Liên quan đến vụ bà Nguyễn Thị Bình, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (Hà Nội), bị phạt tù vì thu tiền dạy thêm sai quy định, Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp) mới đây xác định một văn bản có nội dung trái pháp luật.
Theo cáo buộc, Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội quy định về thu tiền dạy thêm, theo đó mức thu từ 6.000 – 26.000 đồng/học sinh (HS)/tiết. Lớp càng ít HS, mức thu càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, bà Bình đã chỉ đạo kế toán và giáo viên (GV) chủ nhiệm các khối lớp 7, lớp 8, lớp 9 thu theo một mức chung là 15.000 đồng/tiết/HS. Dựa trên mức thu này, Trường THCS Ba Đình đã thu của 24 lớp các khối 7, 8, 9 với tổng số hơn 2,1 tỉ đồng, cao hơn quy định hơn 1 tỉ đồng.
Quyết định số 22/2013 là một trong những căn cứ quan trọng để buộc tội bà Bình. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, bà Bình cho rằng việc thu tiền được thực hiện sau khi có thỏa thuận với phụ huynh, phù hợp Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT. Thông tư này quy định “mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ HS với nhà trường”, đồng thời ủy quyền cho UBND cấp tỉnh quy định “việc thu, quản lý, sử dụng”, nhưng không có quyền áp mức trần.
Tại kết luận ban hành ngày 4.5, Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật dẫn Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT. Theo đó, thông tư này quy định tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ HS với nhà trường, không quy định hoặc giao chính quyền địa phương quy định mức thu tiền học thêm tối đa. Do vậy, việc Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội giới hạn mức thu tiền học thêm tối đa là chưa phù hợp. Sau Quyết định số 22/2013, Sở GD-ĐT TP.Hà Nội tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn với nội dung áp mức thu tối đa tương tự. Các quy định này được ban hành “không đúng hình thức, thẩm quyền”, theo Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật.
Vẫn theo Cục này, chiếu theo quy định hiện hành, việc dạy thêm trong nhà trường không được thu tiền HS; kinh phí phải sử dụng từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn hợp pháp khác. Điều này đồng nghĩa quy định áp mức thu tối đa tại Quyết định số 22/2013 và văn bản hướng dẫn của Sở GD-ĐT TP.Hà Nội hiện không còn phù hợp.
Hôm 5.5 vừa qua, UBND TP.Hà Nội đã ra quyết định bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 22/2013, có hiệu lực từ ngày ký.
Thực tế, không riêng gì Hà Nội, suốt 12 năm Thông tư 17 về dạy thêm học thêm có hiệu lực thi hành, hầu hết UBND cấp tỉnh đều căn cứ vào đó và ban hành các quyết định quy định về việc dạy thêm học thêm áp dụng cho địa phương mình.
Ghi nhận cho thấy về mức thu chi học phí dạy thêm, mỗi địa phương có một cách quy định khác nhau. Cũng có những tỉnh, thành không quy định mức trần mà giao cho nhà trường và phụ huynh tự thỏa thuận theo đúng tinh thần của Thông tư 17.
Ví dụ, tại tỉnh Bắc Giang (cũ), Quyết định của UBND tỉnh nêu rõ kinh phí đối với học thêm trong nhà trường là do thỏa thuận giữa cha mẹ HS với nhà trường. “Việc phụ đạo HS có học lực yếu, kém và bồi dưỡng HS giỏi thuộc trách nhiệm của nhà trường, không được thu tiền của HS”, quyết định ghi.
Việc quản lý và sử dụng tiền học thêm cũng được tỉnh này quy định: 75% chi cho GV trực tiếp dạy thêm, 5% chi công tác quản lý dạy thêm học thêm (bao gồm người tham gia quản lý, người phục vụ, bảo vệ); 10% chi cơ sở vật chất (tiền điện, nước và hao mòn tài sản); 10% chuyển vào quỹ phúc lợi của đơn vị để chi chung (hỗ trợ, tài trợ, khuyến học, khuyến tài…)…
Còn tại tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), quyết định của UBND tỉnh ban hành năm 2019 dù quy định thu tiền học thêm do phụ huynh HS và nhà trường thỏa thuận nhưng áp mức trần. Cụ thể, đối với HS THCS: 18.000 đồng/buổi (3 tiết học, 135 phút)/HS. Đối với HS THPT: 25.000 đồng/buổi (3 tiết học, 135 phút)/HS. Các lớp học tin học được thu thêm tiền điện, với mức thu không quá 5.000 đồng/máy/buổi.
Tỉnh này cũng quy định mức chi tối thiểu 70% chi cho GV trực tiếp giảng dạy; tối đa 15% chi cho công tác quản lý dạy thêm học thêm của nhà trường (bao gồm công tác chủ nhiệm, quản lý, phục vụ, bảo vệ, trông xe và các nhiệm vụ liên quan); chi tiền điện, nước, văn phòng phẩm, vệ sinh, sửa chữa cơ sở vật chất phục vụ dạy thêm học thêm, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định…
Trong khi đó, UBND tỉnh Hà Giang (cũ) quy định mức thu tiền học thêm trong nhà trường của 1 HS/buổi học được tính không vượt quá 0,02 mức lương tối thiểu do nhà nước quy định. GV dạy thêm không trực tiếp thu, chi tiền học thêm… Tỉnh này cũng quy định 70% trả thù lao cho GV trực tiếp lớp, 10% chi cho công tác quản lý…
Tỉnh Lào Cai (cũ) quy định thu tiền thực hiện dạy thêm các môn trong chương trình giáo dục: cấp THCS, THPT, giáo dục thường xuyên mức thu tối đa 10.000 đồng/tiết/HS. Riêng Trường THPT chuyên Lào Cai mức thu tối đa 12.000 đồng/tiết/HS…
Nhiều tỉnh, thành áp dụng mức trần học phí học thêm trong nhà trường nhưng suốt hơn chục năm Thông tư 17 có hiệu lực, Bộ GD-ĐT hay Bộ Tư pháp chưa từng lên tiếng cảnh báo, chấn chỉnh, cho đến khi vụ việc của bà Bình thu hút sự quan tâm của dư luận.
Bộ GD-ĐT vừa ban hành văn bản hợp nhất thông tư quy định về dạy thêm học thêm, có hiệu lực từ ngày 15.5. Trong quy định về tổ chức dạy thêm học thêm trong nhà trường, văn bản hợp nhất quy định: Việc dạy thêm học thêm trong nhà trường không được thu tiền của HS và chỉ dành cho 3 đối tượng HS đăng ký học thêm theo từng môn học.
Cụ thể, đó là các đối tượng: HS có kết quả học tập môn học cuối học kỳ liền kề ở mức chưa đạt; HS được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng HS giỏi; HS lớp cuối cấp tự nguyện đăng ký ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường.
GV đang dạy học tại các nhà trường không được dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền đối với HS mà GV đó đang được nhà trường phân công dạy học.
Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 2 tiết/tuần. Trường hợp HS thuộc đối tượng đăng ký học thêm theo quy định có nhu cầu học thêm vượt quá 2 tiết/tuần, giám đốc Sở GD-ĐT xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của hiệu trưởng hoặc giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường.
Dù thay đổi, bổ sung thế nào thì quy định “tuyệt đối không thu tiền” trong tổ chức dạy thêm trong nhà trường vẫn được Bộ GD-ĐT coi là yếu tố quyết định để chấn chỉnh việc dạy thêm học thêm tràn lan lâu nay, ngăn chặn nguy cơ dẫn đến tình trạng HS phải đi học thêm do nhà trường, giáo viên tổ chức, dù không có nhu cầu. Do đó, những tranh cãi về mức thu và có áp trần thu học phí dạy thêm trong nhà trường như trước kia, sẽ không xảy ra.
Mặc dù vậy, trên các nhóm dành cho phụ huynh HS Hà Nội, vẫn không ít ý kiến phàn nàn dù quy định nhà trường không thu tiền dạy thêm ôn thi, phụ đạo, bồi dưỡng… nhưng ban phụ huynh vẫn đứng ra thu góp của phụ huynh để “cảm ơn” GV và nhà trường mà mức thu này còn cao hơn nhiều so với “mức trần” trước kia Hà Nội quy định.
Mặt khác, với những trường thực hiện nghiêm thì cử tri lại phản ánh với đại biểu Quốc hội rằng từ khi thực hiện Thông tư 29, “chi phí học thêm của phụ huynh phải bỏ ra lại cao hơn so với trước”. Lý do là cha mẹ phải đưa con ra ngoài trường, khiến phát sinh chi phí thuê trung tâm, GV đi lại, và đưa đón con từ nhà đến chỗ học thêm…
Vấn đề người dân mong muốn là quy định “cấm thu tiền” phải được thực thi chứ không phải chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, thậm chí còn nặng nề hơn vì không có “mức trần” nào cả.
Hoàng Hữu Đà, 34 tuổi, là trợ lý nghiên cứu tại IMF ở thủ đô Washington, Mỹ. Công việc chính của anh là theo dõi, nghiên cứu các diễn biến kinh tế trên thế giới, chẳng hạn như ảnh hưởng từ chính sách thuế quan Mỹ hay tình hình chiến tranh đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Từ đó, anh hỗ trợ các nhà kinh tế học tại IMF đưa ra khuyến nghị về chính sách tài khóa, tiền tệ với các nước. Anh cũng tham gia xử lý dữ liệu, xây dựng các mô hình kinh tế lượng để trả lời cho giả thuyết nghiên cứu của các chuyên gia tại cơ quan này.
Trước đó, Đà có gần 10 năm làm về quản trị rủi ro tại các ngân hàng ở Việt Nam. Mùa thu năm nay, Đà sẽ lần đầu chính thức du học, theo chương trình tiến sĩ Kinh tế của Đại học California, Santa Barbara (Mỹ). Anh nhận tin trúng tuyển kèm học bổng toàn phần vào tháng trước.
"Tôi rất hào hứng, bởi đây là cơ hội rất tốt để được rèn luyện cách đối mặt với rủi ro", Đà nói.
Đà là cựu sinh viên khoa Toán kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân. Thời sinh viên, anh thấy ngành rất hợp với mình bởi có môn ưa thích là toán, cùng xác suất thống kê, kinh tế học và lập trình. Vì thích học, ngoài giờ trên lớp, anh hay "lặn ngụp" trên các trang web chia sẻ kiến thức hoặc các khóa học miễn phí online.
Tự thấy có hứng thú với việc giảng dạy, nhưng sau tốt nghiệp, năm 2014, Đà bước vào môi trường ngân hàng, làm chuyên viên quản trị rủi ro. Đà nhìn nhận công việc này khớp với ngành học và kỹ năng hơn. Anh được tiếp cận nguồn dữ liệu lớn, các phương pháp phân tích, thống kê, kinh tế lượng nâng cao, từ đó đưa ra mô hình dự báo rủi ro cho các ngành.
Dù làm ngân hàng, đam mê chia sẻ kiến thức của Đà vẫn âm ỉ. Năm 2015, Đà mở kênh YouTube về xác suất thống kê và kinh tế học. Anh mày mò viết nội dung, thiết kế hoạt họa, lồng tiếng,... Hàng tuần, Đà dành một buổi để tìm ý tưởng, rồi mỗi hôm lại hoàn thiện sản phẩm một chút.
Thấy các video dần được nhiều người đón nhận, giúp họ hiểu thêm về kinh tế, Đà càng có cảm hứng để kiên trì dù công việc bận rộn. Từ xuất phát điểm "cứ có người xem là được rồi", tới nay, đứa con tinh thần của anh đã có gần 90 nghìn người đăng ký, nhiều video đạt hàng trăm nghìn lượt xem.
Bước ngoặt tới vào năm 2022, khi Đà viết cuốn sách đầu tay "Nghệ thuật tư duy dựa trên dữ liệu", tổng hợp tất cả kiến thức đã học và chia sẻ. Anh liên hệ giảng viên cũ ở trường Kinh tế quốc dân để nhờ cô viết thư giới thiệu. Đây cũng là lúc cơ duyên với IMF bắt đầu.
Thấy học trò có kiến thức và kỹ năng viết tốt, cô giáo kết nối anh tham gia một dự án nghiên cứu cùng các chuyên gia ở IMF. Càng làm, Đà càng thấy thích thú, từ việc đặt câu hỏi, tìm nguồn dữ liệu cho tới xây dựng mô hình để tìm ra câu trả lời.
Nhờ cơ hội này, Đà nhen nhóm ý định học lên tiến sĩ. Anh cũng được các thành viên trong dự án giới thiệu để nộp đơn vào làm trực tiếp ở IMF. Ban đầu, Đà còn băn khoăn, vì chưa từng du học hay làm việc ở nước ngoài, nên không chắc có thích nghi được không.
"Cân nhắc cả chi phí, lợi ích và ngưỡng chịu đựng rủi ro của bản thân, tôi thấy đó sẽ là lựa chọn lợi hơn cả, là cơ hội để bước ra khỏi vùng an toàn và phát triển bản thân", Đà nói. Nhờ vốn kỹ năng qua nhiều năm ở ngân hàng, Đà vượt qua vòng phỏng vấn mà không quá áp lực, bắt đầu tới Mỹ làm việc từ năm 2023.
Ban đầu, Đà không tránh khỏi những rào cản về văn hóa và ngôn ngữ. Anh nhớ những lần lúng túng khi gặp đồng nghiệp, vì họ nói quá nhanh, còn anh phải nhắc lại nhiều lần thì họ mới hiểu.
Để cải thiện, Đà tập nói tiếng Anh một mình ở nhà sau giờ làm, tải các ứng dụng học tiếng rồi luyện theo, chủ động bắt chuyện với đồng nghiệp để xây dựng mối quan hệ. Sau khoảng ba tháng, Đà tự tin hơn, bắt nhịp được.
Môi trường ở IMF giúp anh học từ những nhà kinh tế hàng đầu, khám phá nhiều câu hỏi và tiếp cận những nguồn dữ liệu tốt. Anh được làm việc với những bài toán vĩ mô hơn nhiều so với thời ở ngân hàng.
Cuối cùng, sau ba năm kể từ dự án nghiên cứu đầu, với kinh nghiệm thực chiến, lời giới thiệu từ IMF, Đà thuyết phục được hội đồng tuyển sinh UCSB. Đà tin rằng tấm bằng này sẽ dẫn tới nhiều cơ hội, như giảng dạy đại học, làm việc tại các tổ chức kinh tế thế giới, hay làm cố vấn cho công ty tư nhân,...
Cô Trần Chung Thủy, giảng viên, đồng sáng lập bộ môn Toán tài chính tại Đại học Kinh tế Quốc dân, nhận xét học trò cũ xuất sắc, có ý tưởng riêng và có dáng dấp của một nhà nghiên cứu từ sớm.
"Đà trầm tính, nên ban đầu mọi người có thể không có ấn tượng. Nhưng đối với ngành rất khó như Toán tài chính, Đà có sự bền bỉ, lại nỗ lực, có kỷ luật với kế hoạch của bản thân", cô Thủy nói, đánh giá phải vài khóa mới có một người đi sâu vào nghiên cứu tốt như vậy.
Theo Đà, sự chuẩn bị là chìa khóa để mỗi người quản lý rủi ro, đón nhận cơ hội mới. Việc này bao gồm cả khám phá bản thân để biết mục tiêu và ngưỡng chấp nhận rủi ro phù hợp, lẫn tìm hiểu các dữ liệu bên ngoài để đưa ra quyết định tự tin và chắc chắn hơn, thay vì chỉ dựa vào niềm tin và trực giác.
Khi tìm hiểu một chủ đề, Đà nhận định một cách tốt là học từ nhiều nguồn hay kênh khác nhau - website, podcast, YouTube. Phương pháp này giúp người học được nhìn một vấn đề từ nhiều hướng, nên sẽ nhớ và hiểu sâu hơn.
"Dù sự chuẩn bị là thiết yếu, các bạn trẻ vẫn nên đón nhận sự ngẫu nhiên, coi thử thách là những cơ hội để học hỏi, kết nối để có thêm hiểu biết và sự giúp đỡ", anh chia sẻ.
Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, các em có thể tiếp cận hàng nghìn đề thi thử, video bài giảng, khóa học trực tuyến và cả lộ trình ôn tập sẵn. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại đặt ra câu hỏi lớn: đây là cơ hội mở hay một "ma trận" khiến người học dễ lạc lối?
Điểm tích cực rõ nhất là khả năng tiếp cận được mở rộng mạnh mẽ. Trước đây, tài liệu ôn thi chất lượng chủ yếu tập trung ở đô thị và các trung tâm lớn; nay, nhờ internet, học sinh (HS) ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể học cùng bài giảng, làm cùng đề thi như ở thành phố. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, ít nhất về cơ hội tiếp cận tri thức - một bước tiến đáng kể về công bằng giáo dục.
Bên cạnh đó, sự phong phú của học liệu cho phép cá nhân hóa việc học. HS có thể chọn nội dung phù hợp với trình độ và mục tiêu: người yếu học lại từ nền tảng, người khá giỏi tiếp cận chuyên đề nâng cao. Đây là điều lớp học truyền thống khó đáp ứng trọn vẹn.
Ngoài ra, tài liệu miễn phí mở "cửa vào" cho HS khó khăn, trong khi tài liệu có phí - nếu được xây dựng bài bản - mang lại giá trị gia tăng như hệ thống hóa kiến thức, phân tích lỗi sai, theo dõi tiến bộ. Sự song song này, về lý thuyết, tạo nên một hệ sinh thái học tập đa lựa chọn và linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại tạo ra nghịch lý: càng nhiều tài liệu, HS càng dễ mất phương hướng. Thứ nhất, nhiều em rơi vào tình trạng "sưu tầm" hơn là học. Một HS ôn thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM vừa qua, chia sẻ: "Em bị loạn giữa quá nhiều tài liệu, mỗi nơi một kiểu, không biết tin nguồn nào".
Thứ hai, không ít HS tải hàng chục bộ đề, đăng ký nhiều khóa học nhưng không theo được lộ trình nào đến cùng. Việc học dàn trải, thiếu trọng tâm khiến hiệu quả giảm, học liệu từ công cụ hỗ trợ trở thành "nhiễu thông tin".
Thứ ba, chất lượng tài liệu không đồng đều. Nhiều tài liệu miễn phí chưa được kiểm chứng, có thể sai lệch; trong khi tài liệu có phí không phải lúc nào cũng tương xứng. Thị trường thiếu chuẩn mực khiến "vàng thau lẫn lộn".
Thứ tư, nguy cơ lệch hướng học tập ngày càng rõ. Khi học liệu ôn thi phát triển mạnh, việc học dễ bị thu hẹp thành luyện dạng, học mẹo, thay vì hiểu bản chất. Điều này đi ngược xu hướng đánh giá năng lực.
Thứ năm, yếu tố thương mại hóa tạo áp lực mới. Quảng cáo bị thổi phồng, nhiều gia đình bỏ ra chi phí lớn với kỳ vọng "mua" lợi thế, từ đó hình thành một dạng bất bình đẳng mới.
Trong "ma trận" học liệu, HS không thể tiếp tục học theo kiểu bị dẫn dắt mà cần chuyển sang học có chiến lược.
Cần nhớ không phải càng nhiều tài liệu càng tốt; một nguồn phù hợp, được học sâu, làm đi làm lại và phân tích lỗi sai kỹ lưỡng thường hiệu quả hơn việc "lướt" qua nhiều nguồn. HS cần biết chọn lọc để đánh giá độ tin cậy, so sánh và tự kiểm chứng tài liệu - đây là năng lực thiết yếu trong thời đại số. Ngoài ra, phải giữ mục tiêu học để hiểu; khi nền tảng vững, kết quả thi sẽ là hệ quả tự nhiên.
Trong bối cảnh học liệu tràn ngập, giáo viên cần giữ vững vai trò định hướng. Không chỉ dạy kiến thức, thầy cô cần giúp HS xác định học gì, học từ đâu và học như thế nào; đồng thời giới thiệu nguồn tin cậy, cảnh báo "bẫy" học liệu.
Nhà trường nên xây dựng "ngân hàng học liệu" riêng, được kiểm duyệt để làm chuẩn tham chiếu. Cùng với đó là tổ chức ôn tập bài bản: thi thử, tư vấn học tập, hướng dẫn kỹ năng làm bài. Khi nhà trường làm tốt, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài sẽ giảm.
Ở cấp quản lý, cần một trục định hướng rõ ràng. Trước hết, Bộ GD-ĐT giao một đơn vị thuộc bộ chuyên trách xây dựng nền tảng học liệu quốc gia, cung cấp tài liệu chuẩn với chi phí thấp, đảm bảo công bằng tiếp cận.
Quan trọng hơn là đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực thực chất, hạn chế học tủ, học mẹo, học máy móc, không hiểu bản chất. Đồng thời, cần cơ chế kiểm soát chất lượng học liệu, đặc biệt với sản phẩm có phí, nhằm minh bạch thông tin, bảo vệ người học và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện tượng "bùng nổ học liệu ôn thi" không chỉ có ở VN. Tại Mỹ, các kỳ thi như SAT, ACT đã tạo ra cả một ngành luyện thi; ở Hàn Quốc với CSAT hay Trung Quốc với Gaokao cũng tương tự. Điểm chung là ở đâu thi cử cạnh tranh cao, ở đó học liệu phát triển mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng tham khảo là cách ứng xử. Các quốc gia nói trên không hạn chế học liệu mà tập trung định hướng. Tại Mỹ, College Board cung cấp tài liệu chính thức miễn phí, kết hợp với Khan Academy tạo một "chuẩn tham chiếu" rõ ràng. Nhờ đó, HS có điểm tựa đáng tin cậy, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn bên ngoài; đồng thời, đề thi được thiết kế theo hướng khó "luyện tủ", buộc HS phải hiểu và vận dụng. Khi cách thi thay đổi, thị trường học liệu cũng phải điều chỉnh theo.
Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, nhà nước còn can thiệp để kiểm soát thương mại hóa, giảm áp lực và bất bình đẳng. Dù còn tranh luận, điều này cho thấy: không thể buông lỏng hoàn toàn, mà cần sự dẫn dắt để học liệu phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể ngăn chặn sự bùng nổ học liệu, nhưng hoàn toàn có thể biến nó thành một hệ sinh thái lành mạnh. Vấn đề không phải là có bao nhiêu tài liệu, mà là có một "trục định hướng" đủ mạnh hay không.
Khi cơ quan quản lý giáo dục dẫn dắt, nhà trường tổ chức, giáo viên định hướng và HS chủ động, thì sự bùng nổ học liệu sẽ không còn là áp lực mà trở thành nguồn lực quý giá cho một nền giáo dục hiện đại.
Trước mắt, một số tỉnh, thành phố lớn có thể xây dựng hệ sinh thái ôn thi cho riêng địa phương mình, từ đó, sẽ phổ biến kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác.
Lễ công bố quyết định đã diễn ra tại Bệnh viện Vạn Phúc (khu đô thị Vạn Phúc, phường Hiệp Bình, TP.HCM). Hiện trường đang hoàn thiện thủ tục để đổi tên thành Bệnh viện Trường đại học Quốc tế Hồng Bàng, hoàn thiện mô hình viện - trường, hiệu trưởng kiêm giám đốc bệnh viện thực hành.
Với việc có bệnh viện thực hành riêng, Trường đại học Quốc tế Hồng Bàng là một trong số ít trường đại học tư thục đào tạo khối ngành sức khỏe có bệnh viện thực hành riêng.
Hiệu trưởng Phạm Văn Lình cho biết bệnh viện đại học là mô hình có ý nghĩa quan trọng trong đào tạo nhân lực y tế khi hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và điều trị được đặt trong cùng một hệ thống vận hành.
Với mô hình viện - trường, bệnh viện trở thành giảng đường, nơi các quy trình chuyên môn, hồ sơ bệnh án, kỹ thuật chẩn đoán, hoạt động điều trị và cách phối hợp giữa các bộ phận có thể được tiếp cận như một phần của quá trình đào tạo y khoa hiện đại.
Đây là cách tổ chức đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh ngành y ngày càng đặt yêu cầu cao về năng lực thực hành, khả năng thích ứng với môi trường bệnh viện và hiểu biết về hệ thống y tế.
Cơ sở đào tạo và bệnh viện được kết nối trong cùng một định hướng chuyên môn, tạo điều kiện để hoạt động đào tạo diễn ra gần hơn với thực tiễn điều trị.
Việc trường đại học có bệnh viện thực hành riêng giúp sinh viên tiếp cận bệnh nhân thật, quy trình điều trị thật và hệ thống y tế vận hành thực tế ngay từ sớm.
GS.TS.BS CKII Phạm Văn Lình là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực y khoa với gần 40 năm kinh nghiệm trong công tác đào tạo, quản lý và điều hành bệnh viện đại học.
Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa cấp II chuyên ngành ngoại tiêu hóa tại Trường đại học Y dược (Đại học Huế), nhận học vị tiến sĩ y khoa tại Học viện Quân y và được công nhận chức danh giáo sư y học năm 2013.
Trước khi đảm nhiệm vai trò Hiệu trưởng Trường đại học Quốc tế Hồng Bàng, ông từng là Hiệu trưởng, Giám đốc Bệnh viện Trường đại học Y dược Huế; Hiệu trưởng, Chủ tịch hội đồng trường, Giám đốc Bệnh viện Trường đại học Y dược Cần Thơ.