Công văn thông báo số 1088 do Phó cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước Nguyễn Thúy Hiền ký, được gửi đến các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, thương nhân đầu mối sản xuất xăng dầu và các thương nhân phân phối xăng dầu.
Theo cơ quan này, ngày 12.4 vừa qua, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 19/2026 về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo đó, mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol), dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay là 0 đồng/lít; xăng, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào; thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.
Nghị quyết 19/2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 16.4 đến hết ngày 30.6 năm nay.
Do đó, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước thông báo tới các thương nhân để các thương nhân chủ động áp dụng, tính toán, quyết định giá bán các mặt hàng xăng dầu phù hợp với thời điểm Nghị quyết 19/2026, có hiệu lực thi hành và thực hiện theo văn bản thông báo điều hành giá bán xăng dầu của Bộ Công thương từ 0 giờ ngày 16.4.2026.
Cùng ngày, Cục Thuế (Bộ Tài chính ) cũng ban hành Công điện hỏa tốc số 9, yêu cầu toàn ngành triển khai ngay Nghị quyết 19/2026, áp dụng mức thuế 0% với nhiều sắc thuế đối với xăng dầu. Cục Thuế yêu cầu thủ trưởng cơ quan thuế các tỉnh, thành phố; Chi cục Thuế thương mại điện tử và Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn được yêu cầu nhanh chóng quán triệt, tuyên truyền và triển khai nội dung Nghị quyết đến toàn thể công chức và người nộp thuế. Đồng thời, chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách thống nhất, thông suốt ngay khi có hiệu lực.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ Tài chính mới có báo cáo số 323 về tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng năm 2026; các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Theo báo cáo, tổng kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2026 đã được Thủ tướng Chính phủ giao là 1.013.443,4 tỷ đồng, bao gồm: vốn ngân sách Trung ương (NSTW) là 363.216,8 tỷ đồng và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng.
Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ thuộc thẩm quyền của Chính phủ là 79.688,5 tỷ đồng, bao gồm: 44.810,55 tỷ đồng sẽ bố trí cho các dự án khởi công mới sau khi đã đánh giá được hiệu quả đầu tư và được giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; 25.000 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia; 9.877,96 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tổng hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 13.325,9 tỷ đồng.
Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo là 80.031,2 tỷ đồng, trong đó NSTW là 47.981,63 tỷ đồng, NSĐP là 32.049,6 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (gồm: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.106.800,55 tỷ đồng.
Bộ Tài chính cho biết, đến hết tháng 4/2026, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 980.550,8 tỷ đồng (bao gồm vốn NSTW là 327.321,9 tỷ đồng, vốn NSĐP là 653.228,9 tỷ đồng).
Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (13.325,9 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 967.224,93 tỷ đồng, đạt 95,44% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao.
Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 46.218,5 tỷ đồng của 14 bộ, cơ quan trung ương và 17 địa phương (chiếm 4,56% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao).
Theo báo cáo, giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 30/4/2026 là 144.282,9 tỷ đồng, đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Kết quả tính đến hết ngày 30/4/2026, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 8 bộ, cơ quan và 16 địa phương có tỉ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước.
Bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Bộ Tư pháp; Bộ Quốc phòng; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Ngoại giao; Bộ Công an; Hải Phòng; Hà Nội; Lai Châu; Lạng Sơn; Cà Mau; Thái Nguyên; Điện Biên; Quảng Ninh; Hà Tĩnh; Sơn La; Tuyên Quang; Gia Lai; Lào Cai; Huế; Phú Thọ; Khánh Hòa).
Bên cạnh đó, còn 27 bộ, cơ quan và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước.
Trong đó, một số bộ, cơ quan có tỉ lệ giải ngân dưới 1% và chưa giải ngân gồm: Kiểm toán Nhà nước; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam…
Để phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" theo Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục các tồn tại, hạn chế đã được nhận diện trong quá trình thực hiện các dự án, áp dụng bài học kinh nghiệm của các bộ, cơ quan và địa phương giải ngân tốt, triển khai thực hiện các giải pháp đột phá, mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
Đặc biệt, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Thông báo số 213 ngày 25/4/2026 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Trong đó, lưu ý khẩn trương thực hiện ngay một số các nhiệm vụ như sau:
Khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư, phân bổ ngay kế hoạch vốn năm 2026 đã được giao nhưng chưa phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án.
Đến hết ngày 10/5/2026, Bộ, cơ quan, địa phương nào chưa phân bổ thì yêu cầu báo cáo rõ lý do, nguyên nhân, trách nhiệm tập thể, cá nhân, gửi Bộ Tài chính trước ngày 15/5/2026 để tổng hợp, đề xuất báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý số vốn chưa phân bổ chi tiết theo quy định.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Những ngày gần đây, giá sầu riêng tại nhiều vùng trồng ở miền Tây liên tục lao dốc. Có thời điểm, sầu riêng Ri6 xô (sầu riêng bán theo lô bán nguyên lô hoặc toàn bộ trái trên cây bao gồm cả loại đẹp (loại A) và loại nhỏ/xấu hơn (loại B, C) với cùng một mức giá, thường rẻ hơn mua chọn từng trái) chỉ được thương lái thu mua ở mức 23.000 – 28.000 đồng/kg, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên, trái ngược với giá tại vườn, khi đến tay người tiêu dùng tại các chợ, siêu thị hay cửa hàng trái cây, sầu riêng Ri6 vẫn được bán với giá từ 50.000 – 100.000 đồng/kg tùy loại, thậm chí cao hơn đối với hàng tuyển chọn.
Khoảng cách lớn giữa giá thu mua và giá bán lẻ khiến nhiều người không khỏi thắc mắc: Vì sao nông dân bán rẻ nhưng người tiêu dùng vẫn phải mua với giá cao gấp nhiều lần?
Chị Nguyễn Thị Linh (chủ vườn sầu riêng tại xã Ngũ Hiệp, Đồng Tháp) cho biết, chưa năm nào đầu ra khó khăn như hiện nay. Theo chị Linh, thị trường xuất khẩu đang chững lại, trong khi nhiều địa phương bước vào chính vụ khiến nguồn cung tăng mạnh.
"Có thời điểm thương lái chỉ trả hơn 25.000 đồng/kg Ri6 xô. Giá này thấp hơn rất nhiều so với năm ngoái nhưng không bán cũng không được vì trái chín rất nhanh. Càng để lâu càng dễ nứt, sượng rồi lỗ nặng hơn", chị Linh chia sẻ.
Theo nhiều nhà vườn, mức giá thương lái thu mua thực chất chỉ là giá "thô", chưa qua tuyển chọn hay phân loại chất lượng. Dù vậy, điều khiến cả người trồng lẫn người mua khó hiểu là giá bán ngoài thị trường lại cao gấp đôi, thậm chí gấp ba lần.
Theo tìm hiểu của PV, để đến tay người tiêu dùng, một trái sầu riêng phải đi qua khá nhiều khâu trung gian như thương lái, vựa thu mua, kho phân loại, đầu mối phân phối rồi mới tới cửa hàng bán lẻ hoặc siêu thị. Mỗi công đoạn đều phát sinh thêm chi phí vận hành và lợi nhuận, khiến giá bán cuối cùng bị đẩy lên đáng kể.
Trao đổi với PV, anh Đỗ Ngọc Anh Tú (chủ một vựa thu mua sầu riêng tại Cái Bè, Đồng Tháp) cho rằng, nhiều người hiện chỉ nhìn vào giá mua tại vườn rồi so sánh trực tiếp với giá bán lẻ mà chưa hình dung hết các khoản chi phí phát sinh phía sau.
Theo anh Tú, sau khi thu mua từ nhà vườn, sầu riêng phải được vận chuyển về kho để tuyển lựa kỹ càng. Những trái đẹp, cơm vàng, chín đồng đều mới đủ tiêu chuẩn đưa vào siêu thị hoặc các cửa hàng cao cấp. Trong khi đó, những trái bị sâu, nứt, sượng hoặc mẫu mã xấu sẽ phải bán giá thấp, thậm chí loại bỏ.
"Không phải mua 10 tấn là bán được đủ 10 tấn. Tỷ lệ hao hụt của sầu riêng khá cao vì đây là loại trái cây khó bảo quản, dễ hư hỏng trong quá trình vận chuyển", anh Tú cho biết.
Theo nhiều chủ vựa, tỷ lệ hao hụt của sầu riêng có thể lên tới 15 – 20%, đặc biệt trong thời tiết nắng nóng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá bán lẻ bị đẩy lên cao.
Bên cạnh đó, chi phí logistics hiện nay cũng tăng đáng kể. Với các chuyến hàng vận chuyển từ miền Tây lên Tp.HCM hoặc ra các tỉnh phía Bắc, chi phí xe lạnh, kho lạnh, nhân công bốc xếp và đóng gói đều tăng so với trước.
Cũng theo anh Tú cho biết, để giữ được chất lượng trái khi đến nơi tiêu thụ, sầu riêng bắt buộc phải được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ ổn định. Riêng chi phí kho lạnh và vận chuyển đã chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành cuối cùng.
Trong khi nhà vườn than lỗ, người tiêu dùng ở đô thị cũng bất ngờ khi giá sầu riêng ngoài thị trường vẫn neo ở mức cao.
Chị Minh Anh (ngụ phường Mỹ Tho) cho biết thường xuyên đọc tin tức về giá sầu riêng nhưng khi đi mua vẫn phải trả gần 70.000 đồng/kg Ri6 loại đẹp.
"Thấy báo đăng giá tại vườn chỉ hơn 20.000 đồng/kg mà ra cửa hàng vẫn bán cao nên tôi khá thắc mắc. Cuối cùng người tiêu dùng vẫn là người phải chịu giá cao", chị Minh Anh nói.
Trước những thắc mắc này, nhiều tiểu thương bán lẻ cho rằng lợi nhuận thực tế không cao như nhiều người nghĩ.
Tại một cửa hàng trái cây ở Mỹ Tho, chị Phạm Thị Bích Liên cho biết chi phí mặt bằng, điện lạnh và nhân công hiện đều tăng mạnh. Trong khi đó, sầu riêng lại là mặt hàng có tỷ lệ hao hụt rất lớn.
"Sầu riêng không giống rau củ để được lâu. Nếu bán chậm vài ngày là xuống chất lượng ngay. Nhiều trái bên ngoài đẹp nhưng bên trong bị sượng thì người bán phải chịu", chị Liên nói.
Theo chị Liên, khách hàng hiện ngày càng kỹ tính nên khâu tuyển chọn phải thực hiện rất nghiêm ngặt. Có khi nhập cả trăm ký nhưng vẫn phải loại bỏ một phần vì không đạt chất lượng.
Tương tự, chị Lê Thị Tám cho biết nhiều khách hàng nghĩ người bán lẻ "ăn dày", nhưng thực tế lợi nhuận không quá lớn do phải bù vào phần hao hụt và hàng hư hỏng.
"Chỉ cần bán ra vài trái bị sượng là mất khách ngay. Vì vậy tụi tôi phải kiểm hàng rất kỹ, chấp nhận bỏ những trái không đạt để giữ uy tín", chị Tám chia sẻ.
Có thể thấy, nghịch lý "nông dân bán rẻ, người mua vẫn phải trả giá cao" cho thấy chuỗi phân phối nông sản hiện vẫn còn quá nhiều tầng nấc trung gian. Phần lớn trái cây hiện nay vẫn phụ thuộc vào thương lái nhỏ lẻ, thiếu hệ thống kho lạnh và liên kết tiêu thụ trực tiếp nên chi phí bị cộng dồn qua từng khâu.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Hôm nay 23.4, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tọa đàm công bố kết quả điều tra hộ kinh doanh năm 2026. Cuộc điều tra được tiến hành từ tháng 2 - tháng 4, với phản hồi từ hơn 1.000 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố.
"Bức tranh nhìn thấy không mấy lạc quan, nhưng rất thật", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, nhấn mạnh tại sự kiện.
Cụ thể, 73,7% hộ kinh doanh cho biết chỉ lãi ít trong năm 2025; chỉ 1,9% đạt mức lãi như kỳ vọng. Cạnh đó, hơn 81% hộ bị giảm doanh thu, 75% bị giảm lượng khách hàng.
Phần lớn hộ kinh doanh đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng, dễ tồn tại những khó khăn dù chỉ ở mức nhẹ, không đủ sức chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo.
"Sức khỏe" kinh doanh yếu đi đã khiến hộ kinh doanh chuyển hóa thành tâm lý phòng thủ: 60,8% hộ dự kiến chỉ duy trì quy mô hiện tại trong 2 năm tới, 33% có xu hướng thu hẹp và chỉ 1,8% có ý định mở rộng.
"Trạng thái chủ đạo của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không còn là tìm kiếm tăng trưởng, mà chủ yếu là cố gắng duy trì sự tồn tại", ông Tuấn nhấn mạnh.
Điều đáng lưu tâm hơn nữa là khó khăn về pháp lý được đánh giá là nhóm áp lực lớn nhất, với 73,3% hộ kinh doanh cho biết đây là vấn đề ảnh hưởng lớn hoặc nghiêm trọng, cao hơn cả khó khăn về đầu vào, thị trường hay nguồn vốn.
Cụ thể, 71,2% gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử; 67,6% khó khăn trong hạch toán chi phí được trừ; 66,8% khó theo dõi cập nhật chính sách.
Phát hiện được ông Tuấn nhìn nhận rất quan trọng là, gánh nặng tuân thủ không giảm đi khi hộ kinh doanh lớn hơn. Khi chủ hộ cân nhắc mở rộng quy mô, họ phải đối mặt với một hệ thống kế toán phức tạp hơn, thủ tục thuế nặng hơn, chi phí nhân sự và công nghệ tăng lên, thậm chí có thể trở nên dễ bị siết tuân thủ hơn.
Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế của VCCI, phân tích, về bản chất, điểm nghẽn của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không chỉ nằm ở sức cầu yếu hay chi phí đầu vào tăng, mà còn nằm ở sự thiếu tương thích giữa yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp với năng lực tuân thủ của một khu vực chủ yếu gồm các đơn vị siêu nhỏ và nhỏ.
VCCI khuyến nghị, thời gian tới, cần ưu tiên giảm độ phức tạp của các quy định thuế, kế toán và hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp hơn với năng lực thực tế của hộ kinh doanh, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, nhóm học vấn thấp và nhóm lớn tuổi.
Đối với chính sách chuyển đổi lên doanh nghiệp, trọng tâm cần chuyển sang giảm chi phí chuyển đổi thực tế.
Điều này có thể bao gồm: các gói ưu đãi tài chính có điều kiện trong giai đoạn đầu; đơn giản hóa thủ tục hành chính hậu chuyển đổi; hỗ trợ kế toán, thuế trong những năm đầu vận hành; tạo ra một lộ trình nghĩa vụ tăng dần thay vì áp lực tuân thủ tăng đột ngột ngay sau khi chuyển đổi.
"Nếu không xử lý bài toán chi phí và rủi ro cảm nhận sau chuyển đổi, tỷ lệ sẵn sàng lên doanh nghiệp của hộ kinh doanh sẽ còn tiếp tục ở mức thấp", ông Thạch nhấn mạnh.
Phó chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Lê Thị Duyên Hải cho rằng, cần có thêm những khảo sát chuyên sâu hơn để phân loại hộ kinh doanh theo quy mô, hành vi, mục tiêu phát triển, từ đó thiết kế chính sách cho phù hợp.
Chính sách cần phản ánh sự đa dạng này thay vì áp dụng chung một cách tiếp cận. Cốt lõi là giúp hộ kinh doanh quản lý tốt đầu vào, xác định rõ lãi - lỗ và lựa chọn con đường phát triển phù hợp.
Từ góc độ cơ quan quản lý, bà Nguyễn Thị Thu Hà, chuyên viên chính Ban Chính sách, thuế quốc tế (Cục Thuế, Bộ Tài chính), cho biết, từ năm 2026 bỏ thuế khoán, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh được nâng lên 500 triệu đồng/năm.
Hiện nay, ngưỡng này đang được đề xuất nâng lên 1 tỉ đồng/năm. Nếu nâng lên mức 1 tỉ đồng/năm, dự kiến sẽ có 2,5 triệu hộ kinh doanh được miễn thuế.
"Chúng tôi đã thiết kế chính sách là hộ kinh doanh thuộc diện miễn thuế (doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống ở hiện tại và sắp tới là từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống - PV) chỉ phải thông báo doanh thu với cơ quan thuế 1 năm 1 lần vào ngày 31.12 của năm sau, rất đơn giản, dễ thực hiện", bà Hà nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

