Khối u gây biến dạng toàn bộ tử cung, rong kinh kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống người bệnh.
U xơ lớn như thai 3 tháng khiến tử cung biến dạng
Bệnh nhân là chị P.Y.P. (43 tuổi) vốn có sức khỏe ổn định, từng sinh mổ hai lần. Tuy nhiên thời gian gần đây, chị liên tục bị rong kinh kéo dài, kèm cảm giác đau tức vùng hạ vị. Tình trạng đau tăng dần theo thời gian, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Khi thăm khám tại Vinmec Đà Nẵng, các bác sĩ ghi nhận tử cung của bệnh nhân to bất thường, vượt trên rốn khoảng 4cm. Kết quả siêu âm cho thấy người bệnh mắc đa nhân xơ tử cung, với nhiều khối u, trong đó đáng chú ý với khối u có kích thước lớn lên tới 11 x 6cm, tương đương thai nhi khoảng 3 tháng tuổi.
Không chỉ làm biến dạng cấu trúc tử cung, đây còn là nguyên nhân gây rong kinh kéo dài, đau vùng chậu và tiềm ẩn nguy cơ thiếu máu nặng nếu không được can thiệp kịp thời.
Sau khi hội chẩn chuyên sâu, ê-kíp Sản phụ khoa Vinmec Đà Nẵng đánh giá đây là trường hợp đa nhân xơ tử cung phức tạp, kích thước lớn, triệu chứng đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe người bệnh. Vì vậy, các bác sĩ đã chọn phương án cắt tử cung toàn phần kèm hai phần phụ, nhằm xử trí triệt để và đảm bảo an toàn lâu dài.
Ca phẫu thuật do ThS.BSCKII Doãn Thanh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Sản và Hỗ trợ sinh sản kiêm Trưởng khoa Sản phụ, BSCKI Trương Nghĩa Bình, BSCKI Nguyễn Thị Mận và ê-kíp gây mê hồi sức phối hợp thực hiện.
Theo các bác sĩ, đây là ca mổ có độ khó cao do tử cung đã biến dạng nghiêm trọng, trong khi bệnh nhân có tiền sử sinh mổ hai lần, làm tăng nguy cơ dính và tổn thương các cơ quan lân cận. Bên cạnh đó, hệ thống mạch máu nuôi phong phú, cũng khiến nguy cơ mất máu trong mổ tăng cao, đòi hỏi ê-kíp phải thao tác chính xác và kiểm soát chặt chẽ từng bước.
Với kinh nghiệm xử trí nhiều ca bệnh phức tạp, ê-kíp đã bóc tách cẩn thận vùng dính, kiểm soát tốt hệ thống mạch máu và hoàn tất phẫu thuật an toàn.
Ngay sau mổ, bệnh nhân tỉnh táo, sinh hiệu ổn định và hồi phục tích cực. Tình trạng rong kinh kéo dài chấm dứt, cảm giác đau tức vùng bụng dưới cải thiện rõ rệt. Người bệnh có thể sớm vận động và trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường.
Theo ThS.BSCKII Doãn Thanh Tuấn, u xơ tử cung là bệnh lý lành tính thường gặp ở phụ nữ. Tuy nhiên, khi khối u phát triển lớn hoặc xuất hiện đa nhân, có thể gây nhiều biến chứng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
“Việc thăm khám định kỳ và can thiệp đúng thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng trong kiểm soát bệnh hiệu quả”, bác sĩ Tuấn cho biết.
Dấu ấn của ê-kíp nhiều kinh nghiệm trong xử trí các ca sản phụ khoa khó
Ca bệnh tiếp tục nối dài dấu ấn chuyên môn trong hơn ba thập kỷ gắn bó với lĩnh vực Sản và Hỗ trợ sinh sản của ThS.BSCKII Doãn Thanh Tuấn.
Bác sĩ Tuấn tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại Đại học Y Huế, sau đó hoàn thành chương trình Thạc sĩ Y khoa và Bác sĩ Chuyên khoa II tại Đại học Huế. Trong quá trình công tác, ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng tại các bệnh viện lớn, đồng thời tích cực tham gia đào tạo và chuyển giao chuyên môn cho đội ngũ bác sĩ trẻ.
Với nhiều đóng góp nổi bật trong công tác chuyên môn và quản lý, ông nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và nhận bằng khen của Sở Y tế.
Nhờ nền tảng chuyên môn vững vàng cùng kinh nghiệm thực tiễn dày dặn, bác sĩ Doãn Thanh Tuấn được nhiều người bệnh tin tưởng và giới chuyên môn đánh giá cao.
Ngoài ra, ông có thế mạnh trong điều trị các bệnh lý thai nghén, thai kỳ nguy cơ cao, cũng như nhiều bệnh lý phụ khoa khó như u xơ tử cung, u nang buồng trứng, thai ngoài tử cung, sa sinh dục… Bác sĩ cũng thực hiện thành thạo nhiều kỹ thuật phẫu thuật chuyên sâu như cắt tử cung đường âm đạo, phẫu thuật nội soi phụ khoa.
Đồng hành cùng bác sĩ Tuấn trong các ca mổ là BSCKI Trương Nghĩa Bình, người có nhiều năm kinh nghiệm trong thăm khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh lý sản phụ khoa. Bác sĩ Bình tốt nghiệp Đại học Y Dược Huế và hoàn thành chương trình Bác sĩ Chuyên khoa I Sản phụ khoa. Ông thường xuyên tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu nhằm cập nhật kiến thức và kỹ thuật mới.
Bác sĩ Bình có thế mạnh trong theo dõi và quản lý thai kỳ từ nguy cơ thấp đến nguy cơ cao, triển khai nhiều kỹ thuật can thiệp và phẫu thuật như mổ lấy thai nhiều lần có dính, nội soi điều trị thai ngoài tử cung, bóc u xơ tử cung, cắt tử cung…
Với sự dẫn dắt của ThS.BSCKII Doãn Thanh Tuấn, Trung tâm Sản và Hỗ trợ sinh sản Vinmec Đà Nẵng đang phát triển theo hướng chuyên sâu, toàn diện, tập trung cá thể hóa phác đồ điều trị cho từng người bệnh. Nhờ đó, người dân Đà Nẵng và khu vực miền Trung có cơ hội tiếp cận các kỹ thuật hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục.
Cô gái 17 tuổi ở An Phú, Tp.HCM vừa được các bác sĩ BVĐK Bình Dương cứu sống sau ca phẫu thuật khẩn cấp do chấn thương vùng bụng, mất nhiều máu.
Thông tin ban đầu trước đó, tối 11/4, bệnh nhân được đưa vào cấp cứu trong tình trạng sốc mất máu nặng, da niêm mạc nhợt, mạch nhanh khoảng 150 lần/phút, huyết áp còn 50/30 mmHg.
Đặc biệt vùng bụng có nhiều vết thương đang chảy máu. Đây là tình huống cấp cứu tối khẩn, đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh. Ngay khi tiếp nhận, ê kíp trực đã kích hoạt quy trình báo động đỏ, chuyển người bệnh thẳng vào phòng mổ để phẫu thuật cấp cứu kiểm soát chảy máu. Trong quá trình mổ, các bác sĩ ghi nhận ổ bụng có khoảng 2 lít máu.
Qua thăm dò, phát hiện nhiều tổn thương nặng như rách tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh mạch thận trái, tổn thương bó mạch mạc treo tràng trên, thủng đại tràng ngang và nhiều vị trí ruột non. Đây đều là những tổn thương phức tạp, đặc biệt khi xảy ra đồng thời trên một người bệnh đang trong tình trạng sốc.
Ê-kíp phẫu thuật phải vừa kiểm soát chảy máu từ các mạch máu lớn, vừa xử trí tổn thương đường tiêu hóa trong điều kiện huyết động không ổn định. Ca mổ được thực hiện dưới sự chỉ đạo của BS.CKII Lê Ngọc Hà, Trưởng khoa Ngoại tổng hợp, BVĐK Bình Dương với sự phối hợp của nhiều chuyên khoa.
Theo các bác sĩ, đây là trường hợp bệnh nhân nặng, nguy cơ tử vong cao nếu không được can thiệp kịp thời.
Sau phẫu thuật, người bệnh tiếp tục được hồi sức tích cực, truyền máu khối lượng lớn, sử dụng thuốc vận mạch và theo dõi sát các chỉ số sinh tồn. Những ngày đầu sau mổ, tình trạng còn nặng, nhưng dần có cải thiện.
Sau 10 ngày, cô gái 17 tuổi ăn uống, ngồi dậy được và xuất viện.
Theo các bác sĩ, những trường hợp chấn thương bụng kèm tổn thương mạch máu lớn thường diễn biến rất nhanh, nguy cơ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp thời và xử trí đúng chuyên môn. Việc phát hiện sớm, vận chuyển nhanh và can thiệp kịp thời là yếu tố quyết định trong việc cải thiện tiên lượng.
Ngày 15/5, tại Bệnh viện đa khoa Vinmec Đà Nẵng, Bộ Y tế tổ chức hội thảo xin ý kiến Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030.
Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn chia sẻ, cấp cứu ngoại viện không đơn thuần là đưa xe cứu thương đến hiện trường, mà là "cánh tay nối dài của bệnh viện". Đây là nơi ngành y tế tiếp cận người bệnh trong những phút đầu tiên, có thể quyết định cơ hội sống còn khi xảy ra tai nạn, đột quỵ, nhồi máu cơ tim hay ngừng tuần hoàn.
Tuy nhiên, hệ thống hiện còn nhiều bất cập: phân tán, thiếu liên thông; nhân lực chưa chuẩn hóa; trang thiết bị thiếu; cơ chế tài chính chưa bền vững. Sự phối hợp giữa y tế, công an, phòng cháy chữa cháy, quân đội và chính quyền địa phương trong nhiều tình huống khẩn cấp chưa thực sự nhịp nhàng. Dữ liệu, tổng đài, phương tiện và bệnh viện tiếp nhận chưa nằm trên cùng một mặt phẳng vận hành.
Đề án giai đoạn 2026–2030 hướng tới xây dựng mạng lưới cấp cứu ngoại viện hiện đại, trong đó trung tâm điều phối đóng vai trò "bộ não", tiếp nhận cuộc gọi, phân loại tình huống, xác định xe cứu thương hoặc cơ sở y tế gần nhất, đồng thời theo dõi toàn bộ quá trình di chuyển và tiếp nhận người bệnh.
Trong khi đó, Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, cho hay, mỗi địa phương sẽ có trung tâm tiếp nhận và điều phối, được trang bị điện thoại, máy tính, bản đồ số và phần mềm quản lý phương tiện.
Tổng đài viên không chỉ nghe điện thoại mà phải phân loại tình huống, điều phối xe, nắm vị trí phương tiện theo thời gian thực và theo dõi khả năng tiếp nhận của từng bệnh viện.
Mạng lưới cũng mở rộng ra ngoài hệ thống 115, các bệnh viện có xe cứu thương và đủ điều kiện chuyên môn sẽ tham gia. Khi có tình huống khẩn cấp, trung tâm điều phối chỉ định đơn vị gần nhất, tránh tình trạng "nơi có xe thì xa hiện trường, nơi gần lại chưa được huy động".
Về nhân lực, lái xe, tổng đài viên, nhân viên y tế và lực lượng sơ cấp cứu sẽ được đào tạo theo chương trình riêng. Bộ Y tế dự kiến thành lập trung tâm đào tạo tổng đài viên tại Hà Nội và Tp.HCM, đồng thời tập huấn cho cảnh sát giao thông, lực lượng phòng cháy chữa cháy và tiếp viên hàng không.
Về công nghệ, hệ thống sẽ vận hành trên nền tảng thống nhất toàn quốc với GPS thời gian thực, hồ sơ bệnh nhân số hóa và kết nối bệnh án điện tử. Mục tiêu đặt ra là giảm thời gian điều phối xuống dưới 3 phút và số hóa toàn bộ hồ sơ cấp cứu.
Bộ Y tế đề nghị sẽ chọn Đà Nẵng làm thí điểm. Bác sĩ Trương Văn Trình, Phó Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng, cho biết sau sáp nhập với Quảng Nam, thành phố đứng trước những thay đổi lớn về quy mô dân số, địa bàn và đặc điểm địa hình.
Hệ thống y tế hiện có 21 bệnh viện công, 4 bệnh viện thuộc bộ, ngành, 15 bệnh viện tư nhân, 25 trung tâm y tế khu vực và 93 trạm y tế phường, xã. Mạng lưới y tế tư nhân phát triển nhanh, nhưng việc tham gia cấp cứu ngoại viện còn hạn chế.
Trung tâm cấp cứu 115 Đà Nẵng hiện có 9 điểm trực cấp cứu, 108 nhân viên, trong đó số bác sĩ và y sĩ còn mỏng. Toàn thành phố có 33 xe cứu thương, gồm 13 xe tiêu chuẩn và 2 xe cấp cứu chuyên sâu.
Trong những tháng đầu năm 2026, hệ thống đã thực hiện hơn 10.000 lượt vận chuyển, phục vụ hơn 5.000 ca phục vụ sự kiện, với tỷ lệ đáp ứng yêu cầu cấp cứu hơn 98%.
Dù vậy, thách thức mới nằm ở địa bàn sau sáp nhập. Nếu Đà Nẵng cũ chủ yếu là đô thị ven biển, phạm vi tiếp cận thuận lợi hơn, thì địa bàn mới có đủ vùng núi, đồng bằng, sông, biển, sân bay, khu du lịch và những khu vực dễ bị chia cắt trong mùa mưa lũ. Với khoảng 3 triệu dân, số nhân lực và phương tiện cấp cứu hiện nay được đánh giá là chưa tương xứng.
Đà Nẵng đang ứng dụng công nghệ định vị để xác định vị trí người gọi, kể cả ở vùng biển, bãi tắm hoặc khu vực không có địa chỉ cụ thể. Xe cấp cứu được theo dõi theo thời gian thực, giúp trung tâm biết phương tiện nào gần nhất và thời gian dự kiến tiếp cận người bệnh. Trung tâm cấp cứu 115 Đà Nẵng cũng là một trong những đơn vị được ghi nhận về quản lý chất lượng chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não.
Giai đoạn 2026-2030, thành phố dự kiến nâng cấp Trung tâm cấp cứu 115 thành trung tâm điều hành hiện đại, duy trì và điều chỉnh lại 9 trạm hiện có, mở rộng thêm các trạm vệ tinh tại bệnh viện lớn, khu du lịch, vùng thường bị chia cắt và khu vực miền núi phía nam. Mục tiêu là thời gian tiếp cận dưới 10 phút ở khu vực trung tâm, 15 đến 20 phút ở vùng ven và có phương án phù hợp hơn cho vùng xa, vùng núi.
Từ thực tế Đà Nẵng, bài toán cấp cứu ngoại viện không còn là câu chuyện riêng của ngành y tế. Một cuộc gọi khẩn cấp có thể cần y tế, công an, cứu hỏa, giao thông, chính quyền địa phương và bệnh viện cùng vào cuộc. Nếu thiếu hành lang pháp lý, cơ chế tài chính và quyền điều phối rõ ràng, trung tâm 115 khó huy động hiệu quả xe cứu thương của bệnh viện hoặc các lực lượng khác.
Vì vậy, đề án cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030 được hy vọng tạo khung vận hành mới: một đầu mối tiếp nhận, một nền tảng dữ liệu, nhiều lực lượng cùng tham gia và trách nhiệm được phân định rõ hơn.
Tết năm nay, căn nhà của cụ Phạm Văn Phất ở thôn Đa Phạn, xã Vạn Lộc (xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc cũ) đông đủ con cháu. Trong những tiếng cười và chúc tụng, cụ vẫn nói mong ước lớn nhất của cả cuộc đời vẫn là tìm được gia đình ruột thịt. "Tôi mong trước khi nhắm mắt xuôi tay, biết được mình còn ai thân thích để thắp nén hương cho tổ tiên", cụ Phất nói.
Năm 1945, cậu bé Phạm Văn Phất, 15 tuổi, theo cha - một thợ sửa đồng hồ - rời làng Tùng Sáu (huyện Hải Hậu, Nam Định cũ, nay là xã Hải Thịnh, Ninh Bình) vào Thanh Hóa mưu sinh. Trong ký ức, đó là những chuyến đi dài bằng đường biển, ghé qua các làng chài, ở lại một thời gian rồi lại tiếp tục rong ruổi.
Hai cha con dừng chân tại làng Đa Phạn, ở nhờ một gia đình người địa phương. Sau vài lần đưa con về quê rồi quay lại, đến lần thứ ba vào Thanh Hóa, người cha quyết định gửi con trai lại cho gia đình chủ nhà nuôi dưỡng rồi một mình lên thuyền về quê. Đó là lần cuối hai cha con gặp nhau.
"Tôi đứng trên đê nhìn theo thuyền cha khuất dần về phía biển. Tôi nghĩ ông sẽ sớm quay lại nhưng từ đó bặt vô âm tín", cụ Phất kể.
Những ngày sau đó, cậu thiếu niên 15 tuổi vẫn đi ra bến thuyền, chờ đợi trong vô vọng. Không có tin tức, không một lời nhắn gửi. Giữa những năm tháng biến động của lịch sử đất nước, cậu thiếu niên 15 tuổi khi ấy tự suy đoán cha có thể gặp nạn trên biển hoặc hỏng thuyền. Phất ở lại vùng đất Hậu Lộc, được gia đình chủ nhận nuôi và đổi sang họ Phạm.
Hơn 80 năm qua, hành trình tìm lại cội nguồn của cụ Phất là một chuỗi những hy vọng, có lúc nhen nhóm nhưng rồi lụi tàn theo thời gian. Điều khiến ký ức về quê hương không bị phai mờ là bởi khi xa quê, cụ đã đủ lớn để ghi nhớ tên đất, tên làng.
Trong trí nhớ, quê nhà là làng Tùng Sáu với con đê chạy dài tít tắp, xen kẽ là cồn cát nhấp nhô, những căn nhà thưa thớt dưới rặng phi lao. Cuối làng có một chiếc cống ngăn mặn. Cụ còn nhớ lớp học chữ quốc ngữ của một ông đồ nho và căn nhà nhỏ mái tranh nơi gia đình sinh sống.
Năm 30 tuổi, khi đã lập gia đình và dù hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, cụ từng một mình lần tìm về quê theo trí nhớ. Cụ đi bộ qua nhiều làng mạc ven biển vùng Hải Hậu, hỏi thăm nhiều người, nhưng đáp lại chỉ là những cái lắc đầu. "Tôi trở về nhà, dù rất buồn nhưng vẫn có niềm tin một ngày nào đó sẽ tìm được nguồn cội", cụ kể.
Cụ Phất cho biết quê vợ ở Nghĩa Hưng (Nam Định cũ), cách làng Tùng Sáu khoảng 20 km. Mỗi lần về quê ngoại, cụ lại mượn xe đạp đi hỏi thăm các cụ cao niên và tìm kiếm tại các nghĩa trang địa phương. Cụ nhớ cha tên Riệp (hoặc Diệp), có bốn chị gái là Nghiệp, Nối, Bay và Máy.
Năm 2006, trong một lần trở lại Hải Hậu, cụ Phất dừng chân trước nhà thờ cổ cách đê Cồn Tròn không xa. Nhìn thấy một chiếc cống lớn, cụ nhận định đây là nơi mình từng xuống thuyền cùng cha năm xưa.
"Lúc đó, bố tôi đứng trên triền đê rất lâu nhìn về làng rồi bất chợt khóc như một đứa trẻ", ông Phạm Văn Châu, con trai cụ, kể lại, "Đó là khoảnh khắc cụ tin rằng "mình đã chạm vào quê hương".
Dù vậy, gia đình vẫn không tìm thêm được dấu vết nào của người thân.
Những năm gần đây, do sức khỏe yếu, cụ Phất không thể tự đi xa. Việc tìm kiếm được con cháu tiếp nối thông qua mạng xã hội, thăm hỏi các nhà thờ và tra soát các khu nghĩa trang. Tuy nhiên, việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại. Theo đại diện chính quyền địa phương, sau năm 1954, nhiều gia đình ở vùng Hải Hậu đã di cư, khiến dấu vết về một gia đình thợ sửa đồng hồ từ gần một thế kỷ trước hầu như không còn.
Ở tuổi 96, điều cụ Phất trăn trở không phải là những vất vả đã trải qua, mà là câu hỏi chưa có lời đáp: người thân trong gia đình giờ có còn ai hay không.
Con cháu cụ cho biết vẫn chưa từ bỏ hy vọng. Họ tiếp tục tìm kiếm thông tin, mong một ngày nào đó có người nhận ra những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé trong câu chuyện. "Chỉ cần một manh mối nhỏ, gia đình cũng sẽ tìm đến cùng", ông Phạm Văn Châu nói.