Rạng sáng 7.4, tại một quán bánh bèo vỉa hè trên đường Hoàng Văn Thụ (ở phường Quy Nhơn Nam, Gia Lai), bà Trần Thị Lan (60 tuổi), bị một thanh niên chửi bới, nhổ nước bọt, ném ghế, dùng dao hăm dọa và tát liên tục vào mặt.
Con trai bà đến can ngăn cũng bị nhóm 3 người đấm đá, rượt đuổi. Clip từ camera lan truyền trên mạng xã hội. Cộng đồng mạng phẫn nộ. Công an tỉnh Gia Lai tạm giữ khẩn cấp Nguyễn Văn Ý (35 tuổi) về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Câu chuyện trên quen thuộc đến mức cư dân mạng có thể đoán trước được cái kết. Clip lan truyền, dư luận sôi sục, cơ quan chức năng vào cuộc, đối tượng bị tạm giữ.
Rồi vài ngày sau, một clip khác xuất hiện, một nạn nhân khác, một cơn phẫn nộ khác. Tôi gọi đó là vòng lặp, bởi nó lặp đi lặp lại mà không có gì thay đổi ở phần gốc rễ.
Chỉ tính riêng từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4.2026, báo chí đã phản ánh một chuỗi vụ hành hung nơi công cộng với mật độ đáng lo ngại.
Đêm 31.3, tại Đắk Lắk, nhóm thanh niên mang hung khí truy sát người đi đường trên tỉnh lộ 2.
Ngày 5.4, tại Nghệ An, một phụ nữ bị 2 đối tượng bịt mặt dùng hung khí hành hung giữa ban ngày.
Ngày 7.4, tại Huế, một người đàn ông đánh học sinh trong tiệm tạp hóa.
Cùng ngày, tại Lâm Đồng, một sản phụ bị hành hung ngay trước giờ sinh tại bệnh viện. Và cũng trong ngày 7.4, bà Lan bị đánh ở Quy Nhơn Nam.
Năm vụ trong chưa đầy một tuần, trải dài từ Tây nguyên đến Bắc Trung bộ, với nạn nhân đủ mọi lứa tuổi và hoàn cảnh.
Tại Thanh Hóa, theo thống kê của cơ quan chức năng, chỉ trong 3 tháng từ 15.12.2025 đến 15.3.2026, địa bàn tỉnh này đã xảy ra 34 vụ gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích và giết người với khoảng 200 đối tượng liên quan.
Vụ Đặng Chí Thành đánh phụ nữ tại sảnh chung cư Sky Central ở Hà Nội (tháng 8.2025) vừa kết thúc phúc thẩm đầu tháng 4.2026 với mức án 6 tháng tù. Vụ hành hung hàng xóm tại chung cư CT5-ĐN2 tại Hà Nội vào tháng 1.2026 cũng xử lý theo tội gây rối trật tự công cộng.
Những con số ấy cho thấy bạo lực đời thường không phải hiện tượng cá biệt mà đang trở thành một dạng “rối loạn xã hội” có tính hệ thống. Nhưng cách xã hội phản ứng lại mang tính sự vụ. Dư luận chỉ bùng lên khi có clip đủ sốc, đủ rõ nét, đủ biểu tượng.
Clip của bà Lan gây chấn động vì hội tụ tất cả các yếu tố kích hoạt cảm xúc tập thể. Nạn nhân là người già, hành vi côn đồ diễn ra trắng trợn trước camera, lời bà Lan nhẫn nhịn “tôi già rồi, anh cứ chửi thoải mái” trở thành biểu tượng cho sự bất lực. Nhưng không phải vụ nào cũng có camera. Không phải nạn nhân nào cũng đủ “điển hình” để viral (lan truyền).
Tôi không phủ nhận vai trò tích cực của mạng xã hội trong việc đẩy nhanh xử lý. Nếu không có clip, rất có thể vụ bà Lan sẽ kết thúc bằng việc gia đình Nguyễn Văn Ý đến thăm hỏi, hỗ trợ tiền, và bà Lan chấp nhận bỏ qua, đúng như bà đã bày tỏ khi nói rằng vợ người đó đang mang thai nên không muốn làm lớn chuyện.
Áp lực dư luận đã buộc Công an tỉnh Gia Lai phải tạm giữ khẩn cấp Nguyễn Văn Ý thay vì để vụ việc lắng xuống ở cấp phường. Nhưng chính sự phụ thuộc vào áp lực dư luận ấy lại là triệu chứng của một vấn đề sâu hơn.
Khi việc xử lý bạo lực phụ thuộc vào sức nóng truyền thông thay vì quy trình tố tụng, pháp luật không còn vận hành theo nguyên tắc bình đẳng nữa. Một vụ hành hung được xử lý nhanh vì clip có hàng triệu lượt xem. Một vụ khác với mức độ côn đồ tương đương nhưng không có camera thì liệu có trôi vào im lặng?
Chi tiết đáng suy nghĩ nhất trong vụ này là phản xạ đầu tiên của bà Lan. Khi bị hành hung lúc rạng sáng, bà không gọi công an. Bà gọi con trai đến đưa đi bệnh viện.
Phản xạ ấy không phải của riêng bà Lan. Nó phản ánh một thực tế phổ biến rằng với rất nhiều nạn nhân bạo lực đời thường ở Việt Nam, pháp luật không phải nơi họ nghĩ đến đầu tiên khi bị xâm hại.
Có thể vì họ chưa tin vào tốc độ phản ứng của cơ quan chức năng? Có thể vì họ biết rằng với thương tích nhẹ, vụ việc sẽ chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính? Có thể vì văn hóa nhẫn nhịn và dĩ hòa vi quý khiến người bị hại tự cắn răng chịu đựng?
Dù lý do nào thì kết quả cũng giống nhau. Nạn nhân không tìm đến pháp luật và pháp luật cũng không chủ động tìm đến nạn nhân.
Vòng lặp ấy vận hành bằng 3 bước. Thứ nhất là bạo lực xảy ra và nạn nhân chọn im lặng. Thứ hai là clip lan truyền phá vỡ sự im lặng, dư luận phẫn nộ, cơ quan chức năng xử lý theo sức ép. Thứ ba là mọi thứ lắng xuống, không có thay đổi nào về cơ chế phòng ngừa, không có đánh giá nào về lỗ hổng xử lý cho đến khi clip tiếp theo xuất hiện.
Điều 318 bộ luật Hình sự 2015 quy định tội gây rối trật tự công cộng với khung hình phạt cơ bản từ phạt tiền 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Khung tăng nặng theo khoản 2 lên đến 7 năm tù khi có tổ chức, dùng hung khí, hoặc gây cản trở giao thông nghiêm trọng.
Nhưng phần lớn các vụ bạo lực gặp trong đời thường rơi vào khung 1 với mức án phổ biến quanh 6 tháng tù. Mức chế tài ấy có đủ sức răn đe hay không? Tần suất các vụ việc gây rối trong thời gian gần đây đang tự trả lời.
Để phá vỡ vòng lặp ấy cần thay đổi ở cả 3 bước cùng lúc. Nạn nhân cần được khuyến khích và hỗ trợ để trình báo thay vì im lặng. Cơ quan chức năng cơ sở cần chủ động xử lý theo quy trình thay vì chờ áp lực dư luận. Và chế tài cần đủ nghiêm khắc để người có ý định bạo lực phải cân nhắc trước khi hành động thay vì chỉ hối hận sau khi clip lên mạng.
Camera quán bánh bèo của bà Lan đã ghi lại toàn bộ hành vi côn đồ của Nguyễn Văn Ý. Nhưng camera chỉ là “nhân chứng” thụ động. Nó ghi lại được vòng lặp nhưng không phá vỡ được vòng lặp. Việc phá vỡ ấy là phần việc của pháp luật, của thiết chế và của cả xã hội.
Nếu chúng ta tiếp tục chỉ phẫn nộ theo từng clip rồi quên thì vòng lặp sẽ tiếp tục quay. Và nạn nhân tiếp theo có thể là bất kỳ ai.
Theo đơn kiến nghị được tập thể các doanh nghiệp, các nhà thầu đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung vật liệu xây dựng thiết yếu như cát san lấp, đá các loại, nhựa đường và nhiên liệu vận hành máy móc.
Nguyên nhân chính được các doanh nghiệp chỉ ra là do nguồn lực vật liệu xây dựng tại địa phương đang tập trung ưu tiên cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm của quốc gia và của tỉnh, như các tuyến cao tốc và đường vành đai.
Điều này khiến các đơn vị thi công công trình địa phương gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vật liệu từ các mỏ được quy hoạch. Để duy trì tiến độ, nhiều doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn cung cấp thương mại thay thế, khiến chi phí thực tế thực hiện gói thầu có sự chênh lệch rất lớn so với dự toán ban đầu.
Bên cạnh áp lực về vật tư, công tác giải phóng mặt bằng cũng là "điểm nghẽn" lớn. Việc bồi thường, hỗ trợ tại một số dự án chưa nhận được sự đồng thuận hoàn toàn từ người dân, dẫn đến việc bàn giao mặt bằng không đồng bộ.
Tình trạng thi công bị gián đoạn, máy móc thiết bị phải nằm chờ mặt bằng không chỉ làm kéo dài thời gian hoàn thành dự án mà còn phát sinh chi phí quản lý, vận hành và lãi vay, đẩy nhiều doanh nghiệp có bề dày hoạt động hàng chục năm rơi vào tình trạng đình trệ.
Tập thể các doanh nghiệp cho biết nếu không có giải pháp tháo gỡ kịp thời, tiến độ các công trình kết nối hạ tầng giao thông và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nhằm duy trì hoạt động và đảm bảo chất lượng công trình, 32 doanh nghiệp xây dựng tại Đồng Tháp đã đề xuất UBND tỉnh xem xét hai nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, kiến nghị tỉnh và các ngành chức năng xem xét cơ chế điều chỉnh giá hợp đồng hoặc có chính sách hỗ trợ đối với các loại vật liệu có biến động lớn về chi phí so với thời điểm ký kết, đặc biệt là các loại vật tư nằm ngoài khả năng dự báo của doanh nghiệp.
Thứ hai, doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ, hướng dẫn tiếp cận trực tiếp các nguồn vật liệu như cát san lấp và đá xây dựng từ các mỏ trên địa bàn. Việc này giúp giảm bớt các khâu trung gian, đảm bảo nguồn cung ổn định để các đơn vị tập trung thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng.
Ngày 21.4, trao đổi với PV Thanh Niên, đại diện Ban Quản lý dự án 85 (thuộc Bộ Xây dựng; chủ đầu tư dự án thành phần 2 cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu) cho biết dự án thành phần 2 đã sẵn sàng thông xe trước dịp lễ 30.4.
Bộ Tư pháp vừa công bố hồ sơ thẩm định đối với dự thảo nghị định thay thế Nghị định số 43 năm 2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ VH-TT-DL. Dự thảo do Bộ VH-TT-DL chủ trì soạn thảo.
Cơ cấu tổ chức của Bộ VH-TT-DL hiện nay có 24 đơn vị, gồm 19 tổ chức hành chính và 5 đơn vị sự nghiệp công lập. Tại dự thảo, Bộ VH-TT-DL đề xuất giảm còn 22 đơn vị, gồm 18 tổ chức hành chính và 4 đơn vị nghiệp công lập.
Trong đó, giữ nguyên 6 đơn vị có chức năng tham mưu tổng hợp chung: Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch, Tài chính; Vụ Pháp chế; Vụ KH-CN, Đào tạo và Môi trường; Văn phòng Bộ; Cục Hợp tác quốc tế.
Giữ nguyên 6 Cục có đối tượng quản lý chuyên ngành: Cục Di sản văn hóa; Cục Điện ảnh; Cục Nghệ thuật biểu diễn; Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; Cục Thể dục thể thao Việt Nam.
Giữ nguyên 4 đơn vị sự nghiệp công lập: Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam; Báo Văn hóa; Tạp chí Văn hóa nghệ thuật; Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.
Cục Bản quyền tác giả được đề xuất đổi tên thành Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả; nhằm phù hợp với Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua, giao Bộ VH-TT-DL thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công nghiệp văn hóa.
Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam tổ chức lại thành Vụ Văn hóa dân tộc, không có tổ chức phòng bên trong.
Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin cơ sở sang Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện; đồng thời chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại sang Cục Báo chí.
Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện đổi tên thành Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở và Gia đình; chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thư viện sang Cục Xuất bản, In và Phát hành; đồng thời tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin cơ sở.
Cục Xuất bản, In và Phát hành đổi tên thành Cục Xuất bản và Thư viện; đồng thời tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thư viện.
Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình sang Cục Báo chí quản lý; đồng thời thành lập Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số trên cơ sở tổ chức lại bộ phận tham mưu quản lý nhà nước về thông tin điện tử của Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử và Trung tâm Chuyển đổi số VH-TT-DL.
Cục Báo chí tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại; về phát thanh, truyền hình.
Đối với tổ chức cấp phòng trong cơ quan hành chính thuộc bộ, Bộ VH-TT-DL đề xuất lược bỏ quy định Vụ Kế hoạch - Tài chính có 4 phòng, Vụ Tổ chức cán bộ có 4 phòng.
Lý do, thực hiện các chủ trương về sắp xếp đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và đầu mối bên trong cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL đã quyết định về việc giải thể các phòng chuyên môn, nghiệp vụ và sửa đổi quy định về cơ cấu tổ chức của hai cơ quan trên.
Và để không xảy ra khoảng trống pháp lý, đảm bảo thời gian để thực hiện các thủ tục sắp xếp, tổ chức lại (tài chính, tài sản, nhân sự, con dấu, tài khoản...), dự thảo quy định điều khoản chuyển tiếp theo hướng các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo các quy định hiện hành cho đến khi Bộ trưởng ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức mới.