Tại hội thảo quốc tế Ung thư vú năm 2026 (diễn ra từ 22 – 23.4), tại Hà Nội, PGS-TS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, cho biết: “Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 25.000 ca mắc mới ung thư vú. Nhờ phát hiện sớm và điều trị đúng, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú tại Việt Nam đã đạt 85% – 90%. Rất nhiều ca bệnh ung thư vú có thời gian sống dài, có ca bệnh sống thêm 30 năm, đến khám khi có một số bất thường sức khỏe”.
Theo TS Quang, thông qua các chương trình giáo dục sức khỏe và truyền thông, các bệnh nhân ung thư vú phát hiện ở giai đoạn muộn đã giảm rõ rệt. 15 – 20 năm trước, khoảng 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến bệnh viện ở giai đoạn muộn, hiện, 3/4 bệnh nhân đã đến khám, tư vấn ở giai đoạn sớm.
TS Quang đánh giá, chẩn đoán, phát hiện sớm ung thư vú làm tăng cơ hội điều trị khỏi ở người bệnh ung thư, bao gồm ung thư vú. Trong đó, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã hỗ trợ bác sĩ đánh giá chính xác, cập nhật thông tin và tổng hợp các phác đồ từ nhiều nguồn khác nhau để hội chẩn đa chuyên khoa hiệu quả tối ưu cho từng người bệnh.
“Nhưng AI chỉ là công cụ hỗ trợ tìm kiếm và phân tích dữ liệu để tiết kiệm thời gian. Bác sĩ vẫn là người quyết định và chịu trách nhiệm cuối cùng về mặt đạo đức và pháp lý, chẩn đoán bệnh”, TS Quang lưu ý.
Trước thực tế xét nghiệm mẫu máu chẩn đoán dấu ấn ung thư (xét nghiệm marker ung thư, chất chỉ điểm ung thư) đang được chỉ định khá rộng rãi trong sàng lọc bệnh, bác sĩ Quang cho biết, xét nghiệm marker đơn lẻ không thể phải là chỉ số khẳng định được tình trạng mắc bệnh ung thư. Việc chỉ nhìn vào một chỉ số tăng cao mà tự suy đoán sẽ dẫn đến lo lắng không đáng có. Chẩn đoán chính xác ung thư phải kết hợp giữa thăm khám lâm sàng và hệ thống nhiều xét nghiệm khác nhau do bác sĩ chuyên khoa chỉ định.
Theo thông tin tại hội thảo, ung thư vú là bệnh ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có xu hướng trẻ hóa độ tuổi mắc bệnh. Những bước tiến trong điều trị và quản lý bệnh ung thư vú ở Việt Nam đã bắt kịp trình độ thế giới ở nhiều lĩnh vực.
Trong đó, điều trị đa mô thức như: phẫu thuật, các phác đồ hóa chất, thuốc nhắm trúng đích, thuốc miễn dịch và các kỹ thuật xạ trị tiên tiến; chẩn đoán phân tử như: xét nghiệm gen, xét nghiệm hóa mô miễn dịch đánh giá các phân nhóm ung thư vú, giúp các bác sĩ ra quyết định điều trị chính xác cho từng bệnh nhân, đem lại hiệu quả điều trị tốt nhất.
Hiệu quả điều trị phụ thuộc lớn vào thời điểm phát hiện giai đoạn của bệnh, phát hiện sớm đem lại cơ hội điều trị khỏi, do đó phụ nữ nên chủ động tầm soát ung thư vú hàng năm, nhất là người từ 40 tuổi hoặc khi có một số dấu hiệu bất thường.
Nên khám chuyên khoa khi có dấu hiệu cảnh báo ung thư vú: vú có các u cục bất thường; kích thước vòng một to lên bất thường, không tương xứng hai bên và thường xuyên cảm thấy cương cứng; thay đổi ở da vú (da tấy đỏ, độ dày của da thay đổi…); núm vú thay đổi bất thường (có tình trạng thụt vào bên trong, da núm vú nhăn nheo, sần sùi…).
Tại họp báo Chính phủ chiều 4-5, phóng viên đặt câu hỏi về việc Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 (tỉnh Ninh Bình) có được đưa vào hoạt động trong quý 2 năm nay, theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng hay không? Đồng thời đề nghị cho biết những vướng mắc chính còn tồn tại tại hai cơ sở y tế này.
Theo ông Lê Đức Luận - Thứ trưởng Bộ Y tế, đây là hai dự án có quy mô rất lớn và hiện đại, mỗi dự án có mức đầu tư khoảng 5.000 tỉ đồng trên diện tích khoảng 138.000m².
Để xử lý khó khăn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 34 với cơ chế tháo gỡ vướng mắc. Tuy nhiên quá trình thi công và hoàn thiện thực tế vẫn phát sinh nhiều bất cập.
Ông Luận dẫn ví dụ: dự toán cho một số hạng mục phải lập từ năm 2018-2019 mới có thể thẩm tra, phê duyệt; việc thay đổi thiết kế kéo theo điều chỉnh hàng loạt hạng mục liên quan như phòng cháy chữa cháy, hệ thống cấp thoát nước.
Việc mua sắm thiết bị y tế cũng là một điểm nghẽn lớn. Do dự án được phê duyệt từ giai đoạn 2014-2015, các thiết bị trong danh mục ban đầu nay không còn phù hợp.
"Phải điều chỉnh toàn bộ và mua những thiết bị y tế hiện đại ở thời điểm này", ông Luận nói, đồng thời lưu ý quy trình mua sắm vẫn phải tuân thủ đúng quy định.
Trong thời gian qua, Bộ Y tế cùng các bộ ngành, đơn vị liên quan đã nỗ lực tháo gỡ vướng mắc, phấn đấu đưa hai bệnh viện vào hoạt động trong quý 2 năm nay.
Đến nay, phần lớn vướng mắc đã được giải quyết. Các công việc còn lại gồm hoàn thiện các hạng mục phòng cháy chữa cháy (phải điều chỉnh, bổ sung so với trước), hệ thống thoát nước thải và xử lý môi trường.
Về tài chính, ông Luận cho biết các nhà thầu trong dự án không thể vay vốn ngân hàng. Để tháo gỡ, Bộ Y tế đã chỉ đạo Ban quản lý dự án áp dụng cơ chế tạm thanh toán lên tới 90% khối lượng đã thực hiện.
Với các hạng mục mới phát sinh, mức tạm thanh toán được nâng lên 50% - cao hơn quy định - nhằm tạo điều kiện cho nhà thầu có nguồn lực thi công.
Bộ Y tế cũng đang phối hợp với Bộ Xây dựng xử lý vướng mắc liên quan thẩm tra, phê duyệt dự toán các gói thầu, đồng thời yêu cầu các nhà thầu khẩn trương tập trung nhân lực hoàn thiện các hạng mục còn dang dở.
Ngày 14/4, Bệnh viện Bạch Mai đưa ra khuyến cáo về nguy cơ ngừng tim khi chơi thể thao trong mùa hè, trong đó có môn chạy bộ.
Trước đó, một vận động viên tham gia giải chạy gần đây bị ngừng tuần hoàn khi chỉ còn cách vạch đích khoảng 10m. Nhờ được phát hiện sớm và cấp cứu kịp thời, người bệnh đã qua cơn nguy kịch.
Theo các bác sĩ Trung tâm Cấp cứu A9 - Bệnh viện Bạch Mai, chạy bộ là hình thức rèn luyện sức khỏe hiệu quả, song các biến cố tim mạch cấp tính, đặc biệt là ngừng tim đột ngột, vẫn có thể xảy ra, kể cả ở người không có triệu chứng trước đó.
Nguy cơ này gia tăng khi vận động quá sức, mất nước, thiếu ngủ hoặc tập luyện trong điều kiện thời tiết nắng nóng.
Ngoài ra, trong mùa hè, nguy cơ sốc nhiệt khi chạy, tập luyện thể thao ngoài nắng nóng vẫn có thể xảy ra. Người sốc nhiệt thường có biểu hiện lơ mơ, yếu cơ tứ chi, hạ huyết áp, da khô...
Theo các chuyên gia, rủi ro trong thể thao luôn có thể xảy ra, ngay cả với vận động viên chuyên nghiệp. Vì thế, ngoài sự chuẩn bị kỹ lưỡng trong quá trình luyện tập, ngay trong cuộc đua, mỗi người cũng cần lắng nghe cơ thể, nhận biết các dấu hiệu bất thường để điều chỉnh tốc độ chạy phù hợp với bản thân trong quá trình gắng sức.
Theo đó, nếu trong quá trình chạy, bạn thấy có những cơn đau tức ngực lạ thường mà không xuất hiện ở các buổi tập; nhịp tim nhanh lên một cách bất thường, không đúng với việc gắng sức (theo dõi qua đồng hồ thể thao); cảm giác mệt mỏi, ngưỡng gắng sức kém đi so với cùng mức độ tập luyện ở ngày thường... đều là những dấu hiệu cảnh báo bạn nên giảm tốc độ, báo ngay với đội y tế để được kiểm tra, theo dõi kĩ lưỡng.
PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Cấp cứu A9, lưu ý người tham gia chạy cần đặc biệt lưu ý các dấu hiệu cảnh báo như chóng mặt, đau ngực, khó thở, tim đập bất thường, mệt lả hoặc lú lẫn. Khi xuất hiện những biểu hiện này, cần dừng vận động ngay và tìm kiếm hỗ trợ y tế.
"Trong trường hợp ngừng tim, cấp cứu ban đầu có ý nghĩa quyết định. Khi tim ngừng đập, não có thể bắt đầu tổn thương sau khoảng 4-6 phút nếu không được cung cấp máu.
Vì vậy, hồi sinh tim phổi (CPR) và sử dụng máy khử rung tim tự động (AED) cần được thực hiện càng sớm càng tốt. Can thiệp kịp thời có thể cải thiện đáng kể cơ hội sống cho người bệnh", PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn lưu ý..
Mùa hè là thời điểm nhiều hoạt động thể thao diễn ra. Các chuyên gia khuyến cáo, nếu có điều kiện, người tham gia nên kiểm tra sức khỏe trước khi thi tham gia, đặc biệt là người trên 35 tuổi hoặc có bệnh nền như tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường.
Bên cạnh đó, cần đảm bảo ngủ đủ, không sử dụng chất kích thích, tập luyện phù hợp thể trạng, uống đủ nước và điều chỉnh cường độ khi thời tiết nắng nóng. Quan trọng nhất là lắng nghe cơ thể và không cố gắng vượt quá giới hạn an toàn.
Việc phổ cập kiến thức hồi sinh tim phổi trong cộng đồng cũng được đánh giá là yếu tố then chốt, góp phần nâng cao khả năng cứu sống người bệnh ngay tại hiện trường.
Do đó, người mắc tiểu đường không chỉ cần kiểm tra đường huyết mà còn cả chức năng thận định kỳ. Tần suất kiểm tra không cố định mà điều chỉnh theo từng người, dựa trên nguy cơ và kết quả xét nghiệm trước đó, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Đối với người tiểu đường chưa có dấu hiệu tổn thương thận, khuyến nghị chung là nên kiểm tra thận ít nhất 1 lần/năm. Cụ thể, với tiểu đường loại 2, kiểm tra nên bắt đầu ngay từ khi được chẩn đoán. Còn với tiểu đường loại 1, thường bắt đầu kiểm tra sau khoảng 5 năm mắc bệnh.
Nếu kết quả xét nghiệm bình thường và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát tốt, kiểm tra hằng năm là đủ. Tuy nhiên, nếu người bệnh có huyết áp cao, kiểm soát đường huyết kém hoặc đã mắc bệnh lâu năm, bác sĩ có thể chỉ định kiểm tra thường xuyên hơn.
Trong trường hợp đã xuất hiện dấu hiệu tổn thương thận, tần suất kiểm tra cần tăng lên để theo dõi sát tiến triển của bệnh. Nếu tổn thương mức độ nhẹ, chẳng hạn khi bắt đầu có albumin trong nước tiểu, người bệnh thường cần kiểm tra thận khoảng 2 lần/năm. Mục tiêu là theo dõi xem tình trạng có ổn định hay đang tiến triển.
Nếu bệnh nặng hơn, tức là vừa có albumin niệu vừa có suy giảm chức năng lọc rõ rệt, tần suất có thể tăng lên 3 - 4 lần/năm. Trong những trường hợp nguy cơ cao hoặc bệnh tiến triển nhanh, bác sĩ có thể yêu cầu kiểm tra 1 - 3 tháng/lần.
Ngoài ra, một điều quan trọng là không nên kết luận bệnh thận chỉ dựa trên 1 lần xét nghiệm bất thường. Một số yếu tố tạm thời như nhiễm trùng, mất nước hoặc vận động mạnh cũng có thể làm kết quả sai lệch.
Vì vậy, nếu phát hiện albumin trong nước tiểu, bác sĩ thường yêu cầu xét nghiệm lại 2 - 3 lần trong vòng vài tháng để xác nhận. Cách tiếp cận này giúp tránh chẩn đoán sai và đảm bảo quyết định điều trị được đưa ra dựa trên dữ liệu chính xác.
Kiểm tra thận định kỳ quan trọng vì nếu không phát hiện kịp thời, tổn thương thận có thể tiến triển âm thầm đến giai đoạn nặng. Khi đó, điều trị trở nên khó khăn hơn và có thể phải phụ thuộc vào lọc máu. Ngoài ra, bệnh thận do tiểu đường còn làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong, theo Medical News Today.