Sở Môi trường thuộc Chính quyền Đô thị Bangkok (BMA) thông báo chỉ số nhiệt tại thành phố này ngày 4/5 vượt 52°C, lên mức “cực kỳ nguy hiểm”, cấp cảnh báo cao nhất.
BMA chia hệ thống cảnh báo chỉ số nhiệt thành 4 cấp, gồm “thận trọng” (27-32,9°C), “cảnh báo” (33-41,9°C), “nguy hiểm” (42-51,9°C) và “cực kỳ nguy hiểm” (52°C trở lên). Trước đó, Bangkok đã trải qua 19 ngày liên tiếp ghi nhận chỉ số nhiệt ở mức “nguy hiểm”.
Chỉ số nhiệt (Heat Index) là đại lượng đo lường nhiệt độ mà cơ thể con người thực sự cảm nhận được khi kết hợp giữa nhiệt độ không khí thực tế và độ ẩm tương đối. Đại lượng này đôi khi còn được gọi là “nhiệt độ cảm nhận”.
Khi không khí bão hòa hơi nước do độ ẩm cao, tốc độ bay hơi của mồ hôi trên da người chậm lại, thậm chí không thể bay hơi. Hậu quả là nhiệt lượng không thể thoát ra ngoài mà bị giữ lại trong cơ thể, khiến chúng ta cảm thấy nóng nực và ngột ngạt hơn rất nhiều so với nhiệt độ thực tế do nhiệt kế đo được.
Sở Môi trường Bangkok khuyến cáo người dân tránh hoàn toàn hoạt động ngoài trời, cho biết nắng nóng cực đoan có thể làm tăng nguy cơ các bệnh liên quan đến nhiệt như say nắng.
Những người có triệu chứng bất thường cần lập tức đi khám. Các nhóm dễ tổn thương như trẻ em, thai phụ, người cao tuổi, người có bệnh nền, du khách cần đặc biệt thận trọng.
Giới chức thủ đô Thái Lan đã thiết lập các “phòng tránh nóng” và khuyến cáo người tìm kiếm các địa điểm như vậy gần nhà mình trên website Greener Bangkok.
Thái Lan là một trong những nước chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu. 19 trong tổng số 20 năm nóng nhất lịch sử nước này rơi vào giai đoạn sau năm 2001. Các dự báo cho thấy nhiệt độ trung bình năm của Thái Lan có thể vượt mốc 29°C vào năm 2070, tương đương Sahara ngày nay.
Tại Thái Lan, nắng nóng cực đoan thường đi kèm hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên và thảm khốc hơn, cùng tình trạng mực nước biển dâng đe dọa các cộng đồng ven biển và những vùng kinh tế trọng điểm.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiến sự giữa Iran với Mỹ và Israel bùng phát cuối tháng 2 khiến eo biển Hormuz rơi vào vòng phong tỏa kép. Ngay sau đó, Bob Wilt, giám đốc điều hành tập đoàn khai khoáng Maaden của Arab Saudi, đã cử hàng loạt lãnh đạo cấp cao tới các cảng ở biển Đỏ để tìm đối sách.
Chỉ trong vòng hai tuần, Maaden thiết lập được mạng lưới hậu cần giúp vận chuyển phân bón xuyên Arab Saudi, với yếu tố then chốt là hàng nghìn xe tải hạng nặng hoạt động không ngừng.
"Từ 600 xe tăng lên 1.600, rồi 2.000 xe, chúng tôi lúc này có 3.500 xe tải chạy từ vùng Vịnh sang biển Đỏ", Wilt nói, thêm rằng các phương tiện lăn bánh suốt ngày đêm, do hai tài xế luân phiên điều khiển. Ông kỳ vọng đoàn xe tải xuyên sa mạc này có thể giải quyết xong lượng hàng tồn xuất khẩu vào cuối tháng 5.
Nỗ lực của Maaden đang góp phần giảm tình trạng thiếu phân bón, yếu tố có thể ảnh hưởng tới nguồn cung lương thực toàn cầu, khi đàm phán Mỹ - Iran vẫn bế tắc. Mỗi chuyến hàng vượt qua sa mạc cũng tạo thêm dư địa cho các nước vùng Vịnh duy trì dòng chảy thương mại, chờ tình hình Hormuz hạ nhiệt.
Trong thời bình, Hormuz là tuyến đường biển vận chuyển 20% nguồn cung dầu thế giới đến từ vùng Vịnh cùng với 1/3 nguyên liệu sản xuất phân bón cho ngành nông nghiệp toàn cầu. Tuy nhiên, Iran hiện đã siết kiểm soát Hormuz, chỉ cho phép tàu của quốc gia "thân thiện" đi qua, với lý do nhằm đảm bảo an ninh cho nước này. Quân đội Mỹ cũng áp lệnh phong tỏa với mọi cảng biển Iran từ ngày 13/4, không cho phép các tàu có liên hệ với Iran rời eo biển Hormuz.
Điều này thúc đẩy các nước vùng Vịnh phải tái định hình bản đồ logistics, nhằm giảm bớt phụ thuộc vào "nút cổ chai Hormuz", và vận tải bằng đường bộ, đường sắt trở thành lựa chọn thay thế tạm thời.
Những hãng vận tải biển như MSC và Maersk cũng đang chuyển sang dùng xe tải để chuyển hàng hóa xuyên bán đảo Arab. Mạng lưới này chưa thể thay thế hoàn toàn năng lực hay cạnh tranh về chi phí so với vận tải biển, nhưng vẫn có hiệu quả nhất định trong tình hình hiện tại.
Chuỗi siêu thị Spinneys của Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đã điều xe tải chở thực phẩm gồm khoai tây chiên, yến mạch và đồ ăn nhẹ cho trẻ em nhập khẩu từ Anh. Hành trình này kéo dài 16 ngày từ hạt Kent của Anh qua các nước Tây Âu, Ai Cập và Arab Saudi rồi đến thành phố Dubai.
Hãng vận tải đường sắt Etihad Rail Freight gần đây cũng vận chuyển hàng trăm ôtô từ thành phố Fujairah ở bờ đông UAE tới Abu Dhabi bên vịnh Ba Tư, đánh dấu lần đầu tiên nước này vận chuyển ôtô bằng tàu hỏa.
Những đoàn xe tải xuyên sa mạc phần nào cho thấy khả năng ứng biến của nền kinh tế toàn cầu trước các cú sốc do chiến tranh gây ra. Dù Hormuz bị đóng cửa, một lượng đáng kể dầu mỏ và khí tự nhiên, mặt hàng quan trọng nhất của vùng Vịnh, vẫn tiếp tục được đưa ra thị trường toàn cầu thông qua các tuyến dự phòng.
Tập đoàn dầu khí Saudi Aramco của Arab Saudi đang sử dụng Đường ống Đông - Tây nối tới cảng Yanbu bên biển Đỏ, trong khi UAE tăng cường vận chuyển dầu thô qua Fujairah. Hai nước đều tìm cách tăng công suất của các tuyến vận chuyển dầu này, cân nhắc xây thêm đường sắt và mở rộng hạ tầng cảng biển.
Cảng Khor Fakkan, quy mô nhỏ hơn Yanbu, đã trở thành "phao cứu sinh" của UAE. Lượng xe tải qua cảng nằm bên vịnh Oman này đã tăng từ 100 lên 7.000 lượt mỗi ngày kể từ khi xung đột Iran bùng phát. Những hàng dài xe tải hạng nặng chở container giờ trở thành hình ảnh quen thuộc trên các tuyến cao tốc.
Từ một cảng chủ yếu đóng vai trò trung chuyển, Khor Fakkan đã trở thành cửa ngõ vận tải thực sự, khi container được đưa khỏi cảng bằng xe tải, đi qua cổng kiểm soát và hải quan trước khi tới các kho hàng hay nhà máy.
Công ty Gulftainer, đơn vị vận hành cảng Khor Fakkan, đã tuyển thêm 900 nhân viên chỉ trong hai tuần, điều chuyển nhân viên chăm sóc khách hàng sang làm nhiệm vụ quản lý bãi xe hoặc kiểm soát cổng ra vào. Công ty cũng mở thêm một bãi tập kết xe tải mới để phân loại và điều phối hàng hóa.
"Điều đó giống như phải tập hợp cả một dàn nhạc chỉ sau một đêm để biểu diễn bản giao hưởng của Mozart", Farid Belbouab, giám đốc điều hành Gulftainer, ví von.
Với ông Wilt, cuộc khủng hoảng lần này còn là phép thử cho khả năng hoạt động của Maaden trên quy mô toàn cầu.
Arab Saudi đã yêu cầu Maaden mở rộng sản xuất phosphate, vàng và nhôm, trong kế hoạch đầu tư 110 tỷ USD trong thập kỷ tới. Công ty cũng hợp tác với doanh nghiệp và Bộ Quốc phòng Mỹ trong các dự án tinh luyện đất hiếm, đưa Arab Saudi thành mắt xích quan trọng trong nỗ lực giảm phụ thuộc nguồn cung hàng hóa này vào Trung Quốc.
Maaden góp phần đưa Arab Saudi trở thành nước xuất khẩu phosphate lớn thứ ba thế giới. Loại khoáng sản này được khai thác, xử lý thành dạng hạt và trong điều kiện bình thường sẽ được vận chuyển qua eo biển Hormuz.
Với Maaden, việc đưa hàng vượt qua những sa mạc rộng lớn phần nào dễ hơn, bởi Arab Saudi có mạng lưới đường cao tốc xuyên quốc gia khá hoàn thiện. Tuy nhiên, các cảng ở biển Đỏ lại không được xây dựng để phục vụ mặt hàng phosphate. Maaden phải dựng các kho lắp ghép và xây dựng hệ thống đường ống để bơm axit sulfuric, nguyên liệu quan trọng trong sản xuất phosphate, vào xe bồn.
Ông Wilt cho biết tuyến vận tải đường bộ kém hiệu quả vì nhiều xe tải chạy rỗng khi quay về, nhưng giá hàng hóa tăng mạnh đã bù đắp được chi phí vận chuyển phát sinh.
"Chúng tôi đã chứng minh được năng lực của mình", ông Wilt nói. "Giờ cần củng cố hệ thống này để luôn có một tuyến đường ra biển Đỏ".
Tin Gốc: Vnexpress

Chiến sự giữa Mỹ - Israel với Iran bùng phát cuối tháng 2 cho thấy các nước vùng Vịnh cũng như thế giới vẫn phụ thuộc đáng kể vào eo biển Hormuz để duy trì dòng chảy năng lượng. Một số quốc gia như Arab Saudi, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) hay Iraq trước đó đã xây dựng một số đường ống để chuyển hướng xuất khẩu khỏi Hormuz, nhưng vẫn còn hạn chế về công suất.
Thổ Nhĩ Kỳ đang coi cuộc khủng hoảng hiện tại là cơ hội cho nước này vẽ lại bản đồ năng lượng Trung Đông. Với lợi thế là điểm giao cắt của nhiều tuyến đường ống dầu khí, Ankara đang đề xuất các bên xây dựng thêm hạ tầng kết nối qua Thổ Nhĩ Kỳ để thoát phụ thuộc Hormuz.
"Các bạn không thể xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) qua Hormuz. Hãy nghĩ đến việc chuyển một phần khí đốt sang Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu bằng đường ống", Bộ trưởng Năng lượng Thổ Nhĩ Kỳ Alparslan Bayraktar nói với hãng thông tấn Anadolu. "Chúng tôi đang mở ra tuyến xuất khẩu thay thế cho các bạn".
Vượt biển Caspi
Bộ trưởng Bayraktar đang thúc đẩy một dự án đã được thảo luận từ lâu là Đường ống khí đốt xuyên Caspi, đưa khí đốt từ Turkmenistan qua biển Caspi tới Azerbaijan và sang châu Âu.
Turkmenistan là nhà xuất khẩu khí đốt lớn, cung cấp khoảng 80 tỷ m3 mỗi năm. Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập một phần khí đốt từ Turkmenistan thông qua Iran bằng các thỏa thuận hoán đổi. Theo thỏa thuận, Turkmenistan bơm khí đốt vào đường ống ở đông bắc Iran để nước này tiêu thụ nội bộ cho các tỉnh phía bắc. Đổi lại, Iran trích lượng khí đốt tương đương từ các mỏ ở tây bắc để bơm vào đường ống Thổ Nhĩ Kỳ tại biên giới.
"Nhưng giải pháp đúng đắn, một trong những phương án lý tưởng nhất, là để lượng khí đốt này đi thẳng qua biển Caspi, Azerbaijan và Gruzia rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ", ông Bayraktar nói.
Umud Shokri, chuyên gia năng lượng tại Đại học George Mason, Mỹ cho rằng dự án đường ống xuyên Caspi đang có triển vọng tốt hơn trước, nhưng vẫn bị hạn chế bởi các vấn đề khu vực chưa được giải quyết. Azerbaijan và Turkmenistan cần phê chuẩn Công ước 2018 về quy chế pháp lý của biển Caspi, đặt ra các quy tắc cho đường ống dưới biển.
"Hiệu quả kinh tế rõ ràng kém hơn nhiều. Các ước tính thận trọng cũng cho thấy dự án xây dựng đoạn ống ngầm có thể tốn 2 tỷ USD, trong khi để đạt công suất thương mại 20-30 tỷ m3 mỗi năm cần đầu tư thêm vào khai thác, nén khí và mở rộng hạ tầng phía hạ nguồn", ông Shokri nói.
Ông Shokri thêm rằng dự án còn đối mặt với hạn chế về nhu cầu, khi thị trường châu Âu ngày càng đa dạng hóa nguồn cung LNG. Nếu không có các hợp đồng mua dài hạn và mức giá cạnh tranh, việc huy động vốn sẽ rất khó khăn.
Dự án Qatar
Giới chức Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar đã công khai thể hiện từ năm 2009 rằng họ muốn xây dựng một đường ống kết nối từ mỏ khí đốt North Dome qua Arab Saudi, Jordan, Syria đến Thổ Nhĩ Kỳ. Ý tưởng này khi đó vấp phải sự phản đối từ chính quyền tổng thống Syria Bashar al-Assad.
Sau khi chính quyền ông Assad bị lật đổ hồi tháng 12/2024, Thổ Nhĩ Kỳ muốn khôi phục ý tưởng, nhưng Qatar hồi tháng 1/2025 cho biết họ chưa cân nhắc về dự án, bởi mô hình xuất khẩu LNG bằng đường biển đến lúc đó vẫn phù hợp hơn, có tính linh hoạt cao.
"Dự án đường ống này khả thi về kỹ thuật, nhưng mong manh về kinh tế và chính trị", Justin Dargin, chuyên gia tại Hội đồng Trung Đông về Các vấn đề Toàn cầu, nói. "Chi phí ước tính cho dự án trước đây khoảng 10-12 tỷ USD, nhưng nếu xét đến rủi ro an ninh, lạm phát và bất ổn chính trị lúc này, con số thực tế có thể lên đến 15 tỷ USD hoặc hơn".
Nhưng kể từ khi chiến sự nổ ra, cuộc khủng hoảng ở eo biển Hormuz đang làm tăng sức hấp dẫn chiến lược của dự án Qatar. Thách thức lớn nhất ở đây là làm thế nào để đảm bảo an toàn cho tuyến đường ống dài khoảng 1.500 km, đi qua nhiều quốc gia, trước nguy cơ bị tấn công phá hoại từ nhiều thế lực.
Dự án này đòi hỏi sự đồng thuận bền vững giữa Arab Saudi, Jordan, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, và đây là điều kiện cực kỳ khó đạt được trong bối cảnh hiện nay, theo ông Dargin.
Các mỏ dầu Syria
Một đề xuất dễ thực hiện hơn từ Ankara là kết nối các mỏ dầu ở Syria vào đường ống Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ, vốn vẫn còn nhiều công suất dư thừa. Hiện nay, Syria chỉ sản xuất khoảng 100.000-120.000 thùng dầu một ngày, thấp hơn nhiều so với mức gần 400.000 thùng một ngày trước khi nội chiến nổ ra năm 2011.
Wael Alzayat, giám đốc điều hành Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ - Syria, cho biết cả Syria và Thổ Nhĩ Kỳ đều ủng hộ dự án, nhưng vẫn còn nhiều trở ngại.
"Một số khu vực vẫn do các nhóm dân quân như Lực lượng Dân chủ Syria nắm giữ, chưa bàn giao cho chính quyền Syria", ông nói. Ngoài ra, tàn dư của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng có thể gây mất an ninh.
Theo ông Alzayat, Syria sẽ cần vài tỷ USD để khôi phục và phát triển các mỏ dầu sau nhiều năm nội chiến. Nhưng vì Damascus đang thiếu tiền, họ có thể phải cần hỗ trợ từ bên ngoài. Sau khi có vốn và nâng được sản lượng, việc nối vào hệ thống đường ống sẽ không quá phức tạp.
Mở rộng đường ống Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ cũng nhiều lần đề xuất kéo dài đường ống Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ từ Kirkuk xuống Basrah. Tuy nhiên, dự án này vẫn chưa tiến triển do Iraq chưa đạt được đồng thuận chính trị.
Salam Jabbar Shahab, chuyên gia năng lượng Iraq, cho biết sau khủng hoảng tại eo biển Hormuz, Baghdad đang có động lực mạnh hơn để thúc đẩy dự án. Lý do là Iraq cần xuất khẩu khoảng 6,3 tỷ USD dầu mỏ mỗi tháng để trang trải ngân sách, trong đó có trả lương cho công chức. Riêng trong tháng 3, Iraq ước tính đã mất hơn 5,5 tỷ USD từ xuất khẩu dầu do ảnh hưởng của chiến sự Iran.
"Iraq cần đảm bảo xuất khẩu khoảng 3,5 triệu thùng dầu một ngày để có đủ nguồn chi trả cho bộ máy chính phủ", ông Shahab nói. "Hiện tại, nước này chỉ xuất khẩu khoảng 200.000 thùng một ngày qua tuyến đường ống Kirkuk - Ceyhan".
Nếu xây dựng đường ống từ Basrah, Iraq sẽ có thêm một hướng xuất khẩu mới cho dầu từ khu vực miền nam sang thị trường châu Âu và châu Á, không phải phụ thuộc vào eo biển Hormuz.
"Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là tìm đủ tiền và đảm bảo an ninh để triển khai cũng như vận hành dự án", ông Shahab tiếp tục. "Iraq không có đủ nguồn tài chính để xây dựng đường ống này cũng như các cơ sở đi kèm để bơm dầu. Dự án ước tính cần tới hàng tỷ USD và có thể buộc phải vay từ các tổ chức quốc tế".
Ngoài ra, đường ống cũng đối mặt với rủi ro an ninh nghiêm trọng do đi qua nhiều khu vực, dễ trở thành mục tiêu của các nhóm vũ trang, đồng thời có thể bị kéo vào toan tính chính trị trong bối cảnh Iraq còn chia rẽ.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường

Trong cuộc hội đàm tại thủ đô New Delhi hôm nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhấn mạnh việc làm sâu sắc hơn quan hệ song phương sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh hai nước vẫn còn rất nhiều tiềm năng và lợi thế to lớn để mở rộng hợp tác, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và đề nghị hai bên tiếp tục tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp mở rộng hiện diện tại thị trường của nhau.
Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí nâng tầm quan hệ song phương lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường trên tinh thần "Chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất", mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ song phương.
Hai lãnh đạo đã thống nhất những định hướng chiến lược nhằm tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa các mặt hợp tác nhằm cụ thể hóa mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường.
Về chính trị và ngoại giao, hai bên nhất trí duy trì trao đổi đoàn cấp cao và tiếp xúc thường xuyên, phát huy các cơ chế hợp tác, trong đó có Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam - Ấn Độ.
Hai nước sẽ hướng tới thiết lập cơ chế Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng (2+2), cũng như triển khai Chương trình hành động Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2024 - 2028.
Về hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, hai lãnh đạo nhất trí tạo đột phá, gia tăng tính bổ trợ lẫn nhau theo phương châm cùng thắng, đôi bên cùng có lợi, nhất là trong tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Hai bên phấn đấu đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 25 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng, bền vững. Kim ngạch thương mại hai nước đạt hơn 16,4 tỷ USD vào năm 2025.
Hai bên sẽ tháo gỡ rào cản thương mại để tạo thuận lợi cho hàng hóa của nhau vào thị trường mỗi nước, trong đó có nông sản. Hai nước mở cửa thị trường cho sầu riêng Việt Nam và nho Ấn Độ, xúc tiến giải quyết các vấn đề kỹ thuật để mở cửa thị trường cho bưởi Việt Nam và lựu Ấn Độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Ấn Độ xem xét từng bước gỡ bỏ các quy định liên quan đến tiêu chuẩn của Cơ quan Tiêu chuẩn Ấn Độ (BIS) với hàng hóa Việt Nam.
Việt Nam cam kết đa dạng hóa nguồn cung và tăng nhập khẩu từ Ấn Độ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Hai nước thúc đẩy rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA), tăng cường hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí chung, bao gồm việc Ấn Độ tham gia các giếng mới, trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai bên khuyến khích thúc đẩy đầu tư hai chiều theo hướng chất lượng cao; tạo điều kiện thuận lợi để các tập đoàn lớn của nước này đầu tư vào nước kia với các dự án quy mô lớn, mang tính biểu tượng, nhất là trong các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng tái tạo, dược phẩm, công nghệ cao...
Về hợp tác quốc phòng - an ninh, hai bên nhấn mạnh đây là lĩnh vực có vai trò trụ cột quan trọng. Hai bên hoan nghênh việc triển khai ổn định các khoản tín dụng quốc phòng Ấn Độ dành cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam và thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.
Hai nước nhất trí thường xuyên tiến hành khảo sát thủy đạc chung ngoài khơi Việt Nam sau đợt khảo sát vào tháng 5/2025. Ấn Độ sẽ hỗ trợ Việt Nam đào tạo nhân lực quốc phòng và thành lập Công viên Phần mềm Lục quân tại Nha Trang.
Việt Nam - Ấn Độ cũng sẽ mở rộng hợp tác chống khủng bố, tội phạm công nghệ cao, lừa đảo trực tuyến và rửa tiền. Phía Ấn Độ cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo, huấn luyện và nâng cao năng lực quốc phòng, an ninh.
Về hợp tác hàng hải và khoa học - công nghệ, Ấn Độ mời Việt Nam cử sĩ quan liên lạc quốc tế tại Trung tâm Hợp nhất Thông tin khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) tại Gurugram, nhằm tăng cường nhận thức tình hình trên biển.
Thủ tướng Modi hoan nghênh hợp tác với Việt Nam trong xây dựng các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá tra, và tạo điều kiện cho hoạt động nhân giống và thu mua vẹm tại Ấn Độ.
Hai bên nhất trí thúc đẩy kết nối các nền tảng thanh toán bán lẻ thông qua mã QR, qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch và giao dịch kinh doanh giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi nhất trí lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cho giai đoạn phát triển mới của quan hệ.
Hai nước đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ mới, gồm hạ tầng số, 6G, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân, khoa học biển, công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu tiên tiến và khoáng sản thiết yếu.
Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam mời nước này tham gia vào lĩnh vực điện hạt nhân tại Việt Nam. Hai bên nhất trí xem xét mô hình phù hợp để Ấn Độ tiếp tục cung cấp Cobalt-60 cho Việt Nam.
Về y tế, hai bên nghiên cứu phương án để doanh nghiệp Ấn Độ tham gia đấu thầu cung cấp thuốc tại các cơ sở y tế công lập của Việt Nam từ năm 2027. Hai nước đề xuất Bản ghi nhớ về việc thành lập Trưởng Bộ môn y học cổ truyền Ấn Độ (Ayurveda) tại Việt Nam.
Về giáo dục, văn hóa, hai bên nhất trí củng cố nền tảng xã hội của quan hệ thông qua việc tăng cường hợp tác văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân; phát huy các giá trị tương đồng về văn hóa, lịch sử và tôn giáo; thúc đẩy kết nối hàng không, logistics và hợp tác giữa các địa phương, trung tâm kinh tế, công nghệ của hai nước.
Hai bên ghi nhận du lịch là động lực quan trọng thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng trưởng kinh tế; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ hợp tác du lịch và nhất trí khuyến khích phát triển du lịch hai chiều bền vững, bao trùm, bao gồm du lịch văn hóa và di sản, du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe và các loại hình khác.
Thủ tướng Modi mời du khách Việt Nam tới thăm Con đường Phật giáo tại Ấn Độ. Hoan nghênh việc tăng cường các chuyến bay thẳng giữa hai nước, hai bên khuyến khích cơ quan hàng không dân dụng của hai nước trao đổi nhằm tăng cường hơn nữa kết nối hàng không.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên khẳng định tiếp tục tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, nhất là Liên Hợp Quốc, ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.
Sau cuộc hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi đã chứng kiến lễ ký kết và trao nhiều văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, khoáng sản thiết yếu, y tế, du lịch và văn hóa, tài chính, an ninh mạng, hợp tác địa phương, kiểm toán.
Tin Gốc: Vnexpress

