Một sự dịch chuyển âm thầm nhưng mang tính bước ngoặt đang diễn ra ở cực nam Tổ quốc. Cà Mau không còn đi theo quỹ đạo quen thuộc dựa vào khai thác tài nguyên biển, mà chủ động “viết lại” cấu trúc phát triển. Từ cách nhìn, cách nghĩ đến cách làm, mọi yếu tố đều được đặt lại trong một trục mới: kinh tế biển hiện đại, xanh và có giá trị gia tăng cao.
Với 3 mặt giáp biển, đường bờ biển dài hơn 310 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 120.000 km2, Cà Mau từ lâu đã sở hữu nền tảng tự nhiên hiếm có. Đội tàu khai thác hơn 5.200 chiếc với tổng công suất vượt 800.000 CV, tạo sinh kế cho khoảng 40.000 – 50.000 lao động, cùng hơn 80 nhà máy chế biến thủy sản công suất gần 500.000 tấn mỗi năm, đã định hình một “trục cứng” cho kinh tế biển địa phương.
Cái mới của Cà Mau nằm ở việc chuyển từ “nhiều” sang “chất”. Thay vì gia tăng sản lượng theo chiều rộng, tỉnh đang tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị, kết nối khai thác – nuôi trồng – chế biến – xuất khẩu thành một hệ sinh thái kinh tế đồng bộ, thay cho những mắt xích rời rạc trước đây.
Trong cấu trúc mới này, hạ tầng nghề cá không còn là điểm yếu. Sáu cảng cá hiện hữu, đặc biệt là Sông Đốc, Rạch Gốc và Gành Hào, được xác định là các điểm chiến lược để xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác – điều kiện then chốt để tham gia sâu vào thị trường quốc tế và tiến trình gỡ thẻ vàng IUU.
Cùng với đó là một thay đổi mang tính nền tảng: quản trị. Việc giám sát 100% tàu cá qua hệ thống hành trình không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là dấu hiệu cho thấy nghề cá Cà Mau đang chuyển từ khai thác tự phát sang quản lý có kiểm soát. Khi dữ liệu thay thế kinh nghiệm cảm tính, kinh tế biển bắt đầu vận hành theo logic của một ngành kinh tế hiện đại.
Một điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Cà Mau là đặt môi trường vào trung tâm, thay vì coi đó là yếu tố “đi kèm”. Kế hoạch mở rộng khu bảo tồn biển lên 53.600 ha, kết hợp xây dựng rạn san hô nhân tạo và phục hồi thảm cỏ biển, cho thấy địa phương không lựa chọn con đường phát triển ngắn hạn. Ở đây, bảo tồn không tách rời phát triển. Khi nguồn lợi thủy sản được phục hồi, chuỗi giá trị kinh tế biển sẽ ổn định hơn; đồng thời các khu bảo tồn mở ra không gian mới cho du lịch sinh thái cộng đồng.
Đáng chú ý, cách làm không dừng ở chính sách. Cà Mau đẩy mạnh tuyên truyền để ngư dân hiểu rằng tuân thủ quy định chính là bảo vệ sinh kế lâu dài của mình. Khi người dân trở thành chủ thể, các quy định không còn là mệnh lệnh hành chính mà chuyển thành động lực nội sinh.
Nếu thủy sản là nền tảng thì năng lượng tái tạo đang nổi lên như trụ cột thứ hai. Với tốc độ gió trung bình 6,5 – 7 m/giây và hơn 2.500 giờ nắng mỗi năm, vùng ven biển Cà Mau hội tụ đầy đủ điều kiện để phát triển điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối.
Các dự án Tân Thuận, Hòa Bình 1, Khai Long đang dần hình thành một hành lang năng lượng xanh dọc bờ biển. Đây không chỉ là bổ sung ngành nghề mà là bước chuyển cấu trúc của nền kinh tế, nơi năng lượng trở thành sản phẩm xuất khẩu. Tỉnh đã đặt ra lộ trình cụ thể đến năm 2031 đạt 2.000 MW, năm 2035 đạt 3.000 MW và hướng tới 5.000 MW vào năm 2040. Những con số này cho thấy “tham vọng” vượt ra ngoài phạm vi địa phương, đưa Cà Mau trở thành trung tâm năng lượng sạch của khu vực ĐBSCL.
Không dừng lại ở sản xuất điện, Cà Mau còn định hướng phát triển các ngành công nghiệp mới như hydrogen và amoniac xanh – những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và tiềm năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điểm then chốt nằm ở sự kết hợp giữa năng lượng và công nghiệp. Khi nguồn điện được sản xuất tại chỗ, các khu công nghiệp ven biển sẽ có lợi thế cạnh tranh về chi phí và tính bền vững, từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn vùng.
Sự thay đổi lớn nhất của Cà Mau không chỉ ở kinh tế, mà ở tư duy phát triển. Từ một địa danh thường được gắn với hình ảnh “điểm tận cùng”, tỉnh đang xác lập lại vị thế “địa đầu cực nam” – cửa ngõ mở ra biển lớn và giao thương. Ông Nguyễn Hồ Hải, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau, khẳng định kinh tế biển chính là “nguồn lực chiến lược” để đưa Cà Mau trở thành trung tâm động lực của vùng ĐBSCL. Trọng tâm là hiện đại hóa toàn diện ngành thủy sản, giữ vững vị trí trung tâm ngành tôm quốc gia, đồng thời phát triển năng lượng sạch và quản lý tài nguyên biển bền vững gắn với biến đổi khí hậu.
Nhìn tổng thể, chiến lược của Cà Mau đang hình thành một cấu trúc rõ ràng: thủy sản là nền tảng, năng lượng là động lực, còn tư duy là yếu tố dẫn dắt. Mọi bước đi đều gắn với quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Điều này cho thấy kinh tế biển không chỉ là câu chuyện tăng trưởng, mà còn là trách nhiệm giữ gìn không gian sinh tồn của quốc gia.
Từ một vùng đất “bị nhìn nhận” là xa xôi, Cà Mau đang chuyển mình thành trung tâm kinh tế biển năng động, hiện đại và bền vững. Hình ảnh “mũi thuyền cực nam” không còn chỉ là biểu tượng địa lý, mà trở thành biểu tượng của một hành trình phát triển mới – nơi giá trị được tạo ra từ chính cách nghĩ, cách làm và khát vọng vươn ra biển lớn.
Sáng 15-5, TP.HCM chính thức vận hành làn đảo chiều trên đường Cộng Hòa nhằm giảm ùn tắc giao thông khu vực cửa ngõ sân bay Tân Sơn Nhất. Ghi nhận trong giờ cao điểm sáng, lượng xe từ hướng Trường Chinh đổ về trung tâm TP tăng cao nhưng giao thông nhìn chung ổn định, không xảy ra ùn ứ kéo dài.
Từ 7h, tại các giao lộ như Tân Kỳ Tân Quý, Ấp Bắc, đường 18E... lực lượng cảnh sát giao thông túc trực để phân luồng, điều tiết phương tiện.
Theo phương án mới, 2 làn giữa được tổ chức cho xe lưu thông theo hướng từ Trường Chinh vào trung tâm TP, nâng tổng số làn xe phục vụ chiều này lên 4 làn. Dòng phương tiện đông nhưng di chuyển liên tục, không còn cảnh chen chúc như thường ngày.
Buôn bán trên đường Cộng Hòa gần giao lộ đường 18E, bà Nguyễn Thị Dung (62 tuổi, ngụ phường Bảy Hiền) cho biết khá bất ngờ với tình hình giao thông sáng nay.
“Mọi hôm kẹt cứng, xe máy phải chạy cả lên vỉa hè, nay xe vẫn đông nhưng chạy đều, tôi thấy rất tốt”, bà nói.
Theo Sở Xây dựng TP.HCM, việc điều chỉnh tổ chức giao thông trên đường Cộng Hòa được kỳ vọng giúp tăng năng lực thông hành, giảm ùn tắc trong giờ cao điểm nhờ bổ sung thêm làn xe theo hướng có lưu lượng lớn hơn.
Sau một tháng triển khai, Sở sẽ phối hợp các đơn vị liên quan đánh giá hiệu quả, bổ sung giải pháp đảm bảo an toàn giao thông và xem xét nhân rộng mô hình tại các tuyến đường có tính chất tương tự tại TP.
Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku dài 125 km, tổng mức đầu tư 43.734 tỉ đồng, được xem là trục giao thông huyết mạch kết nối vùng duyên hải Nam Trung bộ với cao nguyên Gia Lai. Ngay sau khi Quốc hội thông qua nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư, Chính phủ đã ban hành nghị quyết triển khai vào tháng 10.2025, kèm theo hàng loạt mốc tiến độ chặt chẽ, trong đó mục tiêu quan trọng là hoàn thành, đưa vào khai thác năm 2029.
Tại Gia Lai, ông Phạm Anh Tuấn, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, yêu cầu các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu rút ngắn thời gian thực hiện, hướng tới mục tiêu hoàn thành dự án vào cuối năm 2028.
Dự án được chia thành 3 dự án thành phần. Trong đó, dự án thành phần 1 (22 km) và dự án thành phần 3 (35 km) đã khởi công từ ngày 19.12.2025; riêng dự án thành phần 2 (68 km), đoạn dài và phức tạp nhất, dự kiến khởi công vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6.2026.
Mùa mưa Tây nguyên đang đến gần, tạo áp lực lớn đối với các công trình hạ tầng. Thông thường, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và có năm kéo dài đến tháng 10 - 11, với lượng mưa lớn, kéo dài.
Chính vì vậy, những đoạn tuyến đi qua địa hình đồi núi phức tạp đang trở thành “điểm nóng” trên toàn tuyến. Theo báo cáo mới nhất của Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai, hai gói thầu xây lắp thuộc dự án thành phần 1 và 3 hiện đang được triển khai đồng loạt nhiều hạng mục.
Gói thầu XL.02 do Liên danh Lizen - 471 - Tập đoàn Trí Nam thực hiện, đang triển khai thi công nền đường trên nhiều đoạn từ Km108 đến Km124. Đồng thời, các hạng mục cọc khoan nhồi và đúc dầm tại các cầu lớn như Ia Băng 1, Ia Băng 2 cũng được triển khai song song. Giá trị thi công hiện đạt khoảng 135 tỉ đồng.
Gói thầu XL.01 do Liên danh Dacinco - 510 - Thiên Hoàng - Trường Long thực hiện đang khẩn trương thi công nền đường tại các đoạn Km90 - Km94, Km101 - Km105. Đồng thời, đơn vị triển khai xây dựng trạm trộn bê tông xi măng và bãi đúc dầm phục vụ thi công các cầu lớn như Đăk Ayun 1, Đăk Ayun 2.
Mục tiêu được đặt ra là hoàn thành tối đa khối lượng đào, đắp nền đường và móng cầu trước khi mùa mưa bắt đầu. Khi nền đường được đắp cao, gia cố ổn định, tác động của mưa lũ sẽ giảm đáng kể.
Song song đó, một “cuộc chạy đua” không kém phần quyết liệt đang diễn ra tại hàng trăm thôn, làng trong vùng dự án. Đó là công tác giải phóng mặt bằng. Toàn tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku ảnh hưởng đến hơn 4.600 hộ dân và nhiều tổ chức, với tổng diện tích thu hồi trên 1.097 ha.
Riêng dự án thành phần 3 thuộc cao tốc Quy Nhơn - Pleiku, đến nay đã hoàn thành kiểm đếm 1.601 hộ dân, phê duyệt phương án bồi thường cho 1.280 hộ. Tổng diện tích mặt bằng đã bàn giao đạt 200,83/340,83 ha, tương đương khoảng 72%.
Đây là nền tảng quan trọng để các nhà thầu tổ chức thi công liên tục. Tuy nhiên, phần diện tích còn lại vẫn đang được các địa phương khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, bởi chỉ cần một đoạn mặt bằng “đứt đoạn” cũng có thể làm gián đoạn cả dây chuyền thi công.
Theo ông Lưu Nhất Phong, Giám đốc Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai, tận dụng thời tiết nắng ráo thuận lợi, các nhà thầu đang khẩn trương huy động máy móc, thiết bị, nhân lực, bố trí nhiều mũi thi công nền đường, công trình thoát nước… nhằm đẩy nhanh tiến độ.
"Thời gian qua, giá nhiên vật liệu tăng cao bất thường do ảnh hưởng xung đột chính trị tại Trung Đông. Bên cạnh đó, Trung ương chưa bố trí kế hoạch vốn năm 2026 cho dự án, trong khi nguồn vốn đối ứng từ ngân sách địa phương đã giải ngân hết. Điều này khiến việc tạm ứng, thanh toán cho nhà thầu chưa kịp thời, gây khó khăn trong việc xoay vòng nguồn vốn để triển khai thi công", ông Phong cho biết.
Sáng 21.4, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức hội thảo "Thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng tới thành phố sinh thái và thông minh". Sự kiện thu hút đông đảo nhà quản lý, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp tham gia.
Tại hội thảo, các đại biểu chia sẻ những mô hình hiệu quả và đóng góp các luận cứ khoa học, đề xuất chính sách, sáng kiến phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương. Đây được xem là cơ hội quan trọng giúp Đà Nẵng tháo gỡ các điểm nghẽn trong tiến trình chuyển đổi xanh, đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế là thành phố năng động, đáng sống và hấp dẫn của khu vực.
Dưới góc độ chuyên môn, TS-KTS Phạm Anh Tuấn, Chủ tịch Chi hội Kiến trúc sư cảnh quan Việt Nam, nhấn mạnh rằng đô thị sinh thái là mục tiêu tất yếu, trong đó hạ tầng cảnh quan đóng vai trò "lời giải" cho bài toán phát triển bền vững.
Theo ông Tuấn, cần ưu tiên phát triển "hạ tầng cảnh quan mềm", tái tạo hệ sinh thái tự nhiên và mở rộng các yếu tố cảnh quan để nâng cao hiệu quả vận hành đô thị, hướng tới giảm phát thải ròng.
Ông cũng chỉ ra 6 trụ cột chính của đô thị sinh thái gồm: năng lượng bền vững, quản lý chất thải, hạ tầng hiệu suất cao, công trình xanh, giao thông bền vững, đa dạng sinh học.
Từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều mô hình đáng chú ý đã được chia sẻ. Tại Trung Quốc, cách tiếp cận "đô thị thẩm thấu" giúp khai thác tài nguyên thiên nhiên thông qua cải tạo địa hình, xây dựng hồ chứa, đảo nổi…, điển hình như tại đảo Hải Nam. Điểm cốt lõi là không bê tông hóa cứng các không gian mặt nước, tạo điều kiện cho hệ sinh thái phát triển.
Trong khi đó, Hà Lan nổi bật với giải pháp "sống chung với nước", tạo không gian cho sông và linh hoạt chuyển đổi không gian theo mùa để thích ứng ngập lụt. Nhật Bản cũng thành công khi tích hợp yếu tố sinh thái vào hạ tầng kỹ thuật mềm, thay thế dần các giải pháp cứng truyền thống.
Theo TS-KTS Phạm Anh Tuấn, điểm chung của các mô hình này là cần thời gian dài và sự kiên định qua nhiều thế hệ để hình thành hệ sinh thái đô thị bền vững. Đây cũng là bài học quan trọng cho Đà Nẵng trong việc chuyển đổi các không gian ô nhiễm thành những khu vực đa chức năng, vừa sinh thái, vừa có khả năng trữ và điều tiết nước.
Đánh giá thực trạng, ông cho rằng tình trạng ngập lụt tại Đà Nẵng xuất phát từ quy hoạch hạ tầng chưa đồng bộ và thiếu cách tiếp cận thích ứng với biến đổi khí hậu. Ông đề xuất phát triển hệ sinh thái dọc sông Hàn, tạo sự kết nối hài hòa từ núi - sông - biển; chú trọng sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, có khả năng thẩm thấu và giữ nước.
Phát biểu tại hội thảo, ông Trần Nam Hưng, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, khẳng định thành phố kiên định theo đuổi mô hình tăng trưởng xanh, coi đây là nền tảng nâng cao chất lượng sống và năng lực cạnh tranh. Đà Nẵng không phát triển bằng mọi giá mà hướng đến sự cân bằng giữa kinh tế, môi trường và xã hội, trong đó chuyển đổi xanh giữ vai trò dẫn dắt.
Từ năm 2008, Đà Nẵng đã đặt nền móng cho chiến lược này thông qua Đề án "Xây dựng Đà Nẵng - thành phố môi trường". Nhờ đó, thành phố nhiều năm liền dẫn đầu các chỉ số về bảo vệ môi trường và đạt nhiều giải thưởng uy tín trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh mới, Đà Nẵng đã tích hợp mục tiêu chuyển đổi xanh vào quy hoạch giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050, đồng thời điều chỉnh Đề án "Thành phố môi trường" cho giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp với luật Bảo vệ môi trường 2020 và chiến lược quốc gia.
Theo lãnh đạo thành phố, chuyển đổi xanh mở ra nhiều cơ hội như thu hút đầu tư chất lượng cao, phát triển công nghệ cao, năng lượng sạch, giao thông xanh và du lịch bền vững. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh giúp Đà Nẵng phát triển nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững.
Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cho biết địa phương xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm của quá trình chuyển đổi. Thành phố đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ sạch, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Các hoạt động như phân loại rác tại nguồn, tiết kiệm năng lượng, sử dụng phương tiện xanh... đang dần trở thành thói quen trong đời sống.
Chuyển đổi xanh chỉ thành công khi trở thành hành động tự giác của toàn xã hội.