Con số này rất lớn vì cả nước chỉ có 1,1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Ngành thuế đang phát động chiến dịch “Làm sạch mã số thuế” nhằm đưa số liệu doanh nghiệp đang hoạt động về con số thực.
Thuế cơ sở 8 tỉnh Phú Thọ vừa thông báo sẽ tạm hoãn xuất cảnh với người đại diện pháp luật của Công ty TNHH Vương Duy do doanh nghiệp còn nợ 600 đồng tiền thuế tính đến ngày 6-4. Sau 30 ngày kể từ ngày thông báo (tức ngày 6-5), nếu chưa nộp đủ số nợ thuế này, người đại diện pháp luật doanh nghiệp có thể bị tạm hoãn xuất cảnh.
Tương tự, theo thông báo của Thuế cơ sở 5 tỉnh Quảng Ninh, Công ty TNHH xây dựng và thương mại Đông Á 75 còn nợ 82.800 đồng tiền thuế đã quá hạn 90 ngày, tính đến ngày 29-4. Nếu sau 30 ngày, doanh nghiệp không nộp đủ số tiền nói trên, giám đốc công ty là ông Lê Đức Nghiệp sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh.
Tại Cần Thơ, Thuế cơ sở 2 cũng thông báo sẽ tạm hoãn xuất cảnh với người đại diện pháp luật của Công ty TNHH thương mại dịch vụ Giàu Hưng Thịnh do doanh nghiệp nợ thuế 43.757 đồng đã quá hạn 90 ngày tính đến ngày 15-4.
Trên cổng thông tin của cơ quan thuế các địa phương, danh sách người nộp thuế bị thông báo tạm hoãn xuất cảnh kéo dài với nhiều trường hợp nợ từ vài trăm đồng đến hàng chục tỉ đồng. Điểm chung là hầu hết các khoản nợ đã quá hạn và người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một công chức thuế phụ trách doanh nghiệp tại một tỉnh phía Bắc cho biết phần lớn chủ hộ kinh doanh, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh là do doanh nghiệp, hộ kinh doanh nợ thuế và không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Theo quy định, trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, có khoản nợ thuế quá hạn 90 ngày và sau 30 ngày kể từ khi được thông báo vẫn chưa khắc phục có thể bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh.
Trước khi áp dụng biện pháp này, cơ quan thuế gửi giấy mời doanh nghiệp lên làm việc, thông báo số nợ, thậm chí phối hợp với chính quyền địa phương xác minh doanh nghiệp và người đại diện pháp luật theo thông tin đăng ký kinh doanh.
“Có nhiều khoản nợ thuế nhưng kéo dài nhiều năm. Cơ quan thuế gửi thông báo nhưng không nhận được phản hồi. Chi phí in ấn, xác minh, gửi thông báo tốn rất nhiều thời gian và công sức mà vẫn không thu hồi được nợ do doanh nghiệp “biến mất” khỏi địa chỉ đăng ký”, vị này nói.
Theo Bộ Tài chính, cả nước có gần 1 triệu trường hợp nợ thuế nhưng không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, trong đó khoảng 496.000 trường hợp có số nợ dưới 1 triệu đồng. Do đó, tại dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, Bộ Tài chính đề xuất chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với trường hợp nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên.
Theo Cục Thuế, thời gian qua nhiều ý kiến cho rằng ngưỡng 1 triệu đồng là quá thấp, song đây thực chất là bước “nới lỏng” so với quy định hiện hành. “Việc bổ sung ngưỡng từ 1 triệu đồng nhằm loại trừ các khoản nợ rất nhỏ phát sinh do sai sót kỹ thuật, chậm cập nhật dữ liệu hoặc nguyên nhân khách quan”, Cục Thuế nêu.
Cơ quan này cũng cho rằng nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện nay, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể ảnh hưởng tới số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Tuy nhiên, điều khiến nhiều người nộp thuế lo ngại là tình trạng dữ liệu cập nhật chậm. Thực tế đã có trường hợp người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, được cơ quan thuế ra thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh nhưng khi ra sân bay vẫn chưa thể xuất cảnh do dữ liệu chưa kịp cập nhật.
Cục Thuế cho biết biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế. Người nộp thuế phải thuộc diện không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, đã được cơ quan thuế gửi thông báo và quá 30 ngày vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế thì mới bị xem xét áp dụng.
Thông báo sẽ được gửi qua tài khoản giao dịch thuế điện tử của người nộp thuế hoặc cá nhân liên quan, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế. Quy định này nhằm giúp người nộp thuế chủ động khắc phục trước khi có kế hoạch xuất cảnh, tránh tình trạng đến cửa khẩu hoặc sân bay mới biết mình bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế.
“Khoảng thời gian 30 ngày là hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu số nợ, nộp tiền thuế hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý sai sót dữ liệu nếu có”, Cục Thuế nhận định và cho biết đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động hoàn thành nghĩa vụ để được hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Tuy nhiên, một công chức thuế phụ trách doanh nghiệp cho biết mỗi cán bộ hiện quản lý hàng trăm đơn vị nên việc cập nhật đôi khi chưa thể thực hiện ngay lập tức. “Khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, cơ quan thuế nắm được sẽ lập tức gửi thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh lên hệ thống điện tử của Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an)”, vị này nói.
Ngành thuế vừa phát động chiến dịch làm sạch dữ liệu nhằm loại bỏ số doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã “chết nhưng chưa được chôn”, doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp bỏ trốn. Theo thống kê, có gần 1 triệu doanh nghiệp, hộ kinh doanh nằm trong danh sách này. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đang có nợ thuế, với món nợ chỉ vài đồng.
Theo một lãnh đạo Cục Thuế, việc làm sạch dữ liệu này nhằm chuẩn hóa và giảm thiểu số lượng người nộp thuế ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc bỏ địa chỉ đã đăng ký kinh doanh.
Những năm qua, số lượng lũy kế doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế tiếp tục gia tăng. Chưa kể tình trạng người nộp thuế bỏ địa chỉ kinh doanh để trốn tránh nghĩa vụ thuế diễn ra ở nhiều địa bàn, ngành nghề kinh doanh.
“Đây là một trong những điểm nghẽn lớn trong công tác quản lý thuế, làm gia tăng hồ sơ tồn đọng, kéo dài thời gian xử lý thủ tục hành chính, đồng thời gây lãng phí nguồn lực xã hội và ảnh hưởng đến tính minh bạch của môi trường kinh doanh”, vị này nói.
Bên cạnh đó, việc tồn tại danh sách này còn tác động trực tiếp đến người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật và tiềm ẩn rủi ro thất thu ngân sách nhà nước, làm phát sinh nhiều rủi ro pháp lý đối với chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, chủ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khi không thực hiện hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định.
“Thực tiễn quản lý cho thấy một bộ phận đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh để thành lập pháp nhân không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất. Lợi dụng sử dụng hóa đơn không hợp pháp để hợp thức hóa chi phí, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước, môi trường đầu tư, kinh doanh và hiệu lực quản lý thuế”, vị này nhấn mạnh.
Do vậy, theo Cục Thuế, việc triển khai “Chiến dịch làm sạch mã số thuế – Tháo gỡ điếm nghẽn trong kinh doanh” trong toàn ngành thuế là cần thiết, cấp bách, nhằm xử lý thực chất hồ sơ tồn đọng, tháo gỡ khó khăn cho người nộp thế có thiện chí tuân thủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, kiểm soát rủi ro ngay từ đầu vào.
“Chiến dịch này cũng đồng thời tạo chuyển biến rõ nét trong quản trị dữ liệu, quản lý rủi ro và phối hợp liên ngành trong công tác quản lý thuế hiện đại”, Cục Thuế khẳng định.
Đây được xem là diễn đàn để nhận diện thực trạng, đồng thời đề xuất giải pháp tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, hướng đến nâng cao giá trị hạt gạo và xây dựng thương hiệu cho Cà Mau cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Phát biểu khai mạc, ông Lê Văn Sử - Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết Cà Mau có nhiều tiềm năng phát triển ngư, nông, lâm nghiệp. Diện tích lúa toàn tỉnh hơn 185.000ha, trong đó khoảng 50% là mô hình lúa - tôm, sản lượng đạt khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm.
Tuy nhiên tỉ lệ liên kết sản xuất và tiêu thụ còn thấp, mới đạt khoảng 16,7% sản lượng. Tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra, mối liên kết giữa các bên còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc pháp lý. Hạ tầng, logistics và cơ giới hóa chưa đồng bộ cũng là rào cản lớn.
Việc triển khai các mô hình lúa chất lượng cao, lúa an toàn, lúa hữu cơ và đặc biệt là mô hình lúa giảm phát thải bước đầu mang lại hiệu quả. Dù vậy quy mô còn hạn chế. Tỉnh đăng ký thực hiện 54.680ha lúa giảm phát thải đến năm 2030 nhưng hiện mới triển khai khoảng 1.380ha, liên kết tiêu thụ trong các mô hình này vẫn chưa ổn định.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến đề xuất cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã; thu hút doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số; phát triển các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh.
Tiến sĩ Trần Minh Hải - Phó hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn - nhìn nhận nông nghiệp Việt Nam nhiều năm qua vẫn đối mặt nghịch lý "được mùa, rớt giá", chi phí đầu vào tăng cao, rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, nông dân dư thừa sản phẩm nhưng doanh nghiệp lại thiếu nguyên liệu đạt chuẩn.
Theo ông Hải, nguyên nhân nằm ở sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết và chưa gắn với tín hiệu thị trường. Do đó phát triển chuỗi giá trị với sự tham gia của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là hướng đi tất yếu để giải bài toán bền vững.
Ở góc độ doanh nghiệp, cha đẻ thương hiệu gạo ST25 Hồ Quang Cua nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đăng ký và bảo hộ thương hiệu. Theo ông, đây không chỉ là thủ tục hành chính mà là "lá chắn pháp lý" để bảo vệ sản phẩm, nhất là trong bối cảnh hội nhập.
Ông cảnh báo nếu không đăng ký bảo hộ tại thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp có thể mất quyền sử dụng chính thương hiệu của mình ở nước ngoài, điều từng xảy ra với nhiều nông sản Việt Nam.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, liên kết sản xuất và tiêu thụ giúp giảm phụ thuộc thương lái, cắt giảm khâu trung gian, tăng lợi nhuận cho các bên và giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm an toàn, rõ nguồn gốc với giá hợp lý.
Hiện đã có nhiều doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, cung cấp giống, kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên số doanh nghiệp đầu tư sâu còn ít. Tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá thị trường biến động vẫn phổ biến.
Một khó khăn khác là hạ tầng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp chưa đồng bộ. Nhiều công trình thủy lợi, giao thông nội đồng xuống cấp, ảnh hưởng đến việc chủ động nước, cơ giới hóa và vận chuyển nông sản.
Để khắc phục, ngành nông nghiệp tỉnh đề xuất khuyến khích doanh nghiệp liên kết với hợp tác xã trên cơ sở cùng có lợi; thúc đẩy tín dụng theo chuỗi giá trị; nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Phát biểu bế mạc, ông Lê Văn Sử - Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết hoạt động liên kết thời gian qua đã có chuyển biến tích cực, diện tích liên kết mở rộng, số doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia tăng, góp phần nâng giá trị sản xuất và ổn định đầu ra.
Thời gian tới, Cà Mau xác định phát triển ngành lúa gạo theo hướng bền vững, chất lượng cao, phát thải thấp, thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó tập trung phát triển mô hình sinh thái như tôm - lúa, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung có truy xuất nguồn gốc.
Tỉnh cũng xác định đẩy mạnh liên kết "4 nhà", trong đó hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, nông dân là chủ thể sản xuất.
Tại hội thảo, các doanh nghiệp và hợp tác xã đã ký kết nhiều biên bản ghi nhớ hợp đồng bao tiêu và liên kết sản xuất, mở ra kỳ vọng cải thiện chuỗi giá trị ngành lúa gạo trong thời gian tới.
Tại diễn đàn "Kết nối FDI 2026" chiều 24/4, ông Phạm Hoàng Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, cho biết tỉnh xác định chuyển sang thu hút đầu tư nước ngoài chọn lọc, đặt chất lượng và tính bền vững làm tiêu chí hàng đầu.
Ông Sơn tiết lộ tỉnh đã chuẩn bị sẵn khoảng 500 ha quỹ đất sạch trong các khu công nghiệp. Quỹ đất này đã được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, tiếp nhận được ngay dự án quy mô lớn, công nghệ cao. "Thủ phủ sản xuất công nghiệp" dự tính bổ sung 500 ha tiếp theo trong năm nay.
Về lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, ông Phạm Văn Thịnh, Phó chủ tịch tỉnh, cho biết họ có lợi thế với lĩnh vực công nghiệp, điện tử, với nhiều nhà cung ứng cho Samsung, Apple. Một số "đại bàng" bán dẫn cũng chọn "làm tổ" tại địa phương như Amkor, Hana Micron. Dự kiến cuối quý IV, nhà máy đúc chip đầu tiên tại tỉnh sẽ đi vào hoạt động.
Từ thực tế trên, Bắc Ninh kỳ vọng hình thành được một cụm ngành chiến lược về bán dẫn hoàn thiện, từ sản xuất tấm wafer (tấm bán dẫn), đóng gói, kiểm thử, cùng các ngành hóa chất phục vụ công nghiệp bán dẫn.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng muốn thu hút các lĩnh vực phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI), robotics, thiết bị bay không người lái, sản xuất linh kiện hàng không, nhằm phục vụ cho các ngành công nghệ mới và dự án sân bay quốc tế Gia Bình trong tương lai. Việc thu hút FDI chất lượng cao, hướng tới xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện đại được kỳ vọng giúp địa phương nói riêng và Việt Nam nói chung tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chia sẻ "bí quyết" thu hút được doanh nghiệp nước ngoài chất lượng cao, ông Thịnh cho biết cách hiệu quả nhất là "chăm lo cho các nhà đầu tư hiện hữu", từ đó lan tỏa niềm tin vào môi trường đầu tư. "Nếu họ chỉ ra được địa phương nào làm tốt hơn, chúng tôi sẽ nỗ lực làm tương tự", ông Thịnh nói.
Về thể chế và môi trường đầu tư, Bắc Ninh triển khai cơ chế "luồng xanh" trong giải quyết thủ tục hành chính, nhằm rút ngắn thời gian xử lý, kịp thời hỗ trợ các dự án trọng điểm.
Họ là địa phương thu hút FDI lớn thứ hai cả nước năm 2025. Đến nay, tỉnh thu hút hơn 3.500 dự án từ 46 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký trên 49 tỷ USD. Khu vực FDI đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế của tỉnh, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GRDP, với mức tăng hơn 10% năm 2025 và 9,8% trong quý I.
Ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCC) lưu ý việc thu hút FDI cần được nhìn nhận rõ thách thức. Một trong những thách thức lớn là mức độ liên kết giữa doanh nghiệp ngoại và nội còn hạn chế, dẫn tới tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành thấp, số doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi giá trị còn nhỏ.
Đồng tình với ý kiến trên, ông Kim In Woo, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KoCham), cho biết khi mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội được tăng cường, đồng thời doanh nghiệp nội nâng cao được năng lực về quản lý chất lượng, sản xuất, giao hàng, chuỗi cung ứng sẽ trở nên bền vững và cạnh tranh hơn.
Ông Kim cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh tập trung vào các ngành công nghệ cao, việc chỉ dựa vào năng lực gia công, lắp ráp sẽ khó có thể đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững. Ông khuyến nghị Việt Nam chú trọng nâng cao độ chính xác của quy trình sản xuất, hệ thống quản lý chất lượng, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, cũng như phát triển đội ngũ kỹ sư và cán bộ quản lý trung cấp.
Bên cạnh đó, tính dự báo của chính sách và sự nhất quán trong thực thi hành chính ngày càng trở nên quan trọng. Ông cũng lưu ý rằng doanh nghiệp FDI hiện không chỉ dựa vào các chính sách ưu đãi khi đưa ra quyết định đầu tư, mà quan tâm đến khả năng vận hành ổn định trong môi trường pháp lý minh bạch, nhất quán, có tính đoán định.
TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh định hướng chiến lược trong hợp tác đầu tư nước ngoài của Việt Nam là thu hút FDI có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả và tính lan tỏa làm trung tâm. Đồng thời, nhà điều hành coi liên kết giữa FDI và doanh nghiệp nội là điểm nghẽn lớn nhất cần được tháo gỡ. Do đó, Việt Nam sẽ tập trung phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, đồng thời thiết kế các cơ chế phù hợp để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tiến tới hình thành các chuỗi giá trị để doanh nghiệp Việt tham gia sâu và thực chất hơn.
Ngày 10-4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố báo cáo Triển vọng phát triển châu Á tháng 4-2026. Ấn phẩm kinh tế thường niên chủ chốt của ADB tiếp tục duy trì triển vọng tích cực cho Việt Nam trong ngắn hạn.
Kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng 7,2% trong năm 2026, và 7,0% trong năm 2027 so với mức 8,0% năm 2025.
Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam, ông Shantanu Chakraborty, đánh giá dự báo của ADB với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn nằm trong tốp tích cực và cao nhất ở Đông Nam Á, cho thấy rõ khả năng phục hồi của nền kinh tế, bất chấp những thách thức chung mà nhiều nước đang phải đối mặt.
Chính phủ Việt Nam, theo nhận định của ông Chakraborty, đã phản ứng nhanh chóng trước tình trạng gián đoạn nguồn cung năng lượng do xung đột tại Trung Đông gây ra.
Các biện pháp tài khóa có thời hạn, bao gồm giảm thuế, sử dụng quỹ bình ổn, kết hợp với điều hành giá linh hoạt và tăng cường phối hợp đảm bảo nguồn cung, đã góp phần kìm chế áp lực lạm phát trong ngắn hạn và hỗ trợ tăng trưởng.
Mặc dù vậy, rủi ro suy giảm vẫn ở mức đáng kể, theo ADB. Cuộc xung đột kéo dài tại Trung Đông có thể làm gián đoạn dòng chảy dầu, khí và phân bón qua eo biển Hormuz, làm tăng chi phí vận chuyển và gây chậm trễ. Cùng với xung đột tại Ukraine, các diễn biến này làm gia tăng biến động giá hàng hóa và tiếp tục gây áp lực lên chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tăng trưởng chậm lại tại các đối tác thương mại lớn cũng có thể thu hẹp thặng dư thương mại và làm giảm tốc độ tăng trưởng của Việt Nam.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, giám đốc quốc gia ADB khuyến nghị Việt Nam cần tập trung vào việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, tăng cường thị trường tài chính và vốn để đảm bảo các nhà đầu tư tiếp cận được vốn dài hạn.
"Cuối cùng, điều quan trọng nhất và đã được nêu bật bởi cuộc khủng hoảng gần đây, là tập trung vào an ninh năng lượng, chuyển đổi sang năng lượng xanh và sạch, tự chủ năng lượng để giảm thiểu tác động của bất kỳ yếu tố ngoại lai nào trong tương lai", ông Chakraborty nêu khuyến nghị.
Theo giám đốc quốc gia ADB, năm 2025 chứng kiến sự thay đổi đáng kể trong cải cách môi trường kinh doanh tại Việt Nam, với Nghị quyết 68 đặt khu vực tư nhân làm trọng tâm tăng trưởng của đất nước.
Nghị định 242 về cơ bản đã đơn giản hóa quy trình vay vốn ODA, do đó sự chồng chéo các thủ tục phê duyệt, nhu cầu xin phê duyệt từ nhiều nguồn khác nhau và cách tiếp cận theo từng giai đoạn trong việc chuẩn bị dự án đã được cải thiện đáng kể.
Thêm vào đó, việc phân cấp, phân quyền cho các tỉnh, thành cũng được thực hiện ở mức tốt hơn trước và vẫn còn rất nhiều dư địa để nâng cao hiệu quả và năng suất của cơ cấu quản trị. Các tỉnh, theo ông Chakraborty, cần được trang bị kỹ năng tốt hơn nữa để các dự án chất lượng cao có thể thu hút các nhà cho vay, tài trợ quốc tế, đặc biệt trong tiến độ chuẩn bị dự án.
"Với bộ máy lãnh đạo mới hiện nay và các mục tiêu tăng trưởng GDP rất tham vọng, tôi nghĩ rằng trọng tâm thực sự nên là rút ngắn khoảng thời gian từ khi bắt đầu chuẩn bị dự án đến khi sẵn sàng triển khai để vốn có thể chảy vào. ADB sẵn sàng hỗ trợ bằng mọi cách có thể để đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị dự án", ông Chakraborty nhấn mạnh.