Từ 14 đến 16 giờ 20 ngày 21.4, Báo Thanh Niên tổ chức chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 “Chiến thuật tăng cơ hội trúng tuyển vào nguyện vọng yêu thích”. Chương trình diễn ra đồng thời ở các kênh: thanhnien.vn, fanpage Facebook, kênh YouTube, TikTok Báo Thanh Niên.
Thông tin được công bố tại Hội nghị tuyển sinh năm 2026 của Bộ GD- ĐT sáng 20.4, cho thấy từ năm 2022 đến nay, số lượng thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT đều trên mức trên 1 triệu thí sinh. Số thí sinh trúng tuyển, tỷ lệ thí sinh nhập học cũng tăng dần qua từng năm. Trong đó, năm 2025 số thí sinh trúng tuyển nhập học trên chỉ tiêu đạt mức kỷ lục, lên tới mức 90%, cao nhất trong 4 năm qua. Trong 5 phương thức tuyển sinh chủ đạo của năm 2025, phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT chiếm tới trên 50% thí sinh trúng tuyển.
Từ ngày 24.4 tới đây, thí sinh sẽ thực hiện đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT trực tuyến trên hệ thống của Bộ GD-ĐT. Đây là một bước vô cùng quan trọng vì môn thi có liên quan đến tổ hợp môn xét tuyển vào ĐH. Với cách thức tuyển sinh ĐH năm nay, làm thế nào để tối ưu hóa tổ hợp môn xét tuyển ĐH từ việc lựa chọn môn thi tốt nghiệp THPT?
Chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến với chủ đề “Chiến thuật tăng cơ hội trúng tuyển vào nguyện vọng yêu thích” sẽ có thông tin lưu ý quan trọng trong việc chọn môn thi, cách sử dụng phương thức xét tuyển, cách sắp xếp nguyện vọng để có lợi cạnh tranh nhất.
*Đợt 1 diễn ra từ 14 giờ -15 giờ, gồm các chuyên gia:
Bạn đọc quan tâm tới việc chọn môn thi tốt nghiệp THPT, cách sử dụng phương thức xét tuyển có thể đặt câu hỏi trong phần bình luận chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 tại các địa chỉ trên.
Tin Gốc: Thanh Niên

GS. TS Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng - Viện Công nghệ cao Việt Nhật và giảng viên cao cấp tại khoa Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia năm 2025, hồi tháng 3.
Giải thưởng mang tên nhà toán học người Nga - Sophia Kovalevskaia, để vinh danh những nhà khoa học nữ có thành tựu xuất sắc của Việt Nam.
Tại Đại học Xây dựng Hà Nội, chị Nga giảng dạy môn Xử lý nước thải, Hóa nước - Hóa môi trường, Công nghệ xử lý nước thải bậc cao và Quản lý tổng hợp nguồn nước. Hướng nghiên cứu của chị tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
"Giải Kovalevskaia là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm", chị Nga nói.
Chị Nga có bố là GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia khoa học hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước. Thừa hưởng tinh thần học tập, nghiên cứu từ gia đình, chị sớm đam mê khoa học, khát khao khám phá những kiến thức mới.
Năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội, khoa Kỹ thuật hạ tầng và cấp thoát nước. Khi ấy, lựa chọn của chị giản đơn - muốn tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời nghiên cứu.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp, nhờ tư duy logic về kỹ thuật, được rèn giũa từ môi trường khoa học trong gia đình. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Bên cạnh đó, kỹ thuật cấp thoát nước vốn là tổng hòa liên ngành kỹ thuật-xã hội, liên quan con người và môi trường, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống. Đây đều là những vấn đề thách thức mà chị quan tâm, thôi thúc chị tiếp tục học lên cao, theo con đường nghiên cứu, giảng dạy.
Năm 1996, chị Nga tốt nghiệp xuất sắc, sau đó nhận học bổng du học thạc sĩ tại Viện Kỹ thuật Châu Á (AIT), Thái Lan. Trước ngày lên đường, nhiều người "rào" rằng học sâu về ngành này rất nặng. Nhưng chị Nga không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
"Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực", chị Nga tâm niệm.
Ba năm sau, chị nhận học bổng tiến sĩ tại Đại học Tokyo - ngôi trường top 1 Nhật Bản, rồi làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Theo chị Nga, mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều có những khó khăn, đòi hỏi chị có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu để tự chinh phục tri thức mới.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị "lăn lộn" để nhìn thấu đáo một bài toán. Khi đã ra được định hướng tốt nhất, "việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình".
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là "thành tựu", theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, khi nghiên cứu không đạt kỳ vọng ban đầu, chị quay lại "lục lọi", đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được "thắp" thêm sự tự tin để đi tiếp.
Tới nay, chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp bộ. Mỗi nghiên cứu đều là "đứa con khoa học" mà chị dành nhiều tâm huyết, tiêu biểu là công trình phát triển công nghệ màng lọc MBR và AnMBR trong xử lý nước thải.
Theo chị Nga, công nghệ này có hiệu quả cao và mở ra nhiều tiềm năng ngoài xử lý và loại bỏ ô nhiễm. Nó giúp tái sử dụng nước cho những mục đích phi ăn uống (như nông nghiệp), đồng thời cho phép thu hồi những vật chất có ích để tái tạo sản phẩm phục vụ cuộc sống, ví dụ khí sinh học từ nguồn thải.
Trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, môi trường, chị Nga nhận định hành trình đưa kết quả từ phòng thí nghiệm tới thực tế là rất dài. Nó đòi hỏi nguồn lực lớn để triển khai trên quy mô rộng, cùng sự hợp lực từ các cơ quan nhà nước và ý thức doanh nghiệp để môi trường được đặt vào đúng vị thế quan trọng.
Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn cho một lĩnh vực đời sống rất quan trọng. Đây cũng là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu, cống hiến cho phát triển xanh, sạch và bền vững.
Chị Nga cho rằng chất lượng nước luôn là vấn đề quan trọng ở tất cả cấp độ phát triển của xã hội, nên những nghiên cứu về nó sẽ không bao giờ dừng lại. Nữ giảng viên dự định tiếp tục tìm hiểu ứng dụng công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán ngoài khả năng của công nghệ truyền thống.
Nhìn lại hành trình, chị Nga tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới chính là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
"Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua", chị Nga tâm niệm.
Chị cũng tin rằng, trong những nghiên cứu kỹ thuật liên quan tới đời sống, các nhà khoa học nữ có lợi thế ở khả năng thấu cảm, sự phối hợp hài hòa trong nhóm nghiên cứu và khả năng nhìn nhận thấu đáo. Dù phải gánh vác nhiều trách nhiệm, đó cũng là cơ hội quý để rèn luyện nỗ lực, sự kiên trì và khả năng tổ chức công việc hiệu quả.
"Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công", chị nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tối 28/4 công bố số liệu trên. So với năm ngoái, số học sinh không thi lớp 10 năm nay ít hơn 2.000, trong khi tổng số dự thi (125.000) tăng gần 23.000 em.
Trường THPT có tỷ lệ chọi cao nhất là THPT Yên Hòa - 1/3,35. Chỉ tiêu của trường là 765, có tới hơn 2.500 học sinh đăng ký nguyện vọng 1. Đứng thứ hai là THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông với tỷ lệ 1/3.
Những trường góp mặt trong top 10 tỷ lệ chọi cao nhất còn có Nguyễn Thị Minh Khai, Kim Liên, Phan Đình Phùng, Cầu Giấy, Thăng Long, Trần Phú, Hoàn Kiếm.
Nếu xét riêng nguyện vọng 1, Yên Hòa và Lê Quý Đôn vẫn đứng đầu, theo sau là Kim Liên, Việt Đức, Phan Đình Phùng. "Nhân tố" bất ngờ là THPT Tùng Thiện với vị trí 12, nhận 1.400 nguyện vọng.
Tính tổng cả ba nguyện vọng, THPT Bắc Lương Sơn cao nhất với hơn 7.500. Các trường trong top 10 nhóm này chủ yếu nằm ở ngoại thành, thường lấy 3-4 điểm chuẩn mỗi môn, như Đại Mỗ, Minh Quang, Đại Cường, Lưu Hoàng.
Năm nay, chỉ tiêu lớp 10 công lập là hơn 82.660 (đã tính cả ba trường mới là Hoàng Quán Chi, Việt Hùng, Minh Châu), tương đương hơn 56%.
Kỳ thi diễn ra ngày 30/5-1/6. Điểm thi, điểm chuẩn lớp 10 công lập ở Hà Nội dự kiến được công bố từ ngày 19 đến 22/6.
Tin Gốc: Vnexpress
Với môn toán, giáo viên (GV) Trần Văn Toàn, nguyên tổ trưởng tổ toán Trường THPT Marie Curie (P.Xuân Hòa, TP.HCM), lưu ý 6 mảng kiến thức trọng tâm để học sinh (HS) hệ thống, gồm: hàm số và ứng dụng đạo hàm, đây là phần trọng tâm của đề thi, cần được ôn chắc các nội dung như tính đơn điệu, cực trị, giá trị lớn nhất - nhỏ nhất, tiệm cận và vận dụng đạo hàm vào bài toán thực tế. Mũ, logarit, đề thi chính thức vẫn giữ các dạng quen thuộc của phương trình, bất phương trình mũ - logarit, nhưng cách hỏi không hoàn toàn máy móc.
Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng, các câu hỏi thuộc mảng này thường không chỉ dừng ở thao tác tính toán thuần túy mà còn gắn với diện tích, thể tích, ý nghĩa hình học hoặc bối cảnh thực tế. Vì vậy, khi ôn tập, cần nhận diện công thức cơ bản và vận dụng tích phân vào một mô hình cụ thể.
Xác suất, thống kê và tư duy đọc tình huống, với phần này cách ôn hiệu quả nhất không phải là làm thật nhiều bài khó mà là luyện phân tích đề và nhận biết cấu trúc của từng dạng.
Hình học không gian vẫn giữ vai trò quan trọng, cần ôn kỹ các quan hệ song song, vuông góc, góc giữa đường thẳng và mặt phẳng, khoảng cách trong không gian.
Còn hình học giải tích Oxyz, nhiều câu hỏi được đặt dưới dạng mô tả thực tế hoặc quan hệ hình học. Khi ôn tập, cần luyện cách biến dữ kiện thực tế thành tọa độ, vectơ hoặc phương trình.
Từ đó, thầy Toàn nhắc HS phải chắc để không mất điểm đáng tiếc ở những phần hàm số, mũ - logarit, nguyên hàm - tích phân cơ bản, xác suất cơ bản và các câu nhận biết. Phần cần luyện để đạt mức điểm khá, gồm đúng - sai, các bài vận dụng về hàm số, xác suất có điều kiện, hình học không gian và Oxyz... Tiếp đến là nhóm phân hóa, gồm các câu trả lời ngắn yêu cầu lập luận độc lập, xử lý dữ kiện phức hợp hoặc mô hình hóa toán học.
Thầy Toàn chỉ một sai lầm phổ biến khi ôn tập là HS thường mải chạy theo câu khó quá sớm, trong khi phần nền tảng lại chưa thật chắc. Cách ôn như vậy thường làm mất rất nhiều thời gian mà hiệu quả không cao.
Theo thầy Đỗ Đức Anh, Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành, TP.HCM), việc ôn văn không khó nếu đi đúng hướng bằng cách nắm chắc cấu trúc đề, luyện đúng dạng và hình thành tư duy trình bày mạch lạc.
Trước hết, thầy Đức Anh lưu ý HS cần hiểu rõ cấu trúc đề thi không đánh đố mà kiểm tra năng lực nhận diện, phân tích ngắn gọn. Vì vậy đừng học thuộc lòng máy móc; hãy luyện thói quen trả lời đúng, trúng, đủ: xác định yêu cầu, gọi tên kiến thức, rồi lý giải ngắn gọn. Với những câu 0,5 - 1 điểm, chỉ cần 3 - 5 dòng súc tích, tránh lan man.
Thầy Đức Anh cho hay HS mắc một sai lầm phổ biến là học dàn trải. Thay vào đó, hãy ôn theo chuyên đề: đọc hiểu văn bản thông tin, văn bản nghị luận, văn bản thơ hiện đại, truyện ngắn, nhật ký, phóng sự, tiểu thuyết... Mỗi chuyên đề cần có "công thức xử lý" riêng cho từng câu hỏi. Song song đó, luyện đề đều đặn là cách tốt nhất để rèn tốc độ và kỹ năng phân bổ thời gian. Một bài thi hiệu quả không chỉ đúng mà còn phải kịp giờ.
Phần viết đoạn văn là "trận địa" khó. Với nghị luận xã hội, dẫn chứng không cần quá lớn lao; một hiện tượng đời sống gần gũi, một câu nói hay cũng đủ sức thuyết phục nếu được phân tích khéo léo. HS nên chuẩn bị sẵn "kho dẫn chứng" theo chủ đề quen thuộc: ý chí, trách nhiệm, lòng nhân ái, khát vọng tuổi trẻ… Với đoạn nghị luận văn học đòi hỏi chiều sâu. Muốn làm tốt, không thể chỉ học thuộc bài mẫu. Hãy đọc kỹ văn bản, nắm chủ đề, hình tượng trung tâm, và những nét đặc sắc nghệ thuật.
"Ôn thi môn ngữ văn không phải là hành trình nhồi nhét, mà là quá trình hiểu - cảm - viết. Đi đúng đường, mỗi trang giấy sẽ trở thành nơi bạn ghi dấu nỗ lực của mình. Và biết đâu trong chính bài thi ấy, bạn sẽ tìm thấy một phần rất đẹp của bản thân", thầy Đức Anh gợi mở.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT không còn là cuộc đua xem ai nhớ nhiều cấu trúc ngữ pháp khô khan hơn mà là xem ai dùng tiếng Anh sành hơn trong thực tế.
GV Trương Thị Cẩm Hân, Trường quốc tế Á Châu, hướng dẫn HS cần nắm vững toàn bộ các chủ điểm ngữ pháp cốt lõi và vốn từ vựng theo chủ đề trải dài từ lớp 10 - 12. Biện pháp tối ưu lúc này là áp dụng phương pháp học từ vựng qua ngữ cảnh (Contextual learning) và sử dụng mindmap để kết nối các nhóm từ cùng chủ đề; đồng thời HS cũng phải làm chủ được các cấu trúc ngữ pháp nâng cao thường xuất hiện trong đề thi mới như mệnh đề danh ngữ, các dạng đảo ngữ, câu điều kiện hỗn hợp...
Vào lúc này, trọng tâm ôn tập sẽ chuyển sang việc rèn luyện kỹ năng theo từng dạng bài cụ thể nhằm "xóa mù" các định dạng mới như sắp xếp câu hay điền từ vào đoạn văn. Luyện tập theo chuyên đề, xây dựng sổ tay "bẫy đề thi": ghi lại những lỗi sai của bản thân về cụm từ cố định (collocations) hoặc các cụm từ dễ nhầm lẫn giúp ghi nhớ sâu và tránh lặp lại sai lầm.
Theo cô Hân, HS cần lưu ý dành thời gian tổng lực luyện đề và tối ưu thời gian. Đây là thời gian để thí sinh rèn luyện áp lực phòng thi và quản lý thời gian (50 phút/40 câu). HS thực hành trên đề thi chính thức của năm trước cùng các đề thi thử để làm quen với áp lực phòng thi thực tế. Áp dụng nghiêm ngặt quy tắc "35/15": dành 35 phút làm bài và 15 phút cuối cùng để kiểm tra lại các câu khó hoặc câu dễ nhầm lẫn, không bao giờ để trống đáp án.
Tin Gốc: Thanh Niên

