Hôm qua, truyền thông quốc tế dẫn lời Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles thông báo nước này sẽ điều một máy bay quân sự công nghệ cao để tham gia sứ mệnh quốc tế nhằm mở lại eo biển Hormuz. Vài ngày trước, Anh và Pháp cũng thông báo triển khai tàu chiến tham gia sứ mệnh này.
Các nỗ lực trên nhằm tìm cách giải tỏa sự đình trệ của eo biển Hormuz vốn đang gây nghẽn nguồn cung dầu thô, khí tự nhiên và cả các loại phân bón cùng nhiều mặt hàng khác. Trong đó, giá dầu thô liên tục ở mức cao và biến động khó lường. Đến hôm qua, giá dầu Brent lẫn WTI đều ở mức trên 100 USD/thùng.
Không những vậy, theo dự báo được các nhà phân tích của Tập đoàn tài chính J.P.Morgan đưa ra vào ngày 11.5, giá dầu có khả năng “duy trì ở mức không dưới 100 USD/thùng” cho đến hết năm nay do xung đột ở Iran, và giá trung bình cả năm 2026 có thể ở mức 97 USD/thùng.
Thậm chí, trong phân tích gửi đến Thanh Niên, S&P Global, nhà xếp hạng tín nhiệm tín dụng hàng đầu thế giới, cho rằng cần tính đến kịch bản xấu nhất là sự gián đoạn đối với năng lượng và vận chuyển của tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz kéo dài hơn. Khi đó, giá dầu Brent có thể lên đến 200 USD/thùng. Thực tế, ngay cả khi Mỹ và Iran tuyên bố ngừng bắn, thì những bất ổn vẫn khiến cho giá dầu hồi đầu tháng 5 tăng cao hơn cả mức cao điểm trong tháng đầu tiên của cuộc chiến.
Thực tế, tuy tình hình chiến sự không còn nóng như giai đoạn đầu, nhưng việc eo biển Hormuz vẫn tiếp tục đình trệ và chưa có một giải pháp khả thi, thì việc nguồn dự trữ năng lượng của thế giới ngày càng giảm xuống càng tạo ra sức ép lớn hơn cho thị trường.
Giá dầu thô cao đã kéo theo giá nhiên liệu máy bay tăng cao. Cụ thể, nếu như trước xung đột Iran thì giá nhiên liệu máy bay trung bình ở mức 100 USD/thùng đã có lúc vượt mức 200 USD/thùng, gần đây hạ nhiệt thì vẫn neo ở mức gần 170 USD/thùng.
Mức giá trên khiến cho chi phí vận hành máy bay tăng cao. Ví dụ tại Mỹ, theo tính toán của trang Business Insider, so mức giá nhiên liệu bay từ mức 2,5 USD/gallon hồi cuối tháng 2 với mức 4,03 USD/gallon của ngày 11.5 vừa qua khiến cho chi phí đổ đầy bình nhiên liệu của máy bay Airbus A320neo tăng từ 17.500 USD (khoảng 460 triệu đồng) lên 28.200 USD (740 triệu đồng), máy bay Airbus A350 tăng từ 110.000 USD (2,9 tỉ đồng) lên 177.300 USD (4,6 tỉ đồng), Boeing 747-8 tăng từ 157.600 USD (4,1 tỉ đồng) lên 254.000 USD (6,6 tỉ đồng), Boeing 787 từ 83.500 USD (2,2 tỉ đồng) lên 134.600 USD (3,5 tỉ đồng).
Vì thế, 3 hãng hàng không hàng đầu của Mỹ là Delta, American và United đều báo cáo chi phí nhiên liệu đã tốn kém thêm từ 330 – 340 triệu USD trong quý 1/2026. Tình hình khiến cho nhiều hãng hàng không trên thế giới phải cắt giảm số lượng chuyến bay để hạn chế mức lỗ. Giữa tháng 4, KLM (Hà Lan) thông báo vừa cắt giảm 80 chuyến bay. Cuối tháng 4, Hãng hàng không Lufthansa (Đức) thông báo dự kiến tính đến tháng 10 sẽ cắt giảm tổng cộng khoảng 20.000 tuyến bay chặng ngắn. Edelweiss Air (Thụy Sĩ) thì ngừng nhiều tuyến bay đến Mỹ do lượng khách thấp mà giá nhiên liệu tăng cao. Hay Scandinavian Airlines cắt giảm 1.000 chuyến bay chỉ riêng trong tháng 4. Nhiều hãng bay cũng đã tăng phụ phí nhiên liệu để bù đắp chi phí tăng cao.
Không những giá cao, mà nguồn cung nhiên liệu cũng trở thành thách thức cho nhiều hãng hàng không. Tại châu Âu, nhu cầu nhiên liệu máy bay khoảng 1,6 triệu thùng/ngày, khả năng tự chủ của châu lục này khoảng 1,1 triệu thùng/ngày, nên phải nhập khẩu khoảng 500.000 thùng/ngày, trong đó nhập khẩu từ 350.000 – 380.000 thùng/ngày từ Trung Đông. Do các cơ sở chế biến xăng máy bay bị đánh phá và eo biển Hormuz đình trệ, nên châu Âu đang bị mất gần như toàn bộ nguồn cung từ Trung Đông. Sau khi eo biển Hormuz bị đình trệ, Mỹ tăng sản lượng xuất khẩu từ 172.000 thùng/ngày lên trung bình 372.000 thùng/ngày. Trong tổng số này, châu Âu mua khoảng 200.000 thùng/ngày nhưng vẫn chưa đủ bù đắp vào phần thiếu hụt từ nguồn cung Trung Đông. Vì thế, ước tính riêng châu Âu vẫn đang thiếu khoảng 170.000 – 180.000 thùng/ngày.
Ngày 17.4, AP dẫn lời Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) Fatih Birol cảnh báo sau 6 tuần thì châu Âu có thể cạn nguồn dự trữ nhiên liệu bay. Tuy nhiên, các hãng hàng không đã từ chối bình luận về thông tin này.
"Chuyến thăm Tehran của tư lệnh quân đội Pakistan đã thu hẹp khác biệt giữa Mỹ và Iran ở một số vấn đề, nhưng vẫn còn những bất đồng mang tính nền tảng trong lĩnh vực hạt nhân. Đã có thêm hy vọng về gia hạn thỏa thuận ngừng bắn và tổ chức vòng đàm phán thứ hai", quan chức cấp cao Pakistan nói với Reuters hôm nay.
Quan chức này thêm rằng hai vấn đề "gây tranh cãi nhiều nhất và vẫn chưa có giải pháp" trong đàm phán hòa bình là số phận của lượng uranium đã làm giàu tại Iran, cũng như câu hỏi liệu có thể giới hạn chương trình hạt nhân của nước này trong bao lâu.
Bộ Ngoại giao Pakistan kỳ vọng vòng đàm phán tiếp theo giữa Mỹ và Iran có thể "đạt bước đột phá lớn", song xác nhận chưa thể ấn định thời gian hay địa điểm cụ thể. Islamabad lưu ý rằng ổn định tại Lebanon sẽ tác động đáng kể đến tiến trình đàm phán hiện nay.
Tư lệnh quân đội Pakistan Asim Munir đến Iran ngày 15/4, ba ngày sau khi phái đoàn Mỹ và Iran không đạt được thỏa thuận nào trong vòng đàm phán ở Islamabad. Sau chuyến thăm Tehran, ông Munir dự kiến tiếp tục đến thủ đô Washington của Mỹ.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Pakistan Tahir Andrabi xác nhận chuyến thăm của tư lệnh Munir là một phần nỗ lực duy trì liên lạc với cả hai phía để thúc đẩy đối thoại. Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif cũng đang công du loạt nước Trung Đông nhằm vận động ủng hộ các sáng kiến thúc đẩy hòa bình.
Trong thông báo về chuyến thăm của tướng Munir hôm 15/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmail Baghaei cho biết phái đoàn Pakistan "sẽ thảo luận chi tiết" về các yêu cầu của Mỹ lẫn Iran trong đàm phán hòa bình. Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đánh giá cao vai trò của Islamabad trong thúc đẩy đối thoại, thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực.
Al Jazeera dẫn nguồn thạo tin cho biết một số nội dung chính đang được thảo luận qua trung gian gồm thời hạn Iran ngừng làm giàu uranium, với các đề xuất dao động từ 5-20 năm.
Ngoài ra, việc xử lý khoảng 440 kg uranium đã làm giàu cao của Iran cũng là vấn đề then chốt. Các phương án đang được cân nhắc gồm chuyển số uranium này sang nước thứ ba hoặc giảm mức độ làm giàu để không thể sử dụng cho mục đích quân sự.
Đề xuất này sẽ bao gồm việc rút quân Mỹ khỏi các quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) bị cho là không hỗ trợ Washington, ngoài ra sẽ đóng quân tại các quốc gia ủng hộ chiến dịch quân sự của Mỹ.
Kế hoạch trên đã nhận được sự ủng hộ của một số quan chức cấp cao chính quyền Mỹ và vẫn đang trong giai đoạn thảo luận ban đầu.
“Thật đáng buồn khi NATO đã quay lưng lại với người dân Mỹ trong 6 tuần qua, trong khi chính người dân Mỹ là những người đã tài trợ cho quốc phòng của họ,” thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt nói hôm 8.4.
Tổng thống Trump ngày 8.4 cũng đã gặp Tổng thư ký NATO Mark Rutte. Nhà Trắng tiết lộ ông Trump sẽ bàn về khả năng rời NATO, sau khi liên minh không hỗ trợ Washington trong xung đột với Iran. Trả lời đài CNN sau cuộc gặp, ông Rutte nói: “Đó là cuộc thảo luận rất thẳng thắn và cởi mở”.
"Ông ấy rõ ràng đang thất vọng với nhiều đồng minh NATO, và tôi hiểu quan điểm của ông ấy", ông Rutte nói thêm.
Hiện chưa rõ Mỹ sẽ rút quân đang đóng tại những nước NATO nào. Thời gian qua, một số thành viên đã phản đối mạnh mẽ hoặc dè dặt trước các đề nghị hỗ trợ của ông Trump. Tây Ban Nha được xem là nước phản đối kịch liệt nhất. Chính quyền Madrid tuyên bố không cho máy bay Mỹ sử dụng không phận để tấn công Iran.
Ý cũng tạm ngăn Mỹ sử dụng một căn cứ không quân ở Sicily, trong khi Pháp chỉ đồng ý cho phép Mỹ sử dụng một căn cứ ở miền nam nước Pháp sau khi đảm bảo rằng các máy bay hạ cánh không phải phi cơ tham gia tấn công Iran.
Ngoài việc tái bố trí quân đội, kế hoạch cũng có thể bao gồm việc đóng cửa một căn cứ của Mỹ ở ít nhất một trong các quốc gia châu Âu, có thể là Tây Ban Nha hoặc Đức, theo 2 quan chức chính quyền Mỹ.
Hôm 6.4, ông Trump nêu rằng “rất thất vọng” với NATO và việc không ủng hộ Mỹ là chống Iran "một vết nhơ đối với NATO sẽ không bao giờ biến mất".
Các quan chức cấp cao châu Âu phản bác rằng họ không được tham vấn về cuộc chiến trước đó, khiến việc phối hợp phản ứng quân sự trong những ngày đầu gặp khó khăn.
Ngày 6-4, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đe dọa sẽ tiêu diệt Iran "chỉ trong một đêm" nếu Tehran không đạt được thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz trước thời hạn chót là 20h tối 7-4 (giờ Mỹ).
Theo Đài BBC, Washington gần đây đã liên tục gây áp lực quân sự, cũng như ông Trump từng kêu gọi các nước tự bảo vệ tuyến vận tải, khiến nhiều quốc gia tại châu Á đã chủ động chọn con đường ngoại giao trực tiếp với Iran để đạt được các thỏa thuận riêng về việc lưu thông qua Hormuz, thay vì chờ đợi một giải pháp quân sự từ Mỹ.
Cụ thể, Pakistan hôm 28-3 thông báo rằng Iran đã đồng ý cho 20 tàu của nước này đi qua eo Hormuz. Ngoại trưởng Pakistan gọi đây là "cử chỉ tích cực và mang tính xây dựng", đồng thời nhấn mạnh: "Đối thoại, ngoại giao và các biện pháp xây dựng lòng tin là con đường duy nhất để tiến lên phía trước".
Iran cũng công khai hoan nghênh các tàu treo cờ Ấn Độ được đi qua eo biển. Đại sứ quán Iran tại Ấn Độ viết trên X: "Những người bạn Ấn Độ của chúng tôi hoàn toàn an toàn, không có gì phải lo lắng". Đáp lại, Ngoại trưởng Ấn Độ cho biết việc tàu chở dầu của nước này được lưu thông là kết quả của ngoại giao.
Trung Quốc - nước mua dầu Iran lớn nhất - cũng xác nhận một số tàu của họ đã đi qua eo biển, dù không nêu chi tiết. Dữ liệu theo dõi hàng hải cho thấy bất chấp xung đột, hàng triệu thùng dầu Iran (đang bị Mỹ trừng phạt) vẫn được vận chuyển tới Trung Quốc trong những tuần gần đây.
Kể từ khi chiến sự bùng nổ, Bắc Kinh đã duy trì quan hệ ngoại giao thân thiện với Tehran và cùng Pakistan nỗ lực làm trung gian cho một lệnh ngừng bắn giữa các bên tham chiến.
Mới đây nhất, Ngoại trưởng Philippines cho biết Iran đã cam kết đảm bảo "hành trình an toàn, không bị cản trở và nhanh chóng" cho các tàu nước này, sau cuộc điện đàm được đánh giá là "rất hiệu quả" nhằm đảm bảo nguồn cung năng lượng và phân bón.
Dù vậy, giới quan sát cho rằng các thỏa thuận hiện nay vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chẳng hạn như chưa có thông tin cụ thể liệu các đảm bảo an toàn áp dụng cho toàn bộ tàu của một quốc gia hay chỉ một số chuyến cụ thể, hay việc các tàu có phải trả phí để được đi qua hay không.
Ví dụ, Công ty vận tải Mitsui OSK Lines cho biết một tàu Nhật Bản chở khí tự nhiên hóa lỏng cuối tuần qua đã an toàn đi qua eo biển Hormuz, nhưng không bình luận về việc có phải trả phí cầu đường hay không và làm thế nào thủy thủ đoàn đảm bảo được chuyến đi an toàn.
Malaysia cũng cho biết một số tàu chở dầu của họ đã được Iran cho phép đi qua miễn phí, nhưng chưa rõ liệu các tàu Malaysia khác có được hưởng bảo đảm tương tự hay không.
Ngoài ra, chuyên gia Roger Fouquet tại Đại học Quốc gia Singapore cũng nhận định Iran có thể đang "tách bạch giữa quan hệ đồng minh và mức độ tham gia thực tế vào xung đột", khi vẫn cho phép tàu của một số quốc gia có liên hệ với Mỹ - như trường hợp của Philippines - được lưu thông.
Do đó nhà kinh tế năng lượng Shi cho rằng dù các thỏa thuận này đánh dấu một bước tiến ngoại giao đáng chú ý, nhưng chúng chỉ giúp giảm áp lực ngắn hạn cho chuỗi cung ứng năng lượng, chưa phải là giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz khi chiến sự vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.