Chiều 8.5, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ tổ chức tổng kết 2 năm triển khai kỹ thuật ghép thận, chuyển giao từ Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM).
Trước đó, ngày 25.4.2024, bệnh viện này đã triển khai ca ghép thận đầu tiên qua đó trở thành trung tâm ghép tạng thứ 26 của cả nước và là bệnh viện đầu tiên tại Đồng bằng sông Cửu Long triển khai thành công kỹ thuật ghép thận.
Tính đến tháng 4.2026, tức sau 2 năm, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ đã thực hiện thành công 20 ca ghép thận, trong đó có 15 ca cùng huyết thống, 3 ca vợ chồng và 2 ca từ người hiến chết não.
Thông tin thêm về các ca ghép, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Minh Vũ, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, cho biết các bệnh nhân sau ghép đều có sức khỏe ổn định, chức năng thận tốt và chất lượng cuộc sống được nâng lên rõ rệt.
“Con số 20 ca ghép thận không chỉ là thống kê, phía sau đó là 20 cuộc đời được mở ra một trang mới. Đó là những bệnh nhân từng phải sống cùng suy thận mạn, từng gắn bó với những lần lọc máu kéo dài, từng mang trong mình nỗi lo về sức khỏe, chi phí và tương lai. Đó cũng là 20 gia đình từng thấp thỏm chờ đợi ngoài phòng mổ, rồi vỡ òa trong niềm vui khi người thân có thêm cơ hội sống khỏe mạnh hơn”, bác sĩ Vũ nói.
Đối với người dân Đồng bằng sông Cửu Long, việc Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ thực hiện thành công kỹ thuật ghép thận cũng mang ý nghĩa quan trọng khi người bệnh không còn phải di chuyển xa để tiếp cận kỹ thuật chuyên sâu. Gia đình người bệnh cũng giảm bớt gánh nặng về thời gian, chi phí và công sức chăm sóc.
Trước đó, từ năm 2021, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ đã trải qua một quá trình chuẩn bị bài bản, từ cơ sở pháp lý, nhân lực, trang thiết bị đến quy trình chuyên môn. Đặc biệt, sự hỗ trợ từ các chuyên gia Bệnh viện Chợ Rẫy trong quá trình chuyển giao kỹ thuật.
Sau ghép thận, hiện Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ đã cử nhân lực đi đào tạo, chuyển giao kỹ thuật hướng đến triển khai ghép gan và ghép tim trong thời gian tới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Người phụ nữ ở Đống Đa tự trấn an bằng đủ lý do như tuổi tác, thời tiết, làm việc nhiều. Điều thực sự giữ bà lại không phải là sự chủ quan, mà là nỗi sợ. "Thà không biết còn hơn", bà nghĩ.
Đầu năm 2026, khi cơn đau vượt ngưỡng chịu đựng, bà không thể nằm nghiêng hay cúi người. Người phụ nữ đến bệnh viện, hai tay đan chặt trong phòng chờ siêu âm. Kết quả chỉ là lắng cặn đài bể thận, không nghiêm trọng, điều trị được nếu thay đổi lối sống.
Tuấn, 32 tuổi, cũng coi đi khám là "lãng phí thời gian", còn lo lắng rằng một tờ chẩn đoán bệnh sẽ "đặt dấu chấm hết cho những năm tháng thăng tiến". Anh chịu đựng stress, mất ngủ và đau đầu mãn tính mà không kiểm tra. Chỉ đến kỳ khám định kỳ bắt buộc tại cơ quan, bác sĩ mới phát hiện anh bị mỡ máu cao, tăng huyết áp và béo phì. Kết quả kiểm tra chuyên sâu sau đó cho thấy cơ thể anh đang vận hành như một người 50 tuổi.
Khám định kỳ được giới chuyên môn ví như tấm khiên bảo vệ cơ thể. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo người từ 18 tuổi trở lên cần kiểm tra huyết áp thường xuyên để tầm soát rủi ro. Tuy nhiên, tâm lý e dè và xu hướng né tránh sự thật khiến tỷ lệ người dân chủ động tiếp cận dịch vụ y tế dự phòng tại Việt Nam vẫn ở mức thấp. Các nghiên cứu dịch tễ học và báo cáo y tế công cộng chỉ ra rằng việc trì hoãn tầm soát sớm làm tăng gấp nhiều lần chi phí điều trị giai đoạn cuối, đồng thời làm giảm đáng kể tỷ lệ sinh tồn của bệnh nhân.
"Sự chủ quan này đang đẩy một bộ phận lớn người trưởng thành vào vùng nguy hiểm, đánh mất thời điểm vàng trong y khoa", bác sĩ Đoàn Dư Mạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch và Đột quỵ Quốc tế thuộc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, nói.
Ông Mạnh nhận định văn hóa y tế hiện hành vẫn mang nặng tư duy chờ có triệu chứng mới đi khám. Người dân thường phản ứng nhanh với các bệnh cấp tính như sốt hay khó thở. Đối với những bệnh mạn tính phát triển âm thầm, họ lại duy trì tâm lý phủ nhận. Nhiều bệnh nhân chỉ thực sự tìm kiếm sự trợ giúp y khoa khi tình trạng đã biến chứng nặng nề.
Theo PGS Đỗ Văn Dũng, nguyên Trưởng khoa Y tế Công cộng tại Đại học Y Dược TP HCM, căn nguyên của sự e dè này xuất phát từ những trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ. Quy trình hành chính rườm rà, thời gian chờ đợi kéo dài và gánh nặng chi phí điều trị tạo ra tâm lý né tránh. Nỗi sợ hãi về việc một chẩn đoán y khoa có thể làm đảo lộn vị thế xã hội đã hình thành nên cơ chế phòng vệ tâm lý độc hại.
Thay vì đến cơ sở y tế, nhiều người lại tìm đến các nền tảng trí tuệ nhân tạo hoặc mạng xã hội để tự chẩn đoán. Việc áp dụng các phác đồ không được cá thể hóa dựa trên cơ địa và bệnh lý nền tiềm ẩn rủi ro biến chứng nghiêm trọng.
Hậu quả của sự né tránh này là sự trẻ hóa đáng báo động của nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Theo dữ liệu năm 2023 từ Bộ Y tế, nhóm dưới 45 tuổi chiếm khoảng 5% đến 7% tổng số ca đột quỵ, với tốc độ tăng trung bình 2% mỗi năm.
Tại Viện Tim mạch Quốc gia, bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm tới 17% số ca can thiệp hằng năm. Thống kê của Tổ chức Ung thư Thế giới (Globocan) năm 2020 ghi nhận Việt Nam có hơn 17.000 ca ung thư dạ dày và 14.000 ca ung thư đại tràng mới mỗi năm. Ở nhóm dưới 40 tuổi, tỷ lệ mắc ung thư đại tràng đã chạm mốc gần 30%.
Để xóa bỏ rào cản tâm lý sợ phát hiện bệnh và ngăn chặn thói quen tự chẩn đoán mù quáng trên mạng, hệ thống y tế cần những thay đổi thực tế mang tính cá thể hóa. Thay vì áp dụng một quy trình đại trà dễ gây tâm lý e ngại, PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhấn mạnh khám sức khỏe không thể làm cho có. Ngành y tế cần phân nhóm người dân theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp và bệnh lý nền.
Cách tiếp cận này giúp mỗi cá nhân nhận được phác đồ tầm soát sát với nguy cơ thực tế, giảm bớt nỗi sợ hãi mơ hồ trước một danh sách xét nghiệm rườm rà. Nhóm người lao động hay viên chức cần được siết chặt chuyên môn khám và quản lý qua hồ sơ điện tử. Bệnh nhân mạn tính phải được theo dõi định kỳ sáu tháng một lần để kịp thời chặn đứng biến chứng.
Với lao động tự do và nhóm dưới 18 tuổi, các cơ sở y tế nên thiết kế gói khám tập trung vào bệnh lý phổ biến như sỏi thận, tuyến giáp hay u xơ tử cung. Những người khỏe mạnh sẽ được cấp phiếu khám thường niên, bắt đầu từ mốc 18 tuổi theo khuyến cáo tầm soát huyết áp của Hiệp hội Tim mạch Mỹ.
Bên cạnh việc tinh gọn quy trình khám để giảm áp lực tâm lý, rào cản tài chính cũng đang được tháo gỡ nhằm triệt tiêu lý do né tránh đến viện. Bộ Y tế đã vạch ra lộ trình đến năm 2030 đảm bảo 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ hằng năm. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế sẽ đạt 100%, đi kèm với việc mở rộng quyền lợi chi trả cho các dịch vụ tầm soát và chẩn đoán sớm.
Tới năm 2045, người dân sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế sẽ không phải chi trả thêm tiền túi. "Việc giải quyết triệt để gánh nặng chi phí và thiết kế lại quy trình khám gọn gàng chính là chìa khóa để người bệnh gạt bỏ nỗi sợ, chủ động giành lấy cơ hội sống khỏe mạnh", bác sĩ Mạnh cho hay.
Tin Gốc: Vnexpress

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế (Nghị định 90/2026), có hiệu lực thi hành từ ngày 15.5.2026.
Theo Nghị định 90/2026, vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế là những hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Bao gồm vi phạm các quy định về: y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS; khám bệnh, chữa bệnh; dược, mỹ phẩm; thiết bị y tế; bảo hiểm y tế và vi phạm các quy định về dân số.
Nghị định quy định rõ mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về dân số là 30 triệu đồng đối với cá nhân và 60 triệu đồng đối với tổ chức.
Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.
Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế là 75 triệu đồng đối với cá nhân và 150 triệu đồng đối với tổ chức.
Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và thiết bị y tế là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.
Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Với các hành vi vi phạm cụ thể như: vi phạm các quy định về uống rượu, bia và địa điểm không uống rượu, bia, Nghị định 90/2026 quy định cảnh cáo đối với người từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.
Phạt tiền từ 500.000 đồng - 1 triệu đồng đối với một trong các hành vi: uống rượu, bia tại địa điểm không uống rượu, bia theo quy định của pháp luật; xúi giục, kích động, lôi kéo người khác uống rượu bia.
Phạt tiền từ 1 - 3 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập; ép buộc người khác uống rượu bia.
Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với hành vi của người đứng đầu cơ sở kinh doanh vận tải, chủ phương tiện giao thông vận tải không thực hiện biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn người điều khiển phương tiện vận tải uống rượu, bia ngay trước và trong khi tham gia giao thông.
Về phòng chống tác hại thuốc lá, phạt tiền đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây tại nơi dành riêng cho người hút thuốc lá: không có phòng và hệ thống thông khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá; không có thiết bị phòng cháy, chữa cháy…
Với các biện pháp chống dịch, về kiểm dịch y tế biên giới, Nghị định 90/2026 quy định phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi:
Che giấu tình trạng bệnh của mình hoặc của người khác khi mắc bệnh truyền nhiễm đã được công bố là có dịch;
Không thực hiện hoặc từ chối thực hiện biện pháp vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trong vùng có dịch;
Không tham gia chống dịch theo quyết định huy động của người có thẩm quyền; Thu tiền khám và điều trị đối với trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.
Nghị định cũng quy định, phạt tiền từ 15 - 20 triệu đồng đối với hành vi không chấp hành cách ly y tế...

Mục tiêu 100% người dân TPHCM có "hộ chiếu sức khỏe" năm 2030
Tại hoạt động "Smart Healthcare 2026" hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân, diễn ra ở TPHCM ngày 8/4, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, thành phố đang đứng trước những thử thách không nhỏ từ tốc độ đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn, tình trạng già hóa dân số và sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm.
Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, ngành y tế đang quyết liệt chuyển đổi mô hình từ chữa bệnh sang phòng bệnh, từ chăm sóc khi có bệnh sang quản lý sức khỏe liên tục, toàn diện suốt vòng đời.
Trong hành trình chuyển đổi ấy, y tế thông minh (Smart Healthcare) được xác định là chìa khóa then chốt. Theo ông Châu, y tế thông minh không chỉ dừng lại ở trang thiết bị hiện đại mà là xây dựng hệ sinh thái số toàn diện. Trong đó, dữ liệu sức khỏe được liên thông để việc chăm sóc mang tính cá thể hóa và đạt hiệu quả tối ưu.
"TPHCM đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử. Đây sẽ là hộ chiếu sức khỏe theo mỗi người suốt cuộc đời. Nó không chỉ giúp bác sĩ có phác đồ điều trị chính xác nhờ dữ liệu lịch sử y tế đầy đủ, mà còn giúp người dân tự theo dõi tình trạng bản thân thuận tiện nhất", Phó Giám đốc Sở Y tế chia sẻ.
Bên cạnh xây dựng hồ sơ sức khỏe, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các thiết bị đeo thông minh cũng mở ra kỷ nguyên mới cho ngành y tế. Các thiết bị này giúp theo dõi chỉ số sinh tồn theo thời gian thực, cảnh báo sớm dấu hiệu bất thường và xóa nhòa khoảng cách địa lý thông qua khám chữa bệnh từ xa (Telemedicine).
Dù đề cao vai trò của công nghệ tiên tiến, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu khẳng định, lối sống lành mạnh của mỗi cá nhân vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Để hiện thực hóa mục tiêu toàn dân khỏe mạnh, lãnh đạo Sở Y tế kêu gọi mỗi người cần bắt đầu từ những hành động thiết thực nhất.
Cụ thể, người dân cần chủ động kiểm soát các yếu tố nguy cơ, bằng cách hạn chế rượu bia, thuốc lá và cắt giảm lượng muối, đường, chất béo không lành mạnh trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Song song đó, cần duy trì thói quen vận động thể chất và xây dựng môi trường sống xanh, để vừa cải thiện thể trạng, vừa nâng cao chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, công tác dinh dưỡng hợp lý - trọng tâm là chương trình "dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời" - được coi như chìa khóa nâng tầm vóc cho thế hệ tương lai.
Lãnh đạo Sở Y tế TPHCM cũng khuyến khích người dân tận dụng các dịch vụ y tế tại cộng đồng để tầm soát định kỳ, giúp phát hiện sớm các nguy cơ bệnh tật ngay từ giai đoạn khởi phát.
Thách thức trong hành trình miễn dịch trọn đời
Chia sẻ tại hội nghị khoa học "Hành trình miễn dịch trọn đời - Góc nhìn đa chiều về cơ hội và thách thức", diễn ra mới đây, GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, dịch tễ học toàn cầu và trong nước đã có nhiều biến động, từ thay đổi mô hình bệnh tật theo độ tuổi và nhóm nguy cơ đến các thách thức đối với hệ thống y tế.
Do đó, cách tiếp cận dự phòng cần được đặt trong tổng thể chiến lược và dựa trên dữ liệu dịch tễ, bằng chứng khoa học cũng như kinh nghiệm quốc tế. Trong đó, định hướng "miễn dịch trọn đời" ngày càng được quan tâm để nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Thực tế hiện nay, gánh nặng bệnh truyền nhiễm đang tập trung ở các nhóm dễ bị tổn thương, nhưng chưa được chủ động dự phòng đầy đủ. Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, kéo theo sự thay đổi về nhu cầu chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ở người cao tuổi và các nhóm có bệnh nền.
PGS.TS.BS Lê Khắc Bảo, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM phân tích, người lớn tuổi (đặc biệt từ 65 tuổi trở lên) dễ mắc các nhiễm trùng đường hô hấp với mức độ nghiêm trọng và nguy cơ tử vong cao.
Các nhiễm trùng đường hô hấp không chỉ gây bệnh cấp tính mà còn làm trầm trọng thêm các bệnh mạn tính. Đặc biệt, đồng nhiễm virus và vi khuẩn có thể dẫn đến diễn tiến nặng và làm gia tăng nguy cơ tử vong. Do đó, chuyên gia cho rằng việc chủ động phòng ngừa cần được cân nhắc ở nhóm bệnh nhân này.
GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cho biết thêm, với trẻ nhũ nhi, RSV (virus hợp bào hô hấp) là một trong những tác nhân hô hấp thường gặp ở. RSV có thể gây ra các di chứng như hen suyễn và thở khò khè, với tỷ lệ nhập viện cao nhiều lần so với cúm.
Nhiễm RSV không chỉ tạo gánh nặng bệnh tật mà còn ảnh hưởng lớn đến tài chính của gia đình người bệnh cũng như hệ thống chăm sóc y tế.
Các chuyên gia cho rằng, từ các nhóm nguy cơ khác nhau (người cao tuổi, người có bệnh nền, trẻ nhũ nhi…), khái niệm "miễn dịch trọn đời" cần được đặt ra như một khung tiếp cận theo vòng đời trong y tế dự phòng.
Từ đó, giúp cộng đồng chuyên môn nhìn nhận dữ liệu dịch tễ, thực hành lâm sàng và kinh nghiệm quốc tế một cách hệ thống hơn, phù hợp với nhu cầu sức khỏe thay đổi theo tuổi và nhóm nguy cơ.
"Cần nhận diện nguy cơ sớm và tăng cường trao đổi thông tin khoa học với nhân viên y tế, bao gồm cả giai đoạn thai kỳ, như một phần của cách tiếp cận theo vòng đời", GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến nhận định.

