10 chuyên đề ôn tập môn địa lý thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
Trong chuyên đề 2 – Địa lý tự nhiên Việt Nam – giáo viên Hoàng Đạt, Trường quốc tế Á Châu (Asian School) hệ thống kiến thức về thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, sự phân hóa đa dạng của thiên nhiên và vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường…
Trước đó, vào ngày 20.4, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 1 của môn địa lý với nội dung về vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và biển đảo.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 20 đến 25.4 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026
Tin Gốc: Thanh Niên

Đầu tư mạnh mẽ, có trọng điểm vào giáo dục và đổi mới sáng tạo là trụ cột trung tâm của mọi chính sách cơ cấu nhất quán nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Việc nâng cao kỹ năng kỹ thuật của lực lượng lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và công nghệ có giá trị gia tăng cao, là điều thiết yếu để hỗ trợ hiện đại hóa sản xuất và tiếp nhận các công nghệ tiên tiến. Đầu tư như vậy có ý nghĩa quyết định để giúp VN giảm phụ thuộc quá mức vào vốn và công nghệ nước ngoài, thoát bẫy thu nhập trung bình và chuyển từ nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào sang nền kinh tế dựa trên tri thức.
Hệ thống đại học (ĐH) VN có 237 trường vào năm 2026, trong đó có 3 trường nằm trong top 200 ĐH châu Á theo bảng xếp hạng QS Asia University Rankings 2026, và chưa có trường nào nằm trong top 500 ĐH hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín (QS World University Rankings, Times Higher Education). Điều này làm hạn chế đáng kể sức hấp dẫn của VN đối với chuyên gia quốc tế và các trung tâm nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn đa quốc gia.
Trước thực trạng nói trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã công bố dự án chiến lược nhằm xây dựng 5 - 6 ĐH xuất sắc trong giai đoạn 2030 - 2045, với mục tiêu hội nhập vào các bảng xếp hạng quốc tế từ năm 2030.
Quan sát từ những thành công ấn tượng nhất tại châu Á, có thể nói đây là quyết định mang tính chiến lược cao cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Singapore đã đầu tư mạnh mẽ vào 2 ĐH mũi nhọn NUS và NTU từ những năm 1990. Trong bảng xếp hạng QS World University Rankings, NUS hiện đứng thứ 8 thế giới, còn NTU đứng thứ 15, đưa Singapore trở thành một trong những trung tâm ĐH và công nghệ hàng đầu toàn cầu. Hàn Quốc có lộ trình tương tự với ĐH Quốc gia Seoul (khoảng thứ 30 thế giới theo QS) và KAIST (khoảng thứ 50). Gần đây hơn, Trung Quốc đã đưa ĐH Bắc Kinh (khoảng thứ 14 thế giới) và ĐH Thanh Hoa (khoảng thứ 17) vào top 20 thế giới, trong khi giữa thập niên 1990 họ còn ở vị trí rất xa. Những thành công này không phải ngẫu nhiên mà dựa trên 3 trụ cột: đầu tư công và tư quy mô lớn, bền bỉ theo thời gian; cơ chế quản trị trao quyền tự chủ rộng rãi về học thuật và quản lý cho các trường ĐH; chiến lược chủ động thu hút nhân tài quốc tế.
Việc xây dựng các ĐH xuất sắc sẽ góp phần phục vụ những mục tiêu kinh tế cụ thể. Thứ nhất, giữ chân nhân tài. Khi những sinh viên giỏi nhất vẫn phải ra nước ngoài để tiếp cận đào tạo chất lượng cao, đất nước sẽ tiếp tục bị chảy máu chất xám. ĐH đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp đào tạo tinh hoa ngay trong nước và thu hút chuyên gia VN từ nước ngoài trở về.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu lao động trình độ cao. Quá trình nâng cấp công nghiệp của VN (từ bán dẫn đến trí tuệ nhân tạo, từ điện hạt nhân đến năng lượng tái tạo) đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và chuyên gia trình độ cao.
Kế đến là phát triển năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh. VN hiện chỉ dành khoảng 0,5% GDP cho R&D (nghiên cứu và phát triển), so với gần 2,5% của Trung Quốc và gần 5% của Hàn Quốc. Điều này dẫn đến số lượng bằng sáng chế còn hạn chế và sự phụ thuộc công nghệ kéo dài.
Ngoài ra, còn nhằm thu hút FDI chất lượng cao. Samsung, Intel hay Apple chọn VN trước hết vì chi phí lao động thấp. Để thu hút các trung tâm R&D của họ, cần có nguồn nhân lực trình độ cao. ĐH xuất sắc là yếu tố quyết định trong lựa chọn địa điểm đầu tư FDI chất lượng.
Việc tích hợp các trường kỹ sư chất lượng cao vào các ĐH xuất sắc là một trong những giải pháp mang tính then chốt nhằm hỗ trợ chiến lược xây dựng các ĐH có danh tiếng toàn cầu. Hiện nay, hệ thống giáo dục VN vẫn duy trì sự tách biệt tương đối giữa các trường ĐH và các cơ sở đào tạo chuyên ngành, điều này dẫn đến phân tán nguồn lực và hạn chế khả năng tạo ra các hiệu ứng cộng hưởng.
Việc tích hợp, tương tự mô hình của MIT tại Mỹ hay các trường lớn Grandes Écoles tại Pháp sẽ cho phép tối ưu hóa việc sử dụng cơ sở hạ tầng có chi phí cao, như phòng thí nghiệm và trang thiết bị khoa học, đồng thời thúc đẩy tính liên ngành, một trong những yếu tố thiết yếu cho sự phát triển của các công nghệ mới nổi. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này còn tạo điều kiện tập trung nguồn lực học thuật, chia sẻ và kết hợp chuyên môn, năng lực để xây dựng các trung tâm xuất sắc về khoa học và công nghệ có tầm vóc, uy tín.
Việc xây dựng các ĐH nghiên cứu xuất sắc vẫn chưa đủ, điều quan trọng là phải phát triển hệ sinh thái nghiên cứu toàn diện, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nền kinh tế. Có thể kể ra các mô hình như dưới đây.
Các trung tâm nghiên cứu xuất sắc: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) là ví dụ tốt; FTU Research Lab của Trường ĐH Ngoại thương mới khánh thành, nếu thành công, cũng là mô hình nên nhân rộng. Mỗi trung tâm nghiên cứu trong các trường ĐH cần được bảo đảm điều kiện làm việc đạt chuẩn quốc tế, đi kèm với nguồn tài chính ổn định nhằm duy trì tính liên tục và nâng cao chất lượng các chương trình nghiên cứu.
Cơ chế hợp tác đào tạo - nghiên cứu theo mô hình CIFRE (hợp đồng đào tạo nghiên cứu trong doanh nghiệp) của Pháp là ví dụ tiêu biểu về sự hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp. VN hoàn toàn có thể điều chỉnh và áp dụng mô hình này phù hợp với bối cảnh trong nước, đặc biệt trong các ngành trọng điểm được ưu tiên đầu tư quy mô lớn, cũng như những lĩnh vực có sự hiện diện mạnh của các tập đoàn đa quốc gia như điện tử và bán dẫn.
Các trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ: Kinh nghiệm từ Thung lũng Silicon (Mỹ) hay khu khoa học Hsinchu (Đài Loan) cho thấy tầm quan trọng của việc tập trung không gian địa lý giữa các trường ĐH, trung tâm nghiên cứu, phát triển R&D, và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. VN đã bước đầu triển khai định hướng này thông qua các khu công nghệ cao như Khu Công nghệ cao TP.HCM và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Tuy nhiên, cần tiếp tục củng cố và tăng cường sự liên kết giữa các khu này với các ĐH nghiên cứu, nhằm hình thành những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả và bền vững.
Nếu hội đủ các điều kiện như đầu tư đúng trọng tâm và kéo dài, chính sách lương cạnh tranh, hội nhập quốc tế, VN có thể kỳ vọng có 1 - 2 ĐH trong top 300 thế giới vào giai đoạn 2045 - 2050.
Quỹ đạo phát triển này sẽ tương đương với Trung Quốc hoặc Singapore, sẽ giúp chuyển đổi sâu sắc nền kinh tế VN bằng cách thúc đẩy sự nâng cấp công nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào công nghệ và tạo ra giá trị cao hơn nhiều trên mỗi lao động.
Trong một thế giới mà cạnh tranh kinh tế diễn ra trên lĩnh vực đổi mới và tri thức, việc sở hữu các trường ĐH đẳng cấp thế giới không còn là một sự xa xỉ mà là một điều kiện tiên quyết để tiến tới nhóm các quốc gia có thu nhập cao.
Song song, việc phát triển các năng lực công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế số đóng vai trò như một động lực chiến lược. Những sự đầu tư này tác động trực tiếp đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giúp nâng cao hiệu quả sản xuất vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần tích lũy vốn và lao động. Bằng cách thúc đẩy cải thiện TFP, VN có thể nâng tầm quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, củng cố năng lực tự chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Đây chính là nền tảng then chốt giúp VN chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng và phát huy tối đa các lợi thế của mình.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tổ chức U.S. News ngày 7/4 công bố xếp hạng trường cao học tốt nhất ở Mỹ trong các lĩnh vực.
Ở ngành Kỹ thuật, MIT tiếp tục giữ vị trí số một. Theo MIT News, kể từ khi bảng xếp hạng này ra đời năm 1990, trường đã đứng đầu và chưa từng tụt hạng. MIT hiện xếp thứ nhất ở loạt chuyên ngành kỹ thuật, như Hàng không vũ trụ, Vật liệu, Cơ khí, Hóa học, Điện và Máy tính.
Xếp thứ hai và ba lần lượt là Đại học Stanford và Đại học California-Berkeley (UCB). Cả hai cùng đồng hạng nhất với MIT trong đào tạo Kỹ thuật Điện.
Trong top 30, 17 trường là đại học công, còn lại là tư thục. Học phí cho bậc thạc sĩ dao động 17.300-68.000 USD/năm (0,45-1,79 tỷ đồng).
Xếp hạng
Trường
Học phí thạc sĩ (USD/năm)
1
Viện Công nghệ Massachusetts
64.310
2
Đại học Stanford
67.700
3
Đại học California-Berkeley
28.200
4
Viện Công nghệ Georgia
31.200
Đại học Purdue
29.600
6
Viện Công nghệ California
68.000
Đại học Illinois Urbana-Champaign
39.300
Đại học Texas-Austin (Cockrell)
19.300
9
Đại học California-San Diego
28.200
10
Đại học Carnegie Mellon
60.300
11
Đại học Cornell
29.500
12
Đại học Michigan-Ann Arbor
34.000
13
Đại học Johns Hopkins (Whiting)
66.700
14
Đại học Texas A&M
17.300
Đại học California-Los Angeles (Samueli)
28.200
16
Đại học Northwestern (McCormick)
23.000/quý
Đại học Pennsylvania
51.000
18
Đại học Columbia (Fu Foundation)
2.700/tín chỉ
Đại học Colorado-Boulder
40.400
Đại học Maryland-College Park (Clark)
1.878/tín chỉ
21
Đại học Southern California (Viterbi)
2.665/tín chỉ
22
Đại học Duke (Pratt)
67.700
Đại học Harvard (Paulson)
65.500
Đại học Washington
38.100
25
Đại học Princeton
65.200
Đại học Rice (Brown)
62.500
27
Đại học Wisconsin-Madison
24.100
28
Đại học bang North Carolina
31.500
Đại học bang Ohio
43.300
Đại học bang Pennsylvania-University Park
48.700
Đại học California-Santa Barbara
29.500
Bảng xếp hạng đào tạo cao học ngành Kỹ thuật năm 2026 của US News có 195 trường. Hoạt động nghiên cứu là tiêu chí đánh giá có trọng số lớn nhất (50%), theo sau là đánh giá chất lượng (25%), nguồn lực giảng viên (20%), nghiên cứu của giảng viên (10%) và tiêu chí lựa chọn sinh viên (5%).
Theo US News, một xu hướng nổi bật ở các trường dạy kỹ thuật là quy mô nghiên cứu và tác động của chúng có thể tương hỗ nhưng không đồng nhất. Điều này có nghĩa là những trường có chi phí nghiên cứu cao nhất không phải lúc nào cũng có chỉ số công bố khoa học và trích dẫn mạnh nhất.
Bảng xếp hạng cao đẳng và đại học Mỹ của US. News ra đời từ năm 1983, là nguồn tham khảo phổ biến của sinh viên quốc tế, bên cạnh hai bảng xếp hạng QS và THE.
Khánh Linh
Tin Gốc: https://vnexpress.net/top-30-truong-cao-hoc-ky-thuat-tot-nhat-my-5059999.html
Giáo Dục
TP.HCM bổ sung khoảng 65.000 tỉ đồng chuẩn bị cho công tác xây dựng trường lớp

Tại buổi làm việc do Phó bí thư Thành ủy TP.HCM chủ trì với đại diện các sở, ngành, UBND 168 phường, xã, đặc khu về công tác xây dựng trường lớp, ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, cho biết từ nay đến hết năm 2026, thành phố dự kiến đưa vào sử dụng thêm 1.200 phòng học; năm 2027 thêm 1.500 phòng, cơ bản đáp ứng nhu cầu chỗ học vào cuối năm 2027; phấn đấu đến năm 2030 đạt tỷ lệ 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học.
Tuy nhiên, người đứng đầu ngành giáo dục TP cho rằng yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng số lượng mà còn phải nâng cao chất lượng. Thực tế ở bậc mầm non, dù số lượng cơ sở lớn nhưng 62% là ngoài công lập, nhiều nơi diện tích phòng học nhỏ hẹp, thiếu sân chơi, chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục chất lượng cao.
Tham dự buổi làm việc, đại diện Sở Tài chính TP.HCM đề cập đến nguyên tắc và quy trình xây dựng trường lớp. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt trường lớp, lãnh đạo các phường, xã đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định quy hoạch phù hợp và chọn vị trí xây dựng; xác định quy mô xây dựng, thời gian hoàn thành và dự kiến nguồn vốn
Trên cơ sở đề xuất của UBND xã, phường, sở GD-ĐT tổng hợp thành danh mục ưu tiên. Sở Tài chính sẽ tham mưu với UBND thành phố cân đối ngân sách để đảm bảo không thiếu chỗ học
Lãnh đạo Sở Tài chính cho biết, hiện nay nguồn vốn dành cho giáo dục đã được chỉ đạo bổ sung khoảng 65.000 tỉ đồng để chuẩn bị cho công tác xây dựng trường lớp.
Phát biểu tại buổi làm việc với lãnh đạo Thành ủy về công tác xây dựng trường học, Phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường đề nghị Sở GD-ĐT làm đầu mối tổng hợp nhu cầu trường lớp theo từng cấp học để điều tiết hợp lý trên toàn địa bàn, tránh đầu tư cục bộ. Đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, cải thiện môi trường học tập, khắc phục tình trạng trường lớp chật hẹp, thiếu sân chơi, đảm bảo cả 2 yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Kết luận tại buổi làm việc, Phó bí thư Thành ủy Nguyễn Phước Lộc đánh giá cao sự chủ động, nỗ lực của UBND TP.HCM, các sở ngành, UBND phường, xã trong triển khai xây dựng trường lớp. Ông nói thêm các địa phương tiếp tục hoàn thiện báo cáo, đánh giá đầy đủ, không bỏ sót nội dung, sát thực trạng hệ thống trường lớp, làm rõ khu vực nào còn thiếu trường lớp, thiếu giáo viên, nhất là địa bàn áp lực tăng dân số cơ học cao. Chủ động đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm đầy đủ chỗ học cho học sinh trên địa bàn.
Ông Nguyễn Phước Lộc đề nghị chuyển đổi vai trò của nhà nước từ cơ quan chủ trì việc xây trường sang quản trị, thiết kế hệ sinh thái trường học. Theo đó, TP.HCM sẽ thí điểm nhiều mô hình kiểu mẫu về giáo dục và đào tạo, vừa đảm bảo độ bao phủ vừa đầu tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, không để một ai bị bỏ lại phía sau, quan tâm trẻ em yếu thế, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Các địa phương cần rà soát, xác định quỹ đất phát triển giáo dục, hình thành danh mục theo hướng đồng bộ giữa các địa bàn, làm rõ hơn mức độ sẵn sàng triển khai của từng khu đất, gắn chặt với danh mục dự án, tiến độ thực hiện và khả năng bố trí nguồn lực, không dàn trải, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
Đồng thời, phải xử lý dứt điểm những vấn đề còn tồn đọng đối với từng dự án, không để xảy ra tình trạng xây dựng kéo dài, lãng phí nguồn lực. Ngoài ra, công tác xây dựng trường lớp phải đảm bảo đồng bộ giữa cơ sở vật chất và đào tạo, tuyển dụng đội ngũ nhà giáo. Riêng công tác quản trị trường học cần triển khai theo hướng chủ động, dự báo trước tình hình biến động học sinh.
Ông Lộc yêu cầu Đảng ủy các phường, xã, đặc khu cần kịp thời phát hiện, đề xuất xử lý các trường hợp sử dụng đất chưa đúng mục đích, chậm triển khai; chủ động đề xuất bổ sung quỹ đất, điều chỉnh quy hoạch nhằm bảo đảm đủ điều kiện triển khai các dự án xây dựng trường học.
Phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành trong việc chuẩn bị danh mục dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tính khả thi của đề xuất và tiến độ thực hiện trên địa bàn.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm trước Thành ủy về kết quả thực hiện trên địa bàn.
Phó bí thư Thành ủy Nguyễn Phước Lộc nhấn mạnh, việc bảo đảm đủ trường lớp cho học sinh là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, cấp bách và lâu dài. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao nhất, hành động quyết liệt, hiệu quả, kiên quyết không để xảy ra tình trạng thiếu chỗ học trên địa bàn thành phố.
Tin Gốc: Thanh Niên

