Đầu tư mạnh mẽ, có trọng điểm vào giáo dục và đổi mới sáng tạo là trụ cột trung tâm của mọi chính sách cơ cấu nhất quán nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Việc nâng cao kỹ năng kỹ thuật của lực lượng lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và công nghệ có giá trị gia tăng cao, là điều thiết yếu để hỗ trợ hiện đại hóa sản xuất và tiếp nhận các công nghệ tiên tiến. Đầu tư như vậy có ý nghĩa quyết định để giúp VN giảm phụ thuộc quá mức vào vốn và công nghệ nước ngoài, thoát bẫy thu nhập trung bình và chuyển từ nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào sang nền kinh tế dựa trên tri thức.
Hệ thống đại học (ĐH) VN có 237 trường vào năm 2026, trong đó có 3 trường nằm trong top 200 ĐH châu Á theo bảng xếp hạng QS Asia University Rankings 2026, và chưa có trường nào nằm trong top 500 ĐH hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín (QS World University Rankings, Times Higher Education). Điều này làm hạn chế đáng kể sức hấp dẫn của VN đối với chuyên gia quốc tế và các trung tâm nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn đa quốc gia.
Trước thực trạng nói trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã công bố dự án chiến lược nhằm xây dựng 5 – 6 ĐH xuất sắc trong giai đoạn 2030 – 2045, với mục tiêu hội nhập vào các bảng xếp hạng quốc tế từ năm 2030.
Quan sát từ những thành công ấn tượng nhất tại châu Á, có thể nói đây là quyết định mang tính chiến lược cao cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Singapore đã đầu tư mạnh mẽ vào 2 ĐH mũi nhọn NUS và NTU từ những năm 1990. Trong bảng xếp hạng QS World University Rankings, NUS hiện đứng thứ 8 thế giới, còn NTU đứng thứ 15, đưa Singapore trở thành một trong những trung tâm ĐH và công nghệ hàng đầu toàn cầu. Hàn Quốc có lộ trình tương tự với ĐH Quốc gia Seoul (khoảng thứ 30 thế giới theo QS) và KAIST (khoảng thứ 50). Gần đây hơn, Trung Quốc đã đưa ĐH Bắc Kinh (khoảng thứ 14 thế giới) và ĐH Thanh Hoa (khoảng thứ 17) vào top 20 thế giới, trong khi giữa thập niên 1990 họ còn ở vị trí rất xa. Những thành công này không phải ngẫu nhiên mà dựa trên 3 trụ cột: đầu tư công và tư quy mô lớn, bền bỉ theo thời gian; cơ chế quản trị trao quyền tự chủ rộng rãi về học thuật và quản lý cho các trường ĐH; chiến lược chủ động thu hút nhân tài quốc tế.
Việc xây dựng các ĐH xuất sắc sẽ góp phần phục vụ những mục tiêu kinh tế cụ thể. Thứ nhất, giữ chân nhân tài. Khi những sinh viên giỏi nhất vẫn phải ra nước ngoài để tiếp cận đào tạo chất lượng cao, đất nước sẽ tiếp tục bị chảy máu chất xám. ĐH đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp đào tạo tinh hoa ngay trong nước và thu hút chuyên gia VN từ nước ngoài trở về.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu lao động trình độ cao. Quá trình nâng cấp công nghiệp của VN (từ bán dẫn đến trí tuệ nhân tạo, từ điện hạt nhân đến năng lượng tái tạo) đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và chuyên gia trình độ cao.
Kế đến là phát triển năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh. VN hiện chỉ dành khoảng 0,5% GDP cho R&D (nghiên cứu và phát triển), so với gần 2,5% của Trung Quốc và gần 5% của Hàn Quốc. Điều này dẫn đến số lượng bằng sáng chế còn hạn chế và sự phụ thuộc công nghệ kéo dài.
Ngoài ra, còn nhằm thu hút FDI chất lượng cao. Samsung, Intel hay Apple chọn VN trước hết vì chi phí lao động thấp. Để thu hút các trung tâm R&D của họ, cần có nguồn nhân lực trình độ cao. ĐH xuất sắc là yếu tố quyết định trong lựa chọn địa điểm đầu tư FDI chất lượng.
Việc tích hợp các trường kỹ sư chất lượng cao vào các ĐH xuất sắc là một trong những giải pháp mang tính then chốt nhằm hỗ trợ chiến lược xây dựng các ĐH có danh tiếng toàn cầu. Hiện nay, hệ thống giáo dục VN vẫn duy trì sự tách biệt tương đối giữa các trường ĐH và các cơ sở đào tạo chuyên ngành, điều này dẫn đến phân tán nguồn lực và hạn chế khả năng tạo ra các hiệu ứng cộng hưởng.
Việc tích hợp, tương tự mô hình của MIT tại Mỹ hay các trường lớn Grandes Écoles tại Pháp sẽ cho phép tối ưu hóa việc sử dụng cơ sở hạ tầng có chi phí cao, như phòng thí nghiệm và trang thiết bị khoa học, đồng thời thúc đẩy tính liên ngành, một trong những yếu tố thiết yếu cho sự phát triển của các công nghệ mới nổi. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này còn tạo điều kiện tập trung nguồn lực học thuật, chia sẻ và kết hợp chuyên môn, năng lực để xây dựng các trung tâm xuất sắc về khoa học và công nghệ có tầm vóc, uy tín.
Việc xây dựng các ĐH nghiên cứu xuất sắc vẫn chưa đủ, điều quan trọng là phải phát triển hệ sinh thái nghiên cứu toàn diện, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nền kinh tế. Có thể kể ra các mô hình như dưới đây.
Các trung tâm nghiên cứu xuất sắc: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) là ví dụ tốt; FTU Research Lab của Trường ĐH Ngoại thương mới khánh thành, nếu thành công, cũng là mô hình nên nhân rộng. Mỗi trung tâm nghiên cứu trong các trường ĐH cần được bảo đảm điều kiện làm việc đạt chuẩn quốc tế, đi kèm với nguồn tài chính ổn định nhằm duy trì tính liên tục và nâng cao chất lượng các chương trình nghiên cứu.
Cơ chế hợp tác đào tạo – nghiên cứu theo mô hình CIFRE (hợp đồng đào tạo nghiên cứu trong doanh nghiệp) của Pháp là ví dụ tiêu biểu về sự hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp. VN hoàn toàn có thể điều chỉnh và áp dụng mô hình này phù hợp với bối cảnh trong nước, đặc biệt trong các ngành trọng điểm được ưu tiên đầu tư quy mô lớn, cũng như những lĩnh vực có sự hiện diện mạnh của các tập đoàn đa quốc gia như điện tử và bán dẫn.
Các trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ: Kinh nghiệm từ Thung lũng Silicon (Mỹ) hay khu khoa học Hsinchu (Đài Loan) cho thấy tầm quan trọng của việc tập trung không gian địa lý giữa các trường ĐH, trung tâm nghiên cứu, phát triển R&D, và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. VN đã bước đầu triển khai định hướng này thông qua các khu công nghệ cao như Khu Công nghệ cao TP.HCM và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Tuy nhiên, cần tiếp tục củng cố và tăng cường sự liên kết giữa các khu này với các ĐH nghiên cứu, nhằm hình thành những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả và bền vững.
Nếu hội đủ các điều kiện như đầu tư đúng trọng tâm và kéo dài, chính sách lương cạnh tranh, hội nhập quốc tế, VN có thể kỳ vọng có 1 – 2 ĐH trong top 300 thế giới vào giai đoạn 2045 – 2050.
Quỹ đạo phát triển này sẽ tương đương với Trung Quốc hoặc Singapore, sẽ giúp chuyển đổi sâu sắc nền kinh tế VN bằng cách thúc đẩy sự nâng cấp công nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào công nghệ và tạo ra giá trị cao hơn nhiều trên mỗi lao động.
Trong một thế giới mà cạnh tranh kinh tế diễn ra trên lĩnh vực đổi mới và tri thức, việc sở hữu các trường ĐH đẳng cấp thế giới không còn là một sự xa xỉ mà là một điều kiện tiên quyết để tiến tới nhóm các quốc gia có thu nhập cao.
Song song, việc phát triển các năng lực công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế số đóng vai trò như một động lực chiến lược. Những sự đầu tư này tác động trực tiếp đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giúp nâng cao hiệu quả sản xuất vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần tích lũy vốn và lao động. Bằng cách thúc đẩy cải thiện TFP, VN có thể nâng tầm quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, củng cố năng lực tự chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Đây chính là nền tảng then chốt giúp VN chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng và phát huy tối đa các lợi thế của mình.
Sáng nay (20.4), Bộ GD-ĐT tổ chức Hội nghị tuyển sinh năm 2026. Phát biểu chỉ đạo hội nghị, GS-TS Lê Quân, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cho rằng nguyên tắc tuyển sinh năm nay cơ bản đảm bảo sự ổn định, đơn giản hóa và khắc phục những hạn chế bất cập của năm trước. Việc đơn giản hóa được thực hiện với cả người học, phụ huynh trong công tác đăng ký, nhập học gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu của ngành.
Đồng thời, GS Lê Quân cho rằng cần linh hoạt hơn trong bài toán công bố kết quả, đảm bảo tính tự chủ của các cơ sở giáo dục ĐH. Việc này đòi nguyên tắc về sự chủ động hơn của các trường và các vụ, cục của Bộ trong việc chủ động nắm bắt tình hình, danh sách những học sinh đáp ứng yêu cầu xét tuyển để có sự chuẩn bị tốt hơn.
Tại hội nghị, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), chia sẻ nội dung báo cáo tổng kết tuyển sinh năm 2025. Theo đó, từ năm 2022 đến nay, số lượng thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT đều trên mức trên 1 triệu thí sinh. Số thí sinh trúng tuyển, tỷ lệ thí sinh nhập học cũng tăng dần qua từng năm. Trong đó, năm 2025 số thí sinh trúng tuyển nhập học trên chỉ tiêu đạt mức kỷ lục, lên tới mức 90%, cao nhất trong 4 năm qua.
Số liệu thống kê của Bộ GD-ĐT cũng cho thấy, năm 2025 có 76% cơ sở đào tạo có thí sinh nhập học trên mức 80%. Tỷ lệ này cũng cao hơn 2 năm trước đó (năm 2023 đạt 63% và năm 2024 đạt 71,38%).
GS Nguyễn Tiến Thảo cũng chỉ ra bức tranh tuyển sinh theo nhóm ngành. Trong số 24 nhóm ngành, có 12 nhóm ngành chiếm gần 90% số sinh viên nhập học so với chỉ tiêu. Ngược lại, 12 nhóm ngành chỉ chiếm 10% số sinh viên nhập học, có số sinh viên theo học ở mức dưới 10.000.
Kết quả đào tạo nhóm ngành sư phạm năm 2025 cho thấy tỷ lệ nhập học cũng đạt trên 90%. Số lượng thí sinh đăng ký và nhập học các ngành sư phạm đều cao ở các trường, nhờ tác động của chính sách mới từ luật Nhà giáo.
Nhấn mạnh tác động của chính sách đi vào cuộc sống, GS Thảo chỉ ra sự hấp dẫn thí sinh về nguồn tuyển, chất lượng và số lượng thí sinh đăng ký xét tuyển và nhập học năm 2025 ở một số nhóm ngành công nghệ chiến lược.
Kết quả điểm thi theo 5 tổ hợp truyền thống, GS Thảo cho rằng các tổ hợp xét tuyển truyền thống ổn định thời gian qua, phục vụ tốt xét tuyển ĐH. Năm 2025 có nhiều phương thức xét tuyển, trong đó 5 phương thức chính gồm: điểm thi tốt nghiệp, xét học bạ, xét tuyển kết hợp, thi riêng và tuyển thẳng. Trong đó, xét điểm thi tốt nghiệp THPT chiếm tới trên 50%, xét học bạ chiếm hơn 29%, xét tuyển kết hợp chiếm trên 15%, thi riêng trên 5% và tuyển thẳng chỉ 0,32%. Đáng chú ý, phương thức xét học bạ (xét điểm học tập THPT) có xu hướng giảm so với năm 2024, nhiều phương thức tuyển sinh khác không có thí sinh nhập học.
Ngoài ra, việc tuyển sinh theo vùng miền năm 2025 có nhiều sự điều chỉnh. Theo đó, các trường địa phương và thành phố lớn có sự chênh lệch về điều kiện học tập và mức thu hút thí sinh. Trong đó, cao nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ dẫn đầu về số thí sinh trúng tuyển nhập học và theo học.
Về những tồn tại của tuyển sinh năm 2025, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT) cho rằng có những nguyên nhân đến trực tiếp từ việc thí sinh khai sai thông tin, chưa rà soát kỹ và không thực hiện hết quy trình xét tuyển, có những trường hợp không đăng ký xét tuyển đúng thời gian quy định… Một số hạn chế đến từ cơ sở đào tạo như: chưa cập nhật dữ liệu, chưa báo cáo đầy đủ kịp thời và chính xác; một số trường chưa tham gia vào hệ thống xét tuyển; còn sai sót trong quá trình xét tuyển…
Kế hoạch tuyển sinh năm 2026, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh về nguồn tuyển, nguyên tắc xét tuyển và một số quy định mới liên quan trực tiếp tới thí sinh.
Trần Lê Hạnh Dung hiện học lớp 12G hệ chuyên tiếng Đức, trường THPT chuyên Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Học bổng mà em nhận được cách đây vài ngày do Bộ Ngoại giao Đức tài trợ, trao cho 116 học sinh, sinh viên trên toàn thế giới.
Theo các giáo viên chuyên Đức, học bổng nói trên chủ yếu dành cho nhóm sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ), số dành cho bậc cử nhân rất hiếm. Dung sẽ được đài thọ tất cả chi phí học tập và sinh hoạt trong thời gian học, hỗ trợ phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn, vé máy bay khứ hồi...
Để chạm tay vào suất học bổng này, nữ sinh đã trải qua một hành trình chuẩn bị chỉn chu, với 20 lần sửa thư động lực.
Dù học chuyên về ngôn ngữ, Hạnh Dung cho hay chọn theo đuổi ngành Kinh tế kỹ thuật tại Đức, vì thích học Toán và Vật lý. Em cũng muốn tìm hiểu cách kiến thức kỹ thuật được ứng dụng thực tế và gắn kết với các yếu tố kinh tế.
"Em nghĩ một kỹ sư không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải hiểu về kinh tế để tạo ra những sản phẩm có giá trị cho xã hội", Dung chia sẻ.
Trong thư động lực gửi hội đồng tuyển chọn, em mở đầu bằng ký ức về sở thích vẽ lại các loại máy giặt, máy rửa bát hay những dây chuyền hỗ trợ bố mẹ làm việc nhà. Nữ sinh nhìn nhận những nét vẽ ngây ngô ngày ấy là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự tò mò của em với thế giới kỹ thuật.
Để có được bản luận ưng ý nhất, Dung đã dành gần hai tháng nghiên cứu tiêu chí của DAAD. Em ghi chép ý tưởng vào sổ tay, viết đi viết lại hơn 20 lần để giải thích rõ vì sao mình chọn nước Đức và sẽ tận dụng cơ hội học tập này như thế nào. Dung tỉ mỉ đến mức kiểm tra kỹ lưỡng từ phông chữ đến cách đặt tên file trước khi nhấn nút gửi.
Ngoài ra, hồ sơ của nữ sinh còn có điểm trung bình ba năm đạt 9,7-9,8, chứng chỉ tiếng Đức C1 (DSD-II), IELTS 8.5. Em cũng từng giành giải nhất Olympic tiếng Đức của Đại học Quốc gia Hà Nội, giải nhì cuộc thi Grammatikzauber về giảng dạy ngữ pháp tiếng Đức.
Dung còn là Phó chủ tịch Câu lạc bộ tiếng Đức ở trường, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa như Hội chợ khoa học Julience, chương trình High School Help Kit - HSHK giúp các em học sinh cấp 2 thi vào lớp 10...
Với riêng tiếng Đức, Hạnh Dung cho hay lợi thế là được tiếp xúc từ sớm, hồi 2 tuổi, khi bố mẹ làm nghiên cứu sinh ở đất nước này. Cơ duyên này giúp nữ sinh hình thành khả năng phát âm khá tự nhiên. Sau khi trở về Việt Nam, Dung duy trì bằng cách tự học qua các tài liệu, phim tiếng Đức, cố gắng gắn với cuộc sống hàng ngày. Em cũng hay viết ra những suy nghĩ của mình, có động lực tra cứu những từ chưa biết.
"Em yếu nhất ở kỹ năng viết, vì đòi hỏi tư duy phản biện và khả năng quản lý thời gian rất khắt khe", Dung nói. Để cải thiện, nữ sinh đọc nhiều bài mẫu và đề thi để học cách diễn đạt, tích lũy vốn từ và cấu trúc câu. Với từ vựng, em luôn đặt từ trong ngữ cảnh cụ thể hoặc tự tưởng tượng ra một câu chuyện để ghi nhớ lâu hơn.
"Học ngôn ngữ không chỉ là học cách nói, mà còn là học về văn hóa và cách nhìn thế giới", em chia sẻ. "Chỉ cần đủ kiên trì, từng bước nhỏ cũng có thể đưa mình đến những giấc mơ rất lớn".
Theo cô Nguyễn Ngọc Lan, giáo viên chủ nhiệm lớp, Hạnh Dung là lớp phó học tập gương mẫu, có tính kỷ luật và khả năng tự lập cao.
"Dù phải cân bằng giữa việc học trên lớp, ôn thi các chứng chỉ quốc tế và chuẩn bị hồ sơ du học, Hạnh Dung vẫn luôn giữ được sự tập trung và tinh thần trách nhiệm", cô Lan nói.
Tháng 8 tới, Dung sẽ sang Đức học một năm dự bị trước khi chính thức bước vào chương trình đại học.
Từ 14 giờ đến 15 giờ ngày 14.4, Báo Thanh Niên tổ chức chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến 2026 "Xét tuyển ĐH: Những điều cần lưu ý khi chọn ngành". Chương trình diễn ra đồng thời ở các kênh: thanhnien.vn, fanpage Facebook, kênh YouTube, TikTok Báo Thanh Niên.
Như Thanh Niên đã đưa, đến nay các trường THPT tại TP.HCM đã bước đầu thăm dò việc lựa chọn 2 môn thi tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026. Ghi nhận thống kê từ các trường cho thấy tỷ lệ học sinh chọn tiếng Anh và các môn khoa học tự nhiên, đặc biệt môn lý, vẫn chiếm đa số.
Theo kế hoạch, ngày 24.4, thí sinh bắt đầu đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026, thời gian kéo dài cho đến hết ngày 5.5. Trước đó, Bộ GD-ĐT sẽ tổ chức cho học sinh lớp 12 thử đăng ký dự thi trực tuyến trên Hệ thống quản lý thi từ ngày 17.4 đến hết ngày 21.4. Theo quy định, ngoài 2 môn bắt buộc (văn và toán), thí sinh lựa chọn 2 trong số các môn còn lại mình theo học THPT để dự thi.
Việc chọn môn thi tốt nghiệp THPT 2026 nên dựa vào tiêu chí nào? Khi thực hiện đăng ký, thí sinh cần lưu ý gì để tăng cơ hội trúng tuyển ngành/trường yêu thích? Vì sao việc đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT lại liên quan mật thiết đến việc chọn ngành xét tuyển? Vai trò quan trọng của kết quả thi tốt nghiệp THPT trong xét tuyển năm nay? Cơ hội và điều kiện dành cho thí sinh khi tham gia xét tuyển bằng các phương thức không sử dụng điểm thi tốt nghiệp THPT vào trường năm nay?
Các thông tin này tiếp tục được phân tích trong PHẦN 2 chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến với chủ đề "Xét tuyển ĐH: Những điều cần lưu ý khi chọn ngành".
Chương trình diễn ra từ 14-15 giờ, gồm các chuyên gia: