Hành vi của Tĩnh và 9 đồng phạm được VKSND thành phố Hà Nội nêu trong cáo trạng mới ban hành, truy tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hàng trăm người đã đầu tư vào hai cổ phiếu ảo BLI và CWE được quảng bá sinh lời khủng, nhận thưởng vàng, xe, bất động sản. Thế nhưng phía sau các hội thảo hào nhoáng và lời hứa hẹn ấy là một kịch bản được Vũ Đức Tĩnh và đồng phạm dàn dựng lên tinh vi.
Để có tiền chi tiêu cá nhân, từ tháng 11/2021 đến 12/2022, Tĩnh đã chỉ đạo thành lập 3 pháp nhân gồm công ty cổ phần tập đoàn Bankland, công ty Cawiho và công ty GBF. Trên thực tế 3 công ty trên không có hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ vận hành theo hình thức đa cấp, huy động tiền của các nhà đầu tư sau để trả lãi cho người trước.
Dù không đứng tên trong danh sách cổ đông các công ty nhưng Tĩnh tự nhận là “cố vấn cấp cao”, điều hành mọi hoạt động. Dựa vào 3 pháp nhân này, Tĩnh cho tổ chức các hội thảo, đưa ra thông tin gian dối để dụ nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phiếu chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán, cáo trạng nêu.
Lập sàn riêng và dựng niềm tin đầu tư
Theo cáo trạng, công ty Bankland mới hoạt động được hơn một năm, chưa kê khai thuế, chưa được các cơ quan quản lý nhà nước cấp phép cho phát hành cổ phiếu. Thế nhưng, ngày 1/6/2022, Quản Văn Dương, người được Tĩnh giao làm Chủ tịch HĐQT công ty Bankland đã ký thông báo thành lập sàn giao dịch cổ phiếu điện tử Banklandexxchange tại website banklandexchange.info.
Bankland sau đó tự phát hành 10.000 tỷ cổ phiếu với mã là BLI và định giá khởi điểm là 0,0001 USD một cổ phiếu. Qua đó tạo ra 10 gói trái phiếu từ 100 USD đến 10 triệu USD. Bankland cho các nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu BLI giao dịch mua bán cổ phiếu với nhau và sử dụng cổ phiếu này để đăng ký mua bất động sản tại sàn giao dịch của công ty.
Đồng thời, Bankland liên tục đưa ra các chương trình “khuyến mại kích cầu” nhằm thu hút nhà đầu tư nộp tiền để mua các gói cổ phiếu. Nhà đầu tư nộp tiền được hứa hẹn cho nhận các phần thưởng, quà tặng gồm tiền mặt, vàng, bất động sản, ôtô, xe máy SH, điện thoại iPhone, chuyến du lịch.
Tuy nhiên, tất cả chỉ là “bánh vẽ” do Tĩnh và đồng phạm tạo ra. Về bản chất đây là một “đồng tiền ảo” do Bankland tự tạo ra, hoàn toàn không có giá trị thanh khoản trên thị trường.
VLS đánh giá, hoạt động chào bán cổ phiếu đã vi phạm quy định Luật Chứng khoán 2019, quy định về điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Theo quy định, đơn vị chào bán cổ phiếu phải có hoạt động kinh doanh của 2 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán.
Kết quả xác minh tại Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cho thấy, Công ty Bankland chưa đăng ký công ty đại chúng, không đăng ký chào bán, phát hành chứng khoán. Tài liệu tra soát tại trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam cũng thể hiện mã cổ phiếu BLI là do Công ty CP Bảo hiểm Bảo Long phát hành, không phải của Bankland.
Nhiều nhà đầu tư đã “mù quáng tin tưởng” vào dự án cổ phiếu không có thật trên của nhóm Tĩnh để xuống tiền. Từ tháng 12/2021 đến tháng 9/2022, Tĩnh và đồng phạm đã chiếm đoạt được gần 16 tỷ đồng của 535 bị hại.
Quá trình điều tra xác định, công an đã ghi lời khai của 83/535 bị hại. Họ đề nghị Tĩnh phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt.
Tự phát hành 3.000 tỷ cổ phiếu ảo để quảng cáo là ‘cổ phiếu điện tử nội bộ’
Tại Công ty Cawiho, doanh nghiệp này cũng hoạt động chưa được một năm, không được các cơ quan quản lý nhà nước cấp phép phát hành cổ phiếu. Nhưng ngày 1/7/2022, Tĩnh vẫn chỉ đạo Tạ Văn Cương với tư cách là Chủ tịch HĐQT thông báo thành lập sàn giao dịch cổ phiếu điện tử nội bộ Cawiho tại website là cawihoexchange.com.
Tĩnh sau đó bàn bạc, thống nhất với Cương để tự phát hành ra cổ phiếu nội bộ của Cawiho có mã là CWE. Sau đó phát hành ra 3.000 tỷ cổ phiếu và tự định giá khởi điểm là 0,0003 USD một cổ phiếu, quy đổi 1 USD = 24.000 đồng.
Chủ tịch Tĩnh còn dự kiến biên độ cổ phiếu tăng trưởng từ 0,003 USD/cổ phiếu đến 5,6 USD/cổ. Nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu trực tiếp và người mua đầu tiên sẽ được hưởng mức giá ưu đãi.
Theo cơ quan điều tra, để thu hút nhiều “con mồi”, Tĩnh và Cương liên tục đưa ra các chương trình khuyến mãi “hợp tác cổ đông chiến lược” để kích cầu, dẫn dụ xuống tiền. Kèm theo đó là các quà tặng là phiếu điện tử nội bộ với mức giá ưu đãi, số lượng lớn tại thời điểm hợp tác.
Song về bản chất, đây là “cổ phiếu ảo” do Tĩnh và Cương tự tạo ra, không có giá trị thanh khoản trên thị trường. Hoạt động chào bán cổ phiếu này bị VKS đánh giá đã vi phạm Luật Chứng khoán 2019, quy định về điều kiện chào bán và đăng ký chào bán cổ phiếu.
Vì sao nhiều người tin và xuống tiền?
Tại cơ quan điều tra, các bị hại trình bày, thông qua bạn bè và được Công ty Cawiho mời chào qua mạng xã hội để đầu tư. Doanh nghiệp này giới thiệu đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực như tài chính, bất động sản, công nghệ và có cổ phiếu nội bộ điện tử, liên kết các ngân hàng để kinh doanh ngoại hối, bất động sản.
Khi tham gia đầu tư vào công ty, họ sẽ được hưởng mức lãi suất cao và hứa hẹn sẽ được rút 100% số tiền đã đầu tư. Các nhà đầu tư được hướng dẫn truy cập vào website Cawiho.com.vn để tải ứng dụng Cawiho về điện thoại, thiết lập tài khoản cá nhân cùng mật khẩu đăng nhập. Ứng dụng sẽ hiển thị số tiền nhà đầu tư đã nộp. Người nào nộp tiền mặt tại công ty hoặc chuyển khoản thì sẽ nhận được phiếu thu.
Qua xác minh tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), không có mã cổ phiếu CWE. Trang thông tin điện tử của Sở Giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và TP HCM cũng không có mã cổ phiếu CWE.
Với thủ đoạn nêu trên, từ tháng 11/2021 đến tháng 8/2022, nhóm của Tĩnh đã chào bán cổ phiếu CWE, huy động được 32,7 tỷ đồng của 13 nhà đầu tư. Sau đó, nhóm này trả 15,9 tỷ đồng tiền hoa hồng nên còn lại đã chiếm đoạt 16,7 tỷ đồng của 13 bị hại.
Chào bán dự án bất động sản ‘ma’
Ngoài phát hành cổ phiếu, nhóm Tĩnh còn bị cáo buộc lừa đảo bằng cách chào bán các dự án bất động sản không có thật.
Theo cáo trạng, để tạo lòng tin, Công ty Bankland thường xuyên tổ chức hội nghị, sự kiện mở bán dự án, thu hút hàng nghìn người tham gia; đồng thời mở 4 văn phòng để đón khách, kèm các lời hứa tặng đất, vàng, ôtô.
Doanh nghiệp này quảng cáo sở hữu nhiều dự án ở vị trí đắc địa, nhưng thực tế chỉ nắm giữ đất nông nghiệp chưa chuyển đổi mục đích, chưa được cấp phép đầu tư.
Để tăng độ tin cậy, Bankland tổ chức sự kiện mở bán dự án phân lô tại thôn Cẩm Cơ, xã Hồng Vân (Hà Nội), giới thiệu là “đất vàng thương mại – du lịch – dịch vụ tổ hợp Hồng Vân”, đồng thời vẽ thêm dự án 29 lô đất nền. Nhà đầu tư muốn tham gia phải đặt cọc từ 50 triệu đồng, nộp tiền dưới dạng “phiếu đặt cọc thiện chí”.
Xác minh tại địa phương cho thấy khu đất này là đất trồng cây lâu năm, chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng, chưa được cấp phép dự án.
Với thủ đoạn trên, nhóm Tĩnh đã chiếm đoạt 2,3 tỷ đồng của 20 người; sau đó hoàn cọc 560 triệu đồng cho 12 người, hiện còn chiếm đoạt 1,8 tỷ đồng
Từ tháng 8/2022, Bankland đóng cửa, dừng hoạt động và trốn tránh việc đòi tiền của nhà đầu tư. Bằng các thủ đoạn dụ góp đầu tư, mua cổ phiếu, đặt cọc dự án bất động sản, Tĩnh đã thông qua Bankland chiếm đoạt 479 tỷ đồng của 5.291 bị hại.
Số tiền thu được, Bankland dùng để chi hoa hồng, trả lương và các chi phí, đồng thời đặt cọc, mua đất tại Phú Quốc và biệt thự ở Hạ Long.
Tĩnh còn nhờ người khác đứng tên ký hợp đồng mua 4 căn hộ với Công ty TNHH Mặt trời Phú Quốc, tổng trị giá hơn 24 tỷ đồng. Cơ quan điều tra đã đề nghị doanh nghiệp này phối hợp thanh lý hợp đồng, chuyển tiền về phục vụ xử lý vụ án nhưng chưa nhận được phản hồi.
Ngoài ra, Tĩnh nhờ lái xe đứng tên mua 2 căn hộ tại dự án Sun Harbor Plaza Hạ Long. Một căn đã thanh lý, Công ty CP Bất động sản Mặt trời 2 phải hoàn trả 8,6 tỷ đồng; cơ quan điều tra đã đề nghị chuyển số tiền này nhưng đến nay chưa thực hiện.
VKS cáo buộc, Tĩnh và đồng phạm dùng 3 pháp nhân huy động hơn 572 tỷ đồng của nhà đầu tư rồi chiếm đoạt, hiện chưa khắc phục hơn 497 tỷ đồng cho 5.368 người.
Bộ Tư pháp đã công bố hồ sơ thẩm định dự thảo nghị định quy định biện pháp tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Dự thảo do Bộ Y tế xây dựng.
Bộ Y tế nêu rõ biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp đặc thù được quy định trong Bộ luật Hình sự, áp dụng với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
Việc này nhằm bảo đảm yêu cầu điều trị bệnh, phòng ngừa nguy cơ gây hại cho xã hội, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Cơ quan soạn thảo chỉ rõ thực tế thời gian qua cho thấy số lượng người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có xu hướng gia tăng, tính chất vụ việc ngày càng phức tạp.
Dự thảo đề xuất 2 nhóm điều kiện đối với cơ sở khám chữa bệnh được chỉ định thực hiện biện pháp này.
Về chuyên môn, cơ sở phải là bệnh viện, có khoa hoặc trung tâm tâm thần và được cấp phép hoạt động chuyên khoa.
Về cơ sở vật chất, khu điều trị bắt buộc phải đặt trong khoa hoặc trung tâm tâm thần. Với khu vực, khoa, phòng điều trị nội trú người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thiết kế bảo đảm kiểm soát được việc ra, vào, có hệ thống camera giám sát, bố trí lực lượng bảo vệ trực 24/24.
Cùng với đó, có hệ thống cửa 3 lớp, bao gồm cửa phòng bệnh, cửa hành lang chung của các phòng bệnh, cửa chung của khoa hoặc khu điều trị nội trú có khóa chắc chắn.
Mỗi phòng bệnh đảm bảo có vệ sinh riêng tại phòng, có camera giám sát được toàn bộ phòng. Đối với phòng bệnh chung có thể bố trí khu vệ sinh chung trong khuôn viên của khoa, khuyến khích sử dụng vật liệu, trang thiết bị không gây nguy hiểm.
Dự thảo dành một điều quy định việc tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Cơ quan soạn thảo đề xuất quy định cơ sở khám chữa bệnh chỉ được tiếp nhận người bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh để điều trị khi có đủ hồ sơ.
Nếu tại thời điểm tiếp nhận mà người bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh mắc bệnh khác không thuộc chuyên khoa tâm thần và đang trong tình trạng cấp cứu, cơ sở được chỉ định chưa tiếp nhận.
Thay vào đó, liên hệ với cơ sở khám chữa bệnh có đủ khả năng điều trị phù hợp với tình trạng cấp cứu, nhằm đưa người bệnh đến đó điều trị trước khi tiếp nhận.
Sau khi tiếp nhận, cơ sở có trách nhiệm bố trí người bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh tại nơi điều trị bắt buộc phù hợp với tình trạng thực tế của người bệnh.
Trường hợp người bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh là người phạm tội giết người hoặc có nhiều tiền án, tiền sự, cơ sở phải bố trí vào phòng có sự giám sát trực tiếp 24/7 của nhân viên y tế và lực lượng bảo vệ.
Bộ Y tế đề xuất áp dụng một hoặc đồng thời các biện pháp để bảo đảm an toàn cho người bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh và nhân viên y tế.
Cụ thể, bố trí lực lượng bảo vệ tham gia hỗ trợ, tạm dừng việc vào thăm, cách ly với những người bệnh khác, khống chế và buộc rời khỏi cơ sở với người có hành vi gây rối, kiểm soát người, đồ vật, phương tiện ra vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định…
Việc áp dụng các biện pháp, theo dự thảo quy định phải đúng thẩm quyền, không xâm phạm trái pháp luật đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bệnh.
Theo cáo trạng mới được ban hành, ngoài truy tố nhóm cựu lãnh đạo Bộ Lao động nhận hối lộ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng xác định nguyên Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cùng một số cán bộ có nhận tiền nhưng không bị xử lý hình sự.
Theo cáo trạng, ông Nguyễn Bá Hoan khi đương chức Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mặc dù biết nhưng vẫn "bỏ mặc" cho cấp dưới tạo rào cản gây khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, buộc họ phải "bôi trơn" tổng số tiền hơn 30 tỉ đồng.
Trong giai đoạn 2017 - 2025, với vai trò Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, ông Tống Hải Nam đã chỉ đạo cấp dưới là Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang (chuyên viên Phòng Pháp chế) gây khó khăn cho doanh nghiệp khi nộp hồ sơ đề nghị cấp mới hoặc cấp đổi giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Nguyễn Thành Hưng chủ động đưa ra mức "chi phí" từ 250 - 400 triệu đồng/hồ sơ cấp mới. Với hồ sơ cấp đổi, mức tiền thấp hơn.
Đối với ông Lê Tấn Dũng - nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - kết quả điều tra xác định ông đã ký 135 giấy phép xuất khẩu lao động trong giai đoạn từ 2019 - 2021. Trong đó có 7 doanh nghiệp liên quan đến việc đưa tiền "chạy giấy phép". Ông Dũng được xác định đã nhận 500 triệu đồng thông qua Tống Hải Nam khi ký 7 giấy phép.
Tuy nhiên cơ quan điều tra xác định nguyên Thứ trưởng Lê Tấn Dũng không được giao phụ trách Cục Quản lý lao động ngoài nước, không biết việc gây khó khăn, buộc doanh nghiệp phải đưa tiền của cấp dưới, không có sự bàn bạc, thỏa thuận hay tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp.
Ông Dũng cũng đã nộp lại toàn bộ số tiền đã nhận nên không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Dũng, cáo trạng nêu.
Liên quan đến các cá nhân thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước, theo kết luận điều tra được ban hành trước đó, có 6 lãnh đạo, chuyên viên Phòng Tài chính - Kế toán đã nhận tiền khi tham gia các đoàn kiểm tra, với tổng số tiền từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng mỗi người.
Quá trình điều tra xác định các cá nhân này chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra báo cáo tài chính, tiền ký quỹ của doanh nghiệp, không có vai trò quyết định trong việc đề xuất cấp giấy phép. Đồng thời không có tài liệu chứng minh việc họ gây khó khăn hoặc nhận tiền để xử lý nhanh hồ sơ.
Vì vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự, nhưng cần tịch thu sung công quỹ số tiền nhóm cán bộ này đã nhận từ doanh nghiệp.
Ngoài ra ông Nguyễn Xuân Long, nguyên thư ký lãnh đạo bộ, được xác định đã nhận 239 triệu đồng từ các cá nhân liên quan. Tuy nhiên kết quả điều tra xác định ông không có thỏa thuận nhận tiền với các bị can để bỏ qua lỗi hồ sơ trình phê duyệt nhanh giấy phép.
Vì vậy không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự, nhưng cần tịch thu sung công quỹ toàn bộ số tiền ông Long đã nhận, kết luận điều tra nêu.
Theo cáo trạng, tổng số tiền cựu Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cùng 13 người gồm nguyên lãnh đạo, cán bộ của Bộ Lao động đã nộp lại là hơn 3,6 tỉ đồng. Trong đó, ông Đặng Sỹ Dũng, nguyên Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, nộp lại số tiền nhiều nhất là 1 tỉ đồng.
Quá trình điều tra và truy tố vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhận định các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn thiếu cụ thể, chưa bảo đảm tính chặt chẽ và đồng bộ.
Theo cơ quan tố tụng, những bất cập này đã tạo ra nhiều kẽ hở trong quá trình áp dụng pháp luật, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, đồng thời tạo điều kiện để một số cá nhân có thẩm quyền lợi dụng chức vụ gây phiền hà, nhũng nhiễu, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp.
Viện kiểm sát cũng cho rằng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, cũng như việc kê khai, báo cáo thuế của doanh nghiệp, chưa được nâng cao. Trách nhiệm được xác định thuộc về Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan khi chưa kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm xảy ra tại Cục Quản lý lao động ngoài nước và một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
Từ đó, viện kiểm sát kiến nghị cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với các lĩnh vực này.
Ngày 8/5, TAND Tp.HCM mở phiên xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Quốc Huy (SN 2000, ngụ Tp.HCM) về các tội Giết người, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Liên quan vụ án, bị cáo Tống Ngọc Nghĩa (SN 2005) bị truy tố, xét xử về các tội Giết người và Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Bị cáo Hoàng Minh Anh Tuấn (SN 2000) bị xét xử về tội Giết người.
Các bị cáo còn lại gồm: Ngô Thành Trung, Nguyễn Đức Bảo, Sơn Nguyễn Hoàng Minh, Châu Tuấn Kiệt, Nguyễn Anh Đức, Mai Đức Duy bị xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng.
Trước đó, do có mâu thuẫn về việc vay mượn tiền, nên khoảng 19h ngày 01/11/2023, Đặng Quốc Huy gọi điện thoại cho Giáp Nguyên Linh và hẹn gặp nhau tại khu vực cầu Lớn, phường Tam Bình, Tp.HCM để giải quyết mâu thuẫn.
Sau đó, Quốc Huy gọi điện thoại cho người bạn tên Huy (không rõ lai lịch) mượn 01 túi vải bên trong đựng mã tấu tự chế và tuýp sắt, Huy đồng ý. Đồng thời, Quốc Huy lên mạng xã hội mua 2 khẩu súng kiểu dáng ổ quay và 10 viên đạn.
Sau đó, Quốc Huy hẹn Hoàng Minh Anh Tuấn, Tổng Ngọc Nghĩa, Ngô Thành Trung, Nguyễn Đức Bảo, Sơn Nguyễn Hoàng Minh và Châu Tuấn Kiệt đến quán cà phê trên địa bàn phường Thủ Đức, Tp.HCM và kể cho cả nhóm biết có mâu thuẫn với Giáp Nguyên Linh rồi rủ cả nhóm đi đánh nhau, tất cả đồng ý.
Bị cáo Quốc Huy điện thoại thuê Mai Đức Duy điều khiển xe ô tô đến quán cà phê chở Quốc Huy đi gặp Linh. Quốc Huy nhờ Duy trước khi đến đón thì ghé bãi cỏ gần nhà máy sữa Vinamilk lấy túi dựng hung khi mà Huy giấu trước đó.
Nhóm bạn của Quốc Huy cũng đi chung một chiếc ô tô khác đến khu vực Cầu Lớn cùng với Huy, nhưng khi đang đi trên đường thì gặp lực lượng công an đi tuần tra nên tất cả quay đầu về một quán nhậu để ăn uống.
Theo lời khai của Quốc Huy, khoảng 3h ngày 02/11/2023, Nguyên Linh tiếp tục điện thoại hẹn gặp Quốc Huy ở cầu vượt Bình Triệu, phường Hiệp Bình, Tp.HCM để "giải quyết". Nhận lời "thách đấu", Quốc Huy tiếp tục hẹn nhóm bạn, mang theo hung khí đến ngã tư Bình Triệu để gặp Linh.
Trên đường đi, Huy liên lạc với Linh hẹn gặp nhau tại quán Nhi Giáp, địa chỉ tại phường Hiệp Bình, Tp.HCM. Đến nơi, nhóm của Nguyên Linh gồm Linh và 4 người khác đã ngồi sẵn trong quán, và cầm vỏ chai bia ném về phía nhóm Quốc Huy.
Trong lúc hỗn chiến, 2 đối tượng Tuấn và Nghĩa cầm súng bắn nhiều phát về phía nhóm Nguyên Linh, trong đó có một viên đạn găm trung đầu gối của chị Giáp Thị Quỳnh Nhi là chủ quán Nhi Giáp.
Sau khi gây án, Quốc Huy và nhóm bạn rời khỏi hiện trường rồi bỏ trốn đến thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến khi bị bắt.
Về phần chủ quán Nhi Giáp, được người thân đưa đi cấp cứu, phẫu thuật gắp đầu đạn ra. Theo kết luận giám định, chị Nhi bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14%.
Nạn nhân cũng yêu cầu bị cáo Đặng Quốc Huy và đồng phạm bồi thường 700 triệu đồng chi phí điều trị và ảnh hưởng việc kinh doanh, nhưng đến nay nhóm bị cáo vẫn chưa bồi thường.
Theo cơ quan công tố, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội.