong suốt 8 năm, nhóm bị can đã nhận tổng cộng hơn 9 tỉ đồng để xử lý 29 giấy phép cho 28 DN. Trong đó, Nguyễn Thành Hưng là người nhận nhiều nhất với hơn 7,7 tỉ đồng, Phan Thị Thu Trang nhận 1,2 tỉ đồng.
Sau khi nhận tiền từ DN, Hưng đã 41 lần đưa tổng cộng 4,55 tỉ đồng cho ông Nam, Trang cũng 6 lần đưa khoảng 846 triệu đồng cho cục trưởng. Từ nguồn tiền này, ông Tống Hải Nam đưa cho ông Nguyễn Bá Hoan tổng cộng 1,4 tỉ đồng cùng quà tặng là hai chiếc đồng hồ trị giá khoảng 450 triệu đồng để được ký nhanh 14 giấy phép.
Không chỉ gây khó dễ trong việc cấp phép, viện kiểm sát xác định một "quy trình riêng" đã được cựu thứ trưởng và cấp dưới dựng lên trong khâu đăng ký hợp đồng cung ứng lao động đi Hàn Quốc theo diện visa E7, qua đó biến thủ tục hành chính thành công cụ buộc DN chi tiền.
Theo cáo trạng, nhằm tạo rào cản đối với DN, ông Tống Hải Nam đã báo cáo ông Hoan và được đồng ý cho xây dựng quy trình thẩm định hồ sơ đăng ký hợp đồng. Từ đó, ông Nam chỉ đạo cấp dưới xây dựng quy trình này. Ông Nam chỉ đạo Phòng Hàn Quốc yêu cầu DN phải có tài liệu chứng minh về hạn mức tuyển dụng lao động của chủ sử dụng lao động tại nước ngoài. Tài liệu này buộc phải có xác nhận của cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc.
Tuy nhiên thực tế các DN không thể thu thập, cung cấp được tài liệu này nên đặt vấn đề "đưa tiền cảm ơn" nhờ ông Nam giúp đỡ, tạo điều kiện bỏ qua lỗi và phê duyệt nhanh hồ sơ. Kết quả điều tra xác định, từ năm 2021 - 2025, khi làm thủ tục xin cấp phiếu trả lời để xuất khẩu lao động, các ông Hưng, Nam và Định đã nhiều lần trực tiếp đưa tiền cho lãnh đạo, cán bộ cục. Tổng số tiền nhóm DN này hối lộ hơn 281.800 USD và 190 triệu đồng (tương đương hơn 6,8 tỉ đồng).
Nhóm DN hối lộ số tiền trên để được tạo điều kiện cấp phiếu thực hiện đơn hàng cho 548 lao động, với "định mức" khoảng 500 USD mỗi lao động, cáo trạng nêu. Trong đó, riêng Tổng giám đốc Nghiêm Quốc Hưng bị cáo buộc chi hơn 239.800 USD để được giải quyết hồ sơ cho 129 lao động.
Ông Nguyễn Bá Hoan bị xác định đã 3 lần nhận tổng cộng 170.000 USD và 50 triệu đồng (tương đương hơn 4 tỉ đồng). Tống Hải Nam nhận 11 lần với tổng số hơn 74.000 USD và 100 triệu đồng. Một số cán bộ, lãnh đạo khác cũng nhận tiền với các mức khác nhau để "tạo điều kiện", trả lời nhanh hồ sơ.
Không chỉ trong quá trình xử lý hồ sơ, vào các dịp lễ, Tết, các DN còn tiếp tục chi tiền "cảm ơn". Ông Nguyễn Bá Hoan bị xác định nhận tổng cộng hơn 450.000 USD và 310 triệu đồng, ông Tống Hải Nam nhận hơn 105.000 USD và hơn 1 tỉ đồng.
Viện kiểm sát cáo buộc số tiền cựu Thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan cùng cấp dưới nhận vào các dịp lễ Tết được xác định là tiền hối lộ để tạo điều kiện cho DN. Theo đó, ông Hoan bị cáo buộc nhận hối lộ nhiều lần tổng 16,3 tỉ đồng. Ông Nam nhận 14,3 tỉ đồng, hưởng lợi 8 tỉ đồng. Nhóm cán bộ còn lại chịu trách nhiệm số tiền nhận hối lộ từ vài chục triệu đến vài tỉ đồng.