Lời đe dọa này, giữa một cuộc chiến chưa có hồi kết, mở ra nhiều kịch bản leo thang khó lường.
Theo Hãng tin Reuters ngày 7-4, quân đội Mỹ đã tiến hành các cuộc không kích vào hàng chục mục tiêu quân sự của Iran trên đảo Kharg trong đêm 6-4 (giờ Mỹ).
Các đòn tấn công tập trung vào khu vực phía Bắc hòn đảo, nhằm vào các boongke, kho lưu trữ, hệ thống phòng không và nhiều cơ sở quân sự khác. Một số mục tiêu được cho là đã từng bị tấn công trước đó. Chiến dịch hoàn toàn được tiến hành từ trên không, không có sự tham gia của lực lượng bộ binh Mỹ, và không gây ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng dầu mỏ.
Đảo Kharg được xem là trung tâm xuất khẩu dầu quan trọng của Iran, đồng thời từng được nhắc đến như một địa điểm tiềm năng cho chiến dịch trên bộ của Mỹ.
Phát biểu tại Budapest (Hungary), Phó tổng thống Mỹ JD Vance khẳng định các cuộc không kích không phản ánh sự thay đổi trong chiến lược của Mỹ. Ông cho biết chính quyền Washington vẫn kỳ vọng nhận được phản hồi từ Iran trong các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột.
Diễn biến này xảy ra trong bối cảnh Tổng thống Trump liên tục đưa ra cảnh báo cứng rắn, bao gồm khả năng tấn công hoặc kiểm soát đảo Kharg. Trong một bài đăng trên mạng xã hội ngày 30-3, ông cho biết Mỹ có thể phá hủy “các nhà máy điện, giếng dầu và đảo Kharg”.
Mỹ từng tấn công hòn đảo này vào ngày 13-3, tuyên bố 90 mục tiêu trên đảo bị đánh trúng, gồm “hầm chứa tên lửa, kho thủy lôi cùng nhiều địa điểm quân sự khác”. Tổng thống Trump khi đó cho biết Mỹ đã tránh tấn công cơ sở hạ tầng dầu mỏ trên đảo.
Washington hiện yêu cầu Tehran từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân và mở lại eo biển Hormuz – tuyến vận tải dầu mỏ chiến lược. Ông Vance nhấn mạnh Mỹ sẽ chưa nhắm tới các mục tiêu năng lượng và hạ tầng, trừ khi Iran không đưa ra đề xuất phù hợp, cho thấy dư địa đàm phán vẫn đang được duy trì song song với sức ép quân sự.
Trong kịch bản lý tưởng với nhiều nước không can dự, Mỹ sẽ đưa xung đột đến hồi kết trong tối đa 6 – 8 tuần kể từ khi khai hỏa. Chính quyền Trump sẽ định nghĩa việc phá hủy cơ sở hạ tầng công nghiệp – quân sự, làm suy yếu chương trình tên lửa đạn đạo và chương trình hạt nhân của Iran là mục tiêu chung cuộc rồi tuyên bố chiến thắng.
Các vụ ám sát có mục tiêu nhằm vào giới quan chức chính trị và quân sự Tehran cũng có thể được đẩy mạnh – dù cho tới nay các hoạt động này chưa làm gián đoạn được năng lực phòng thủ và đánh trả của Iran.
Kịch bản thứ hai, hiện thực hơn, là liên minh Mỹ – Israel mở rộng phạm vi sang cơ sở hạ tầng kinh tế của Iran: nhà máy điện, cầu đường, mạng lưới giao thông, nhà máy xi măng, thép và khai thác mỏ – đúng như lời đe dọa của ông Trump và ông Hegseth. Mục tiêu chiến lược của các hành động này là tạo áp lực kinh tế diện rộng, kích động bất mãn xã hội để buộc Tehran chấp nhận đầu hàng.
Tuy nhiên phản ứng của Iran trước kịch bản này hoàn toàn có thể dự báo: các cơ sở hạ tầng tương ứng trong khu vực – đặc biệt những nơi có quan hệ đầu tư của Mỹ – sẽ hứng chịu các đòn trả đũa. Tehran vẫn còn hỏa lực hiệu quả với máy bay không người lái và tên lửa, đồng nghĩa với việc họ chưa mất đi vị thế thương lượng.
Và “lá bài tẩy” quan trọng nhất của Iran vẫn còn nguyên đó: eo biển Hormuz. Giới phân tích nhận định chừng nào Iran còn kiểm soát thực tế tuyến đường thủy chiến lược này, Mỹ sẽ không thể tuyên bố chiến thắng một cách thuyết phục.
Dù các kịch bản tiềm tàng có đề cập đến việc đánh chiếm đảo Kharg và các đảo dọc bờ biển Iran, ngay cả khi Mỹ đổ bộ bộ binh và chiếm giữ được các đảo này, điều đó vẫn chưa đủ để khai thông hoàn toàn eo biển. Bất kỳ can thiệp trực tiếp nào vào Hormuz đều có thể kích hoạt một giai đoạn mới mang tính chiến tranh tiêu hao, kéo dài ít nhất vài tháng mà không đảm bảo kết quả quyết định.
Tổng hòa các tính toán đó, cuộc chiến sẽ còn kéo dài. Những bước leo thang mạo hiểm mà ông Trump tuyên bố có nguy cơ đưa tới hệ lụy không chỉ các đối thủ, mà cả đồng minh của Washington, cũng phải gánh chịu cái giá ngày càng đắt – hệ quả trực tiếp của tình trạng mất phương hướng chiến lược ở Nhà Trắng.
Báo Wall Street Journal ngày 9/5 dẫn lời các quan chức Mỹ giấu tên cho biết Israel đã xây dựng một tiền đồn ở sa mạc trên lãnh thổ Iraq ngay trước khi xung đột Trung Đông bùng phát, nhằm hỗ trợ các cuộc tấn công nhằm vào Iran. "Washington đã biết về thông tin trên", một quan chức nói.
Căn cứ là nơi đồn trú của đặc nhiệm Israel, cũng là trung tâm hậu cần tiền phương cho không quân. Tel Aviv đã triển khai các đội tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn tại đây để đề phòng trường hợp phi công gặp nạn khi tham gia chiến dịch.
Căn cứ bí mật từng suýt bị phát hiện hồi đầu tháng 3. Truyền thông Iraq cho biết một người chăn cừu đã báo cáo về hoạt động quân sự bất thường ở khu vực, trong đó có các chuyến bay bằng trực thăng, khiến quân đội Iraq triển khai lực lượng đến điều tra.
"Quân đội Israel đã tiến hành các cuộc không kích nhằm ngăn binh sĩ Iraq tiếp cận căn cứ", một nguồn tin am hiểu vấn đề nói với Wall Street Journal.
Chính phủ Iraq khi đó đã lên án cuộc tấn công. "Chiến dịch liều lĩnh được thực hiện mà không có sự phối hợp hay phê duyệt", tướng Qais Al-Muhammadawi, phó chỉ huy Bộ tư lệnh Tác chiến Liên hợp Iraq, cho biết khi bình luận về những cuộc tập kích.
Ông thêm rằng sau khi nhận được thông tin, các binh sĩ Iraq đã dùng xe đa dụng Humvee để di chuyển tới khu vực lúc rạng sáng. Họ bị tấn công dữ dội, khiến một quân nhân thiệt mạng và hai người bị thương. Giới chức Iraq đã điều thêm hai đơn vị từ Cơ quan Chống khủng bố để tham gia tìm kiếm. Họ đã phát hiện bằng chứng cho thấy từng có lực lượng quân sự hiện diện ở đây.
"Dường như đã có đơn vị nào đó ở thực địa trước cuộc tấn công. Họ nhận được hỗ trợ từ trên không, các đơn vị của chúng tôi không đủ năng lực đối phó với hoạt động của họ", tướng Muhammadawi cho hay.
Cuộc đụng độ được truyền thông Iraq và các nước Arab đưa tin rộng rãi, làm dấy lên đồn đoán về danh tính của bên tấn công. Trong đơn khiếu nại gửi lên Liên Hợp Quốc hồi tháng 3, Iraq cho biết vụ tấn công "có sự tham gia của lực lượng nước ngoài" và quy trách nhiệm cho Mỹ. Dù vậy, nguồn tin của Wall Street Journal nói rằng Washington không liên quan cuộc tập kích.
Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) từ chối bình luận về thông tin của Wall Street Journal. Phát ngôn viên chính phủ Iraq không trả lời khi được hỏi liệu nước này có biết về căn cứ Israel hay không.
Thông tin về tiền đồn, trong đó có những rủi ro mà Israel chấp nhận để thiết lập và bảo vệ nó, đã hé lộ thêm về cách Tel Aviv tiến hành chiến dịch không kích đối thủ ở cách khoảng 1.600 km.
Xây dựng căn cứ ở Iraq giúp các đơn vị Israel áp sát chiến trường hơn, rút ngắn thời gian phản ứng và bổ sung phương án xâm nhập lãnh thổ đối phương.
Michael Knights, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của công ty tư vấn chiến lược Horizon Engage, chỉ ra rằng vùng sa mạc phía tây Iraq rất rộng lớn và có dân cư thưa thớt, khiến nó trở thành địa điểm lý tưởng để xây dựng tiền đồn bí mật. "Trinh sát và thiết lập các địa điểm như vậy trước khi phát động chiến dịch là điều bình thường", ông nói.
Theo Hãng tin AFP, Ngoại trưởng Tây Ban Nha Jose Manuel Albares ngày 9-4 tuyên bố Madrid sẽ mở lại đại sứ quán tại Iran, đồng thời cáo buộc Israel vi phạm luật pháp quốc tế và thỏa thuận ngừng bắn hai tuần ở Trung Đông khi tiến hành không kích vào Lebanon.
Phát biểu trước báo giới, ông Albares cho biết đã chỉ đạo đại sứ Tây Ban Nha tại Tehran quay lại nhiệm sở, khôi phục hoạt động đại sứ quán, nhằm tham gia các nỗ lực thúc đẩy hòa bình trong khu vực từ "mọi hướng có thể", kể cả từ thủ đô Iran.
Trước đó tại phiên họp hạ viện, ông Albares chỉ trích Israel "phớt lờ lệnh ngừng bắn và vi phạm luật pháp quốc tế" khi thả "hàng trăm quả bom xuống Lebanon" trong ngày 8-4.
Tây Ban Nha hiện là một trong những quốc gia phương Tây có lập trường cứng rắn nhất đối với các hoạt động quân sự của Mỹ và Israel tại Iran và Lebanon.
Madrid cũng đã đóng cửa không phận với các máy bay liên quan đến xung đột, cho rằng đây là hành động "liều lĩnh và bất hợp pháp".
Cùng ngày, Anh cũng bày tỏ quan ngại về tình hình leo thang tại Lebanon. Ngoại trưởng Anh Yvette Cooper cho biết London "rất mong muốn" lệnh ngừng bắn được mở rộng sang Lebanon, trước những hậu quả nhân đạo nghiêm trọng và làn sóng di dời quy mô lớn.
Phát biểu này được đưa ra trong chuyến công du vùng Vịnh của Thủ tướng Anh Keir Starmer, nhằm thúc đẩy các nỗ lực củng cố lệnh ngừng bắn và hướng tới một giải pháp hòa bình lâu dài.
Dù thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ - Iran đã được công bố trước đó, hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz chiến lược vẫn chưa được khôi phục hoàn toàn do vẫn còn xung đột tại Lebanon.
Anh kêu gọi mở lại tuyến đường thủy này một cách "đầy đủ và vô điều kiện", đồng thời nhấn mạnh không được phép áp đặt phí hoặc hạn chế đối với tuyến vận tải quốc tế quan trọng.
Trong khi đó tại Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ning cho biết nước này hy vọng "các bên liên quan có thể nắm bắt cơ hội hòa bình và sớm đưa khu vực trở lại ổn định" sau khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn
Theo bà Mao, Trung Quốc đã duy trì liên lạc với tất cả các bên và tích cực thúc đẩy hòa giải nhằm ngăn chặn xung đột lan rộng. Bắc Kinh cũng nhấn mạnh các bất đồng cần được giải quyết thông qua đối thoại và tham vấn.
Liên quan đến Lebanon, Trung Quốc nhấn mạnh chủ quyền và an ninh của quốc gia này cần được tôn trọng, đồng thời kêu gọi bảo đảm an toàn cho dân thường và hạ nhiệt căng thẳng khu vực.
Chuyên trang quân sự War Zone ngày 27/4 đăng ảnh một mảnh thân vỏ tên lửa không đối không tầm trung AIM-120C-8 do Mỹ sản xuất. Mảnh vỡ được tìm thấy sau cuộc không kích của Nga nhằm vào thành phố Dnipro, miền trung Ukraine, nhưng không rõ mục tiêu đánh chặn và thời điểm diễn ra sự việc.
"Đây dường như là lần đầu có thông tin xác nhận rằng Ukraine đã sở hữu tên lửa AIM-120C-8, bên cạnh các biến thể AIM-120B đời cũ", bình luận viên Thomas Newdick của War Zone cho hay. Các hình ảnh được công bố hồi năm ngoái cho thấy tiêm kích F-16 Ukraine mang tên lửa AIM-120C, song khi đó chưa thể xác định đây là phiên bản gì.
Quân đội Ukraine chưa bình luận về thông tin.
AIM-120C-8 có giá ước tính 2-2,4 triệu USD mỗi quả, là biến thể hiện đại nhất dành cho xuất khẩu của dòng tên lửa AMRAAM.
Quân đội Mỹ không tiết lộ thông số kỹ thuật của AIM-120C-8, nhưng phiên bản này được cho là đạt tầm bắn tối đa 120-160 km, tùy bệ mang phóng. Các biến thể AMRAAM có thể trang bị cho tiêm kích F-16 hoặc tổ hợp phòng không NASAMS trong biên chế quân đội Ukraine. Chưa rõ mảnh vỡ được tìm thấy là của tên lửa phóng từ F-16 hay NASAMS.
"Đối với chiến đấu cơ F-16, tầm quan trọng của AMRAAM là không thể phủ nhận. Đây là dòng tên lửa đối không mang đầu dò radar chủ động đầu tiên được Ukraine đưa vào sử dụng, đồng thời là loại vũ khí mà họ từng vận động suốt thời gian dài để được sở hữu", Newdick cho hay.
Trước khi tiếp nhận chiến đấu cơ F-16 và AMRAAM, các phi công Ukraine cho biết thiếu tên lửa mang đầu dò radar chủ động là vấn đề lớn nhất đối với không quân nước này trong xung đột với Nga.
Hãng thông tấn Reuters hồi tháng 3 dẫn ba nguồn tin giấu tên, những người nắm trực tiếp tình hình, tiết lộ phi đội F-16 Ukraine đã gặp tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng tên lửa đối không trong giai đoạn tháng 11-12/2025, giữa lúc Nga chuẩn bị mở chiến dịch tập kích quy mô lớn trong mùa đông.
Những hình ảnh được không quân Ukraine công bố hồi cuối năm 2025 cho thấy tiêm kích F-16 chỉ còn lắp tên lửa đối không tầm ngắn AIM-9L/M đời cũ, được sản xuất từ thập niên 1970-1980, không còn mang đạn tầm trung AIM-120B/C hay AIM-9X hiện đại nhất do Mỹ viện trợ như giai đoạn đầu tham chiến.
Tình trạng thiếu tên lửa buộc phi công F-16 Ukraine dùng pháo nòng xoay 20 mm để hạ máy bay không người lái (UAV) của Nga và chuyển sang làm nhiệm vụ ban ngày. Thực hiện nhiệm vụ này trong đêm rất nguy hiểm, dù Nga thường tập kích vào buổi đêm và rạng sáng.
Các phi công Ukraine cũng phải dùng lại tên lửa "phóng xịt", không hoạt động trong những lần đánh chặn trước, với hy vọng chúng sẽ khai hỏa thành công sau khi được bảo dưỡng.