Giữa những ngày tháng tư lịch sử, khi ký ức về một thời hoa lửa ùa về trong lòng nhiều thế hệ, câu chuyện về thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc) không chỉ là huyền thoại tình báo, mà còn là bản hùng ca về sự thủy chung và hy sinh thầm lặng.
Suốt 21 năm hoạt động trong lòng địch tại Sài Gòn, tướng Đặng Trần Đức cắt đứt liên hệ với gia đình để sống với thân phận khác, nhưng người vợ lặng lẽ chờ đợi, giữ trọn niềm tin trong những năm tháng chia ly.
Và rồi, khoảnh khắc cả gia đình đoàn tụ trong căn nhà nhỏ ở khu tập thể Kim Liên (Hà Nội) vào trưa 1.5.1975 đã trở thành một dấu mốc không thể nào quên đối với mỗi thành viên trong gia đình, khép lại hơn 2 thập kỷ phải sống trong “bóng tối” và nghi kỵ.
Sau hơn nửa thế kỷ, bà Đặng Chính Giang (78 tuổi, con gái cả của tướng Ba Quốc) vẫn nhớ như in buổi đoàn tụ hôm đó, bà kể rành rọt từng chi tiết như vừa mới xảy ra hôm qua.
Trò chuyện với Thanh Niên, bà Giang cho biết, sau khi nghe tin đất nước thống nhất qua loa phát thanh, sáng 1.5.1975, bà mang tem, phiếu ra chợ Tó (Đông Anh, Hà Nội) xếp hàng mua thịt để làm một bữa nem thật ngon vì nghĩ thế nào em trai mình cũng tranh thủ về nhà.
Vừa từ chợ về tới nhà, bà Giang gặp chú ruột đạp xe sang báo tin cho mẹ rằng “Anh cả (cụ Ba Quốc) đã về!” và đang ở nhà bố đẻ tại khu tập thể Kim Liên. Nghe tin bất ngờ, bà Giang cùng mẹ và 2 con bỏ lại mọi thứ, đi tàu từ Đông Anh về ga Hàng Cỏ, rồi đi bộ vào khu tập thể Kim Liên trong trạng thái hồi hộp.
11 giờ trưa, khi tất cả đến cầu thang tầng 1 khu tập thể thì gặp ông Thành (em trai bà Giang) đã đứng sẵn ở đó. Ông Thành hỏi cụ Thanh: “Mẹ ơi! Mẹ lên mà xem, người ta bảo bố con đấy, không biết có phải không?”. Sở dĩ ông Thành cần xác nhận của mẹ bởi khi cụ Ba Quốc vào Nam thì cụ Thanh đang mang thai ông.
Trong ký ức của bà Giang, đây là cuộc gặp rất đặc biệt, tướng Ba Quốc trở về trong bộ quân phục, gương mặt nghiêm nghị, ít lời như vẫn còn mang theo kỷ luật của những năm tháng hoạt động bí mật. Khi gặp bố đẻ mình, thiếu tướng Ba Quốc cất lời: “Con chào thầy!”, khiến ông sững người, rơi cả bó đũa đang cầm trên tay xuống nền. Ông nội ôm lấy tướng Ba Quốc rồi phát mạnh vào vai vì quá vui mừng, tưởng con trai mình biệt tích hơn 20 năm đã không còn.
Đặc biệt, bà Giang cũng nhớ như in từng lời nói, hành động của mẹ mình lúc đó. Bà kể, cụ Thanh chỉ bình thản gật đầu nhìn chồng, cụ Ba Quốc cũng ngước lên rồi lại cúi xuống nhìn cốc nước. Sau đó, cụ Thanh nói con gái đưa 2 cháu đến chào ông ngoại.
Bữa cơm đoàn tụ đầu tiên của gia đình bà Giang diễn ra trong sự vội vã. Cụ Ba Quốc kéo con gái ra hành lang, dúi vội ít tiền, bảo đi mua chợ mua đồ về làm cơm đãi họ hàng. Do không quen chợ búa tại Hà Nội, bà Giang phải nhờ người người thân đưa lên tận Cửa Nam để mua gà và rau để làm 2 mâm cơm.
Mâm cơm hôm ấy có thịt gà, có rau, có thêm bánh cuốn của em cụ Ba Quốc mang từ quê lên rất giản dị, ấm áp và thiêng liêng. Hai vợ chồng cụ Ba Quốc ngồi đối diện, không nói với nhau được gì vì họ hàng ai cũng hỏi chuyện cụ Ba Quốc. Phải đến tối, khi mọi người đã vãn, hai cụ mới có một khoảng lặng riêng.
Chưa đầy 2 ngày ở nhà, có người trong đơn vị ra báo tin cụ Ba Quốc phải vào Nam gấp. Cụ nói với vợ vào và sẽ thu xếp công việc ra sớm với gia đình. Tuy nhiên, phải hơn 1 năm sau cụ mới trở lại với con cháu.
Theo bà Giang, để có được bữa cơm đoàn tụ ngày 1.5.1975 ấy, gia đình bà đã phải trải qua 21 năm sống trong “bóng tối” và sự nghi kỵ.
Ngược lại thời gian, bà Giang kể, sau hiệp định Geneva năm 1954, tổ chức yêu cầu cụ Ba Quốc đi theo con đường của địch vào hoạt động tại Sài Gòn.
Để xây dựng một lý lịch hoàn hảo nhằm thâm nhập sâu vào chính quyền Sài Gòn, cụ buộc phải xóa sạch dấu vết cũ và tạo dựng một “vỏ bọc” mới bằng một đám cưới thật với cụ Ngô Thị Xuân (con gái của Trưởng ty cảnh sát Bắc Ninh). Tổ chức đã xin ý kiến cụ Thanh, nếu cụ đồng ý thì mới làm đám cưới đó.
Sau 1 đêm thức trắng suy nghĩ, cụ Thanh nén lòng đồng ý để chồng đi thực hiện trọng trách với Tổ quốc.
Tại Sài Gòn, cụ Ba Quốc lấy tên là Nguyễn Văn Tá, thâm nhập vào tận vào Phủ tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Với tính cách hiền lành, ít nói, cụ được đồng nghiệp gọi là “Tá Bụt”.
Trong khi đó, ở miền Bắc, cụ Thanh và hai con phải đối mặt với thực tế nghiệt ngã của một gia đình có người thân “theo giặc”. Từ một người con gái Hà Nội yếu đuối, cụ Thanh phải làm đủ nghề từ nhặt chè khô, gánh gạch, gánh cát thuê đến nấu ăn cho công nhân để nuôi con. Năm 1959, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của cụ Ba Quốc, tổ chức đưa ba mẹ con lên nông trường chè Vân Lĩnh (Phú Thọ).
Cuộc sống của họ ở nông trường vô cùng cơ cực với đồng lương ít ỏi 35 đồng mỗi tháng và tiêu chuẩn 10 kg gạo. Khoảng thời gian khó khăn nhất là những năm 1965 – 1967, khi đơn vị thông báo cụ Ba Quốc “mất liên lạc” và cắt mọi khoản trợ cấp. Bà Giang khi đó mới 15 tuổi đã phải vừa đi học, vừa đi hái chè thuê, vừa dạy lớp vỡ lòng để kiếm thêm 17 đồng mỗi tháng giúp mẹ.
Nỗi đau không chỉ dừng lại ở cái đói, mà còn là sự kỳ thị của xã hội. Cụ Thanh thường xuyên bị đưa ra họp phụ nữ để chất vấn về việc nuôi con một mình mà không có tin tức chồng. Bà Giang cũng bị phân biệt đối xử, không được ưu tiên mua sách giáo khoa vì lý lịch “có bố vào Nam”. Thậm chí, vì quá thiếu thốn, hai mẹ con phải thay nhau mặc chung một chiếc quần lành lặn để đi làm và đi học.
Cụ Ba Quốc, cụ Xuân cùng các cháu tại TP.HCM
Trong khi cụ Thanh chịu đựng tủi nhục ở miền Bắc, thì tại miền Nam, cụ Ngô Thị Xuân, người vợ thứ hai cũng lặng lẽ che chở cho cụ Ba Quốc ngay trong lòng địch. Ban đầu không biết chồng là tình báo, nhưng bằng sự nhạy cảm, cụ Xuân dần nhận ra những bất thường và lặng lẽ gánh vác hậu phương.
Đặc biệt, cụ Xuân đã cùng con trai Đặng Trần Vũ chịu đựng sự tra tấn, hỏi cung khốc liệt suốt 4 tháng khi đường dây của cụ Ba Quốc bị lộ năm 1974 nhưng không hề hé môi, bảo vệ an toàn cho mạng lưới đến ngày thắng lợi.
Sau năm 1975, sự thật về cuộc đời của cụ Ba Quốc được hé mở. Thay vì trách móc, cả hai người phụ nữ đã tìm thấy sự đồng cảm sâu sắc dành cho nhau. Năm 1981, cụ Xuân ra Bắc thăm gia đình cụ Thanh. Cuộc gặp gỡ diễn ra hài hòa như hai chị em ruột thịt, họ cùng nhau tâm sự về những món ăn cụ Ba Quốc yêu thích và những năm tháng gian truân đã qua.
Các con của cụ Thanh gọi cụ Xuân là “mợ”, còn con cụ Xuân gọi cụ Thanh là “mẹ cả”. Sự bao dung ấy đã kết nối hai gia đình Nam – Bắc thành một khối thống nhất.
Những năm cuối đời, cụ Thanh yếu dần, mắt mờ, cụ Ba Quốc luôn bên cạnh. Ngày cụ Thanh mất, cụ Ba Quốc đã khóc rất nhiều. Năm 2004, cụ Ba Quốc qua đời, cụ Xuân mất năm 2006.
“Sinh thời, bố tôi rất thích ăn đậu phụ luộc, lạc rang và cá trê nướng nên trong mâm cơm ngày giỗ bố bắt buộc phải có”, bà Giang nói và cho hay, trong các ngày giỗ chạp của bố mẹ và mợ nếu không vướng công tác bà và anh em cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều cố gắng về đông đủ.
Tại kỳ họp, HĐND tỉnh nghe báo cáo kết quả bầu cử đại biểu và xác nhận tư cách đại biểu. Các đại biểu thực hiện quy trình bầu các chức danh của HĐND, UBND tỉnh; bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân tỉnh và các khu vực nhiệm kỳ 2026-2031.
HĐND tỉnh cũng công bố nghị quyết về tổ chức bộ máy, phê chuẩn danh sách phó trưởng ban, ủy viên các ban; thành lập các tổ đại biểu và chỉ định tổ trưởng, tổ phó. Nhiều tờ trình, dự thảo nghị quyết quan trọng được xem xét, thông qua.
Ngay trong chiều cùng ngày, HĐND tỉnh tiến hành bầu các chức danh chủ chốt. Kết quả, ông Nguyễn Mạnh Quyền, Phó Bí thư Tỉnh ủy, được bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2026-2031.
Các Phó Chủ tịch UBND tỉnh được bầu gồm: Nguyễn Lê Huy, Lê Quang Hòa, Phạm Văn Nghiêm, Lại Văn Hoàn và Nguyễn Hùng Nam.
Cũng tại kỳ họp, ông Trần Quốc Văn được tái cử giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII. Các Phó Chủ tịch HĐND tỉnh gồm: Lê Xuân Tiến, Đặng Thanh Giang, Trần Thị Tuyết Hương và Vũ Ngọc Trì.
Trước đó, ngày 9/4, ông Phạm Quang Ngọc được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên nhiệm kỳ 2025-2030.
Ông Nguyễn Mạnh Quyền sinh năm 1975, quê Hà Nội, có nhiều năm công tác trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư. Ông từng giữ các chức vụ như Phó Giám đốc, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội; Chủ tịch, Bí thư Huyện ủy Quốc Oai; Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội.
Tháng 3, ông được Ban Bí thư điều động, chỉ định giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, sau đó được giới thiệu để HĐND tỉnh bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ mới.
Ngày 9-5, lãnh đạo Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Trị cho biết sẽ mời các đơn vị chức năng đánh giá lại thực tế hiện trường tại nút giao Lý Nam Đế - Trần Hưng Đạo (phường Đồng Hới) trước khi ra quyết định xử phạt các trường hợp vi phạm luật giao thông trong thời gian vừa qua.
Ngoài ra, đơn vị cũng sẽ đề xuất việc tổ chức giao thông cho phù hợp với thực tế tình hình mặt đường, mật độ giao thông tại nút giao này. Trong đó, có thể xem xét việc bỏ tín hiệu cho phép rẽ phải khi đèn đỏ.
"Các trường hợp vi phạm sẽ được đánh giá, phân tích, thậm chí phòng trước khi ban hành quyết định xử phạt, không để sót lọt vi phạm, cũng như ko để xảy ra xử phạt không có căn cứ", đại diện phòng này khẳng định.
Trước đó, Phòng Cảnh sát giao thông Công an Quảng Trị đã công bố danh sách 500 trường hợp vi phạm luật giao thông trên địa bàn trong tháng 3-2026. Trong đó có hàng trăm trường hợp vi phạm lỗi không chấp hành tín hiệu đèn giao thông.
76 trường hợp phạm lỗi đi không đúng làn đường tại nút giao Lý Nam Đế - Trần Hưng Đạo.
Bản danh sách này đã khiến nhiều người băn khoăn lo lắng những ngày qua. Vì cùng thời gian trên, hệ thống đèn tín hiệu giao thông tại Đồng Hới có nhiều cụm bị hư hỏng.
Ngoài ra, tại nút giao nói trên vạch kẻ đường màu vàng để phân làn đã có dấu hiệu bị mờ.
Nhiều người cho rằng vì vạch kẻ bị mờ nên không thể nhận diện tín hiệu của vạch dẫn đến vi phạm.
Vì vậy, Phòng Cảnh sát giao thông đã đề xuất phương án mời các ngành liên quan đánh giá lại hiện trường hạ tầng giao thông vị trí này để xác định chính xác việc vi phạm.
Ngày 6.5, Công đoàn xã Hưng Long (TP.HCM) phối hợp Công đoàn cơ sở Công ty VWS tổ chức lễ phát động Tháng Công nhân lần thứ 18 năm 2026 với chủ đề “Công nhân Việt Nam đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”.
Phát biểu tại buổi lễ, bà Đinh Thị Phương Thảo, Phó chủ tịch UBND xã Hưng Long, nhấn mạnh an toàn vệ sinh lao động là nhiệm vụ xuyên suốt, gắn trực tiếp với sinh mạng và sức khỏe của người lao động.
Công ty VWS tăng tốc chăm lo cho người lao động trong Tháng Công nhân
Theo bà Thảo, trong bối cảnh địa phương đang vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, việc xây dựng môi trường làm việc an toàn, văn minh, ứng dụng công nghệ là tiêu chí quan trọng để nâng cao chất lượng sống và uy tín của doanh nghiệp.
“Các doanh nghiệp cần quán triệt nghiêm quy định pháp luật, chủ động ứng dụng công nghệ để giám sát rủi ro và xem an toàn lao động là đạo đức kinh doanh cốt lõi”, bà Thảo nhấn mạnh.
Trong chuỗi hoạt động này, Công ty VWS là một trong những đơn vị tiên phong khi chủ động phối hợp công đoàn xã, chính quyền địa phương để xây dựng môi trường làm việc an toàn, bài bản.
Bà Huỳnh Thị Bích Hạnh, Phó chủ tịch công đoàn cơ sở Công ty VWS cho biết, trong năm 2026, công đoàn công ty đã đề ra 4 cam kết trọng tâm xoay quanh chủ đề: “Tập trung, sáng tạo, an toàn, phúc lợi bền vững”.
Theo đó, phong trào thi đua lao động sáng tạo sẽ được đẩy mạnh nhằm khuyến khích công nhân phát huy sáng kiến kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất và giảm áp lực công việc.
“Chúng tôi hướng tới mục tiêu mỗi ca làm việc đều đảm bảo an toàn tuyệt đối, để người lao động yên tâm gắn bó lâu dài với công ty”, bà Hạnh nói.
Không dừng lại ở sản xuất, công đoàn cơ sở VWS còn chú trọng đối thoại với người sử dụng lao động để cải thiện phúc lợi, từ chất lượng bữa ăn đến các chính sách hỗ trợ kịp thời cho người lao động khó khăn.
Một trong những điểm nhấn của Công đoàn cơ sở VWS trong Tháng Công nhân năm nay là hàng loạt hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Tại lễ phát động, công đoàn cơ sở đã phối hợp trao quà cho 20 công nhân tiêu biểu, đồng thời triển khai các chương trình như khám bệnh, xây dựng công trình “Muôn sắc hoa” nhằm cải thiện môi trường làm việc.
Theo lãnh đạo Công ty VWS, việc chăm lo và ghi nhận đóng góp của người lao động càng trở nên quan trọng
ẢNH: CÔNG TY VWS
Chia sẻ tại sự kiện, anh Tô Hoàng Đức, nhân viên công nghệ thông tin, Công ty VWS cho biết, các hoạt động trong Tháng Công nhân 2026 mang lại cảm xúc tích cực và tạo động lực lớn cho người lao động.
“Khi thấy công đoàn cơ sở và Công ty VWS tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, chúng tôi cảm nhận rõ sự quan tâm. Từ đó yên tâm làm việc và mong muốn gắn bó lâu dài hơn”, anh Đức nói.
Đại diện ban lãnh đạo, Phó tổng giám đốc Công ty VWS Huỳnh Lan Phương khẳng định người lao động luôn được xem là tài sản quý giá nhất. Chính vì vậy, công ty không ngừng mở rộng các chính sách chăm lo, không chỉ cho người lao động mà còn cho cả gia đình của họ.
“Chúng tôi quan niệm khi gia đình người lao động được quan tâm thì họ mới có thể an tâm cống hiến. Vì vậy, các chính sách của VWS luôn hướng đến sự toàn diện, từ sức khỏe, đời sống đến tinh thần”, bà Phương chia sẻ.
Theo bà Phương, trong Tháng Công nhân, công ty đã triển khai nhiều hoạt động như khám sức khỏe chuyên sâu, tổ chức các chương trình truyền thông nội bộ, đồng thời phối hợp Liên đoàn Lao động TP.HCM và chính quyền địa phương để mở rộng quy mô chăm lo.
Đặc thù ngành xử lý môi trường khiến công việc tại VWS không có ngày nghỉ trọn vẹn, kể cả dịp Tết. Người lao động chỉ nghỉ ngắn ngày rồi nhanh chóng quay lại để đảm bảo xử lý khối lượng lớn rác thải cho TPHCM.
Chính vì vậy, theo lãnh đạo Công ty VWS, việc chăm lo và ghi nhận đóng góp của người lao động càng trở nên quan trọng.
“Họ là những người thầm lặng giữ gìn môi trường cho thành phố. Sự ghi nhận của xã hội và chính sách đãi ngộ xứng đáng chính là lời tri ân thiết thực nhất”, bà Phương nói thêm.