Tại cuộc họp nội các ngày 12.5, Thủ tướng Anh Keir Starmer nhắc lại rằng ông chịu trách nhiệm cho một trong những thất bại bầu cử tồi tệ nhất của Công đảng, nhưng hiện chưa có động thái chính thức nào nhằm kích hoạt cuộc tranh cử lãnh đạo.
Theo Reuters, một số bộ trưởng trung thành đã bày tỏ sự ủng hộ dành cho ông Starmer. Đây là lời cam kết mới nhất của ông Starmer nhằm tiếp tục nắm giữ vị trí Thủ tướng Anh, dù chính quyền của ông liên tục gặp bê bối và phải đảo ngược nhiều chính sách kể từ khi ông thắng lớn trong cuộc tổng tuyển cử năm 2024.
Hôm thứ 11.5, ông Starmer hứa sẽ mạnh tay hơn trong việc giải quyết các vấn đề đang làm khó nước Anh nhằm củng cố tương lai chính trị của mình.
“Công đảng có quy trình để thách thức lãnh đạo và quy trình đó chưa được kích hoạt. Đất nước mong đợi chúng ta tiếp tục điều hành. Đó là những gì tôi đang làm và những gì chúng ta – với tư cách là nội các – phải làm”, ông Starmer nói với nội các ngày 12.5.
Khi rời khỏi cuộc họp ở phủ thủ tướng, một số bộ trưởng cấp cao đã bày tỏ sự ủng hộ lãnh đạo chính phủ. Bộ trưởng Bộ Lao động và Hưu trí Pat McFadden nói với phóng viên rằng không ai thách thức thủ tướng tại cuộc họp nội các.
Hơn 80 nghị sĩ trong số 403 nghị sĩ Công đảng đã công khai yêu cầu ông Keir Starmer từ chức để đảng có thể bổ nhiệm lãnh đạo mới một cách suôn sẻ.
Nghị sĩ Miatta Fahnbulleh, quan chức thuộc Bộ Nhà ở, Cộng đồng và Chính quyền địa phương, là thành viên chính phủ đầu tiên từ chức, kêu gọi Thủ tướng Starmer “hãy làm điều đúng đắn cho đất nước và cho đảng, đồng thời ấn định thời gian biểu cho quá trình chuyển giao suôn sẻ”.
Sau đó, bà Jess Phillips cũng rời khỏi chức vụ đứng đầu cơ quan bảo vệ và chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái thuộc Bộ Nội vụ. Trong thư gửi ông Starmer ngày 12.5, bà Phillips viết rằng bà không thấy được sự thay đổi “mà tôi và đất nước mong đợi”.
Cùng ngày, bà Alex Davies-Jones, một quan chức Bộ Tư pháp, cũng thông báo từ chức vì thấy “không còn lựa chọn nào khác”.
Ngày 4-5 (giờ địa phương), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và công ty điều hành tàu du lịch MV Hondius cho biết con tàu vẫn đang chờ cứu hộ ngoài khơi quốc đảo Cape Verde ở Đại Tây Dương.
MV Hondius là tàu của Hà Lan, đang thực hiện chuyến du ngoạn kéo dài vài tuần từ Argentina đến Nam Cực và một số hòn đảo biệt lập ở nam Đại Tây Dương.
Tàu đã yêu cầu hỗ trợ y tế sau khi đến vùng biển Cape Verde, ngoài khơi Tây Phi. Tuy nhiên Bộ Y tế Cape Verde không cho phép tàu cập cảng vì lo ngại dịch bệnh, và chưa ai được phép xuống tàu, theo công ty điều hành Oceanwide Expeditions (Hà Lan).
Nguyên nhân bùng phát dịch bệnh trên tàu vẫn chưa được xác định. WHO cho biết đang điều tra và phối hợp sơ tán các thủy thủ bị bệnh.
Một hành khách người Anh được sơ tán đến Nam Phi ngày 27-4 đã có kết quả dương tính với vi rút và đang trong tình trạng nguy kịch. Hiện có thêm một người có triệu chứng sốt nhẹ, nghi là ca bệnh mới.
Thi thể một hành khách người Đức tử vong vẫn còn trên tàu. Trước đó một hành khách người Hà Lan 70 tuổi qua đời trên tàu ngày 11-4; vợ ông, 69 tuổi, cũng tử vong sau đó ở Nam Phi sau khi rời tàu. Xét nghiệm máu cho thấy bà nhiễm vi rút Hanta.
Trong số 87 hành khách còn lại, có 19 người Anh, 17 người Mỹ và 13 người Tây Ban Nha. Tàu còn có 61 thủy thủ. Hai thủy thủ - một người Anh, một người Hà Lan - có triệu chứng hô hấp và cần chăm sóc y tế khẩn cấp, theo công ty điều hành.
Nếu không thể sơ tán hành khách tại Cape Verde, công ty cho biết sẽ xem xét đưa tàu đến Tenerife hoặc cảng Las Palmas thuộc quần đảo Canarias của Tây Ban Nha.
Theo chính quyền tỉnh Argentina, tàu MV Hondius rời Ushuaia, miền nam Argentina, ngày 1-4, và lúc đó không có hành khách nào có triệu chứng nhiễm vi rút Hanta.
Tuy nhiên do thời gian ủ bệnh có thể kéo dài đến tám tuần, "các hành khách có thể đã ủ bệnh nếu họ nhiễm ở Argentina hoặc ở nơi khác", ông Juan Facundo Petrina, Giám đốc dịch tễ học tỉnh Tierra del Fuego, nói với AP. Năm ngoái, Argentina ghi nhận 28 ca tử vong do vi rút Hanta.
Theo Hãng tin AFP ngày 14-4, Bộ Dầu mỏ Iraq xác nhận đã đạt được các thỏa thuận "ngầm" với Mỹ và Iran để tìm cách vượt qua những hạn chế do tình trạng phong tỏa eo biển gây ra, đồng thời đảm bảo dòng chảy xuất khẩu không bị gián đoạn.
Tuy nhiên phía Iraq không công bố chi tiết nội dung các thỏa thuận cũng như thời điểm đạt được.
Trước đó Iran đã phát tín hiệu nới lỏng một phần kiểm soát khi thông báo cho phép tàu chở dầu của Iraq đi qua eo biển Hormuz. Động thái này diễn ra trước khi lệnh ngừng bắn mong manh giữa Mỹ và Iran được thiết lập vào ngày 7-4, cho thấy Baghdad đang tận dụng mọi kênh ngoại giao để duy trì hoạt động xuất khẩu trong bối cảnh căng thẳng leo thang.
Là thành viên chủ chốt của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Iraq phụ thuộc lớn vào tuyến hàng hải này khi phần lớn dầu thô của nước này được vận chuyển qua eo Hormuz.
Tuy nhiên việc tuyến đường này bị siết chặt kiểm soát, đã buộc Baghdad phải gấp rút triển khai các phương án thay thế.
Theo người phát ngôn Bộ Dầu mỏ Saheb Bazoun, Iraq hiện đang duy trì các tuyến xuất khẩu phụ, bao gồm đường ống dẫn dầu tới cảng Ceyhan của Thổ Nhĩ Kỳ và tuyến vận chuyển qua cảng Baniyas của Syria.
Ngoài ra nước này cũng bắt đầu sử dụng xe bồn để vận chuyển dầu thô qua lãnh thổ Syria.
Trước đó Iraq đã nối lại xuất khẩu khoảng 250.000 thùng/ngày qua cảng Ceyhan, góp phần giảm áp lực lên hệ thống xuất khẩu. Tuy nhiên các tuyến thay thế này khó có thể bù đắp hoàn toàn cho năng lực vận chuyển qua eo Hormuz.
Cuộc chiến tại Trung Đông đã khiến thị trường năng lượng toàn cầu biến động mạnh, đặc biệt khi Iran siết chặt kiểm soát eo biển Hormuz - nơi trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu và khí đốt toàn cầu.
Lưu lượng tàu thuyền qua khu vực này đã giảm đáng kể, trong khi nhiều nguồn tin cho biết Tehran còn áp phí đối với hoạt động quá cảnh.
Dù Mỹ và Iran đã đạt được một lệnh ngừng bắn tạm thời kéo dài hai tuần, nỗ lực đàm phán của hai nước vào cuối tuần qua ở Islamabad, Pakistan vẫn chưa mang lại thỏa thuận lâu dài.
Washington thậm chí đã áp đặt lệnh phong tỏa các cảng của Iran tại eo biển Hormuz, làm gia tăng thêm bất ổn đối với thị trường năng lượng.
Với Iraq, tác động là đặc biệt nghiêm trọng khi dầu mỏ chiếm tới khoảng 90% nguồn thu ngân sách. Theo số liệu mới nhất, nguồn thu từ dầu của nước này đã sụt giảm hơn 70% trong tháng 3 so với tháng trước đó.
Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ tại Trung Đông, ngày 28/4 công bố hình ảnh cuộc đổ bộ và khám xét tàu hàng Blue Star III trên biển Arab. Phương tiện bị nghi là đang di chuyển đến Iran và vi phạm lệnh phong tỏa do Mỹ áp đặt.
Trong video, binh sĩ thuộc Đơn vị Thủy quân lục chiến Viễn chinh (MEU) số 31 triển khai bằng trực thăng từ tàu đổ bộ tấn công USS Tripoli, sau đó đu dây xuống tàu Blue Star III và tiếp cận khoang điều khiển.
"Lực lượng Mỹ đã thả phương tiện sau khi khám xét và xác minh tàu không có kế hoạch cập bến ở Iran", CENTCOM thông báo.
CENTCOM không nêu lý do cụ thể khiến tàu bị nghi ngờ hướng tới Iran. Dữ liệu theo dõi hàng hải cho thấy Blue Star III rời cảng Qasim của Pakistan và đang trên hành trình đến cảng Sohar của Oman.
Đây là tàu hàng thứ tư bị kiểm tra kể từ khi Mỹ áp đặt lệnh phong tỏa hàng hải nhằm vào Iran, nhưng là trường hợp đầu tiên được trả tự do. Ít nhất ba tàu gồm Touska, Tifani và Majestic X đã bị lực lượng Mỹ bắt giữ.
CENTCOM cho biết chiến dịch phong tỏa đã buộc 39 tàu thay đổi hành trình trong hơn 2 tuần qua, tuyên bố lực lượng Mỹ sẽ tiếp tục thực thi lệnh phong tỏa trên khắp Trung Đông và khẳng định hoạt động này đã "cắt đứt mọi giao thương hai chiều của Iran".
Eo biển Hormuz là tuyến vận tải chiến lược, nơi trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu. Iran đã gần như phong tỏa eo biển này, buộc các tàu thương mại phải xin phép hoặc nộp phí để đi qua và cấm các phương tiện có liên hệ với Mỹ và Israel, cùng những bên khác tham gia vào cuộc xung đột.
Trong khi đó, hải quân Mỹ thực thi lệnh phong tỏa bên ngoài vịnh Oman, cảnh báo sẽ bắt giữ bất cứ tàu nào đến hoặc rời đi từ cảng Iran, cũng như đã nộp phí cho Tehran.
Mỹ cũng mở rộng phạm vi thực thi phong tỏa, cũng như các loại hàng hóa có thể khiến tàu hàng bị kiểm tra hoặc tịch thu nếu liên quan Iran.
Một số chuyên gia hàng hải nhận định kiểm soát toàn bộ lưu lượng tàu thuyền qua eo biển Hormuz là thách thức lớn, đồng thời cho rằng các tàu có thể né tránh bằng cách thay đổi dữ liệu định vị hoặc di chuyển qua vùng biển quốc gia khác.