Giải thích cho đề xuất này, Bộ Tài chính cho biết, tỷ trọng dư nợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chỉ duy trì ở mức 19 – 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ khối DN này trong tổng số DN. Nguyên nhân phần lớn do mức hấp thụ tín dụng của DNNVV còn hạn chế, quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động; năng lực chứng minh tính khả thi của dự án, phương án vay vốn còn yếu… Việc tiếp cận nguồn vốn qua Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và Quỹ phát triển DNNVV còn nhiều hạn chế và các quỹ này chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Thực tế, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 4, dư nợ nền kinh tế đạt trên 19,4 triệu tỉ đồng, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tín dụng cho khu vực DNNVV chỉ đạt gần 3,8 triệu tỉ đồng. Con số này chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, nhưng nếu so với vai trò đóng góp vào GDP và số lượng áp đảo của khối DNNVV trong nền kinh tế, tỷ trọng này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu thực tế.
Đặc biệt, trong báo cáo tài chính của các ngân hàng, bất động sản áp đảo danh mục tài sản thế chấp, trong khi đây là điểm yếu của các DNNVV. Chẳng hạn, cuối năm 2025 dư nợ cho vay tại BIDV đạt 2,33 triệu tỉ đồng thì tổng tài sản đảm bảo đạt hơn 3,7 triệu tỉ đồng. Xét về cơ cấu, bất động sản vẫn là thành phần chủ chốt khi chiếm tới 2,6 triệu tỉ đồng, tương đương hơn 70% tổng giá trị tài sản thế chấp. Agribank cho vay 1,93 triệu tỉ đồng khi trong tổng số 3,73 triệu tỉ đồng tài sản thế chấp có đến 3,71 triệu tỉ đồng là bất động sản… Dư nợ mà các ngân hàng cho vay chiếm khoảng 70% tổng giá trị tài sản thế chấp.
Đặt trong bối cảnh Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới, Bộ Tài chính đề nghị nghiên cứu sửa đổi toàn diện luật Hỗ trợ DNNVV.
Trong đó, bổ sung quy định thực hiện cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho vay DNNVV dựa trên cơ sở thẩm định phương thức sản xuất kinh doanh, phương án mở rộng thị trường đầu ra, cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị, xem xét các tài sản bảo đảm bao gồm cả động sản, tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai và hình thức cho vay tín chấp. Đồng thời, bổ sung quy định hỗ trợ DNNVV, đặc biệt DN công nghiệp hỗ trợ, khởi nghiệp sáng tạo vay vốn ưu đãi để đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tín dụng xuất khẩu, tín dụng theo chuỗi cung ứng. Sửa đổi, bổ sung các quy định về Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV ở địa phương để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động cấp bảo lãnh tín dụng…
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận xét: Khối lượng DNNVV nhiều nhưng khoản cho vay chỉ chiếm 20% trong tổng dư nợ ngân hàng là con số quá thấp. Việc cho vay dựa trên dòng tiền được nhiều ngân hàng tại Mỹ triển khai. Theo đó, ngân hàng cho khách vay tiền mua nguyên vật liệu sản xuất rồi bán lại cho đối tác, đối tác trả tiền cho khách hàng này vào tài khoản mở tại ngân hàng, ngân hàng thực hiện thu nợ.
Đơn giản vậy nhưng ông Hiếu thừa nhận, việc triển khai cho vay theo dòng tiền khó triển khai ở VN khi khách hàng vay có nhiều tài khoản ở nhiều ngân hàng khác nhau nên các nhà băng không thể kiểm soát được dòng tiền. Đó là chưa kể có tình trạng lập hồ sơ khống mua bán để thực hiện hồ sơ vay. Điều này dẫn đến phía ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp cho những khoản vay.
“Nhiều năm trước đây, Ngân hàng Nhà nước đã kêu gọi các ngân hàng thực hiện cho vay theo dòng tiền, nhưng việc triển khai còn giới hạn khi các ngân hàng sợ nợ xấu gia tăng, không đòi được. Chính sách cho vay sandbox kỳ vọng sẽ thúc đẩy nhiều hơn những phương thức cho vay như theo dòng tiền, tài sản hình thành trong tương lai… Sắp tới có thay đổi khi cơ quan thuế yêu cầu hộ kinh doanh, DN rõ ràng, minh bạch trong chế độ kế toán sẽ là yếu tố hỗ trợ phía ngân hàng triển khai mà không dựa hoàn toàn vào tài sản thế chấp”, ông Nguyễn Trí Hiếu nói.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM, ủng hộ việc cho DN nói chung và DNNVV nói riêng vay dựa trên dòng tiền cũng như thí nghiệm sandbox bởi công nghệ hiện đại đã cho phép thực hiện những sản phẩm dịch vụ này.
Ông Huân phân tích, từ trước đến nay, các khoản vay của DN thường yêu cầu có tài sản đảm bảo. Hầu hết các khoản vay trong ngân hàng tài sản đảm bảo là bất động sản. Nhưng các DN mới thành lập, DN hoạt động mảng dịch vụ như công nghệ… thì lấy đâu ra bất động sản để thế chấp đảm bảo khoản vay? Trong khi đó, công nghệ hiện đại đã thực hiện kiểm tra dòng tiền nên hoàn toàn có thể triển khai cơ chế này nhằm khơi thông nguồn vốn cho DN.
“Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM xây dựng và triển khai cơ chế sandbox không chỉ mang ý nghĩa thử nghiệm đơn thuần mà còn là bước đi chiến lược trong việc hoàn thiện khung pháp lý đối với các công nghệ mới nổi, đặc biệt là blockchain và tài sản số. Sandbox sẽ cho phép các DN fintech, startup và các tổ chức tài chính thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong phạm vi và thời gian nhất định dưới sự giám sát của cơ quan quản lý, qua đó góp phần giảm thiểu rủi ro và tạo cơ sở để điều chỉnh chính sách một cách linh hoạt, sát với thực tiễn”, ông Huân nói.
Riêng TS Nguyễn Đức Độ, nguyên Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính, nói thẳng: DNNVV không tiếp cận được ngân hàng do không có tài sản thế chấp đã tồn tại khá lâu. Nhiều rào cản khiến DNNVV khó tiếp cận được vốn vay do có mức độ rủi ro cao hơn các DN khác. Độ cạnh tranh kinh doanh của DNNVV cao ở các lĩnh vực bán lẻ, sản xuất, đồng thời tính ổn định của nhóm này không cao bằng các DN lớn. Chính vì vậy khả năng trả nợ của họ cũng có độ rủi ro cao hơn. Thêm vào đó, tính công khai minh bạch về tài chính của nhóm DN này cũng là rào cản dẫn đến khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng… Đứng về yếu tố khách quan, DNNVV không hấp dẫn ngân hàng bằng các DN lớn. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng như một DN nên họ đánh giá rủi ro cao. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV dùng vốn nhà nước nên khi thẩm định khoản vay, họ cũng phải chịu trách nhiệm về việc đòi được nợ. Vì thế, TS Độ kỳ vọng cơ chế mới mở ra để khối DNNVV tiếp cận vốn ngân hàng trong thời gian tới.
“Việc cho vay theo dòng tiền sẽ khó có thể triển khai một cách đại trà. Tuy nhiên, khi có chính sách cởi mở hơn thì kỳ vọng những DN đáp ứng điều kiện có thể tiếp cận được vốn. Thêm vào đó, các DNNVV cũng nên thay đổi, minh bạch tài chính, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi… thì mới tiếp cận được vốn”, TS Nguyễn Đức Độ nhấn mạnh.
Ngay đầu mùa khô năm 2026, hệ thống điện quốc gia đối mặt với áp lực vận hành cực lớn khi nhu cầu phụ tải dự báo tăng cao từ 10 - 12%. Khó khăn gia tăng khi thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng xuất hiện sớm. Đặc biệt, nguy cơ tái xuất hiện El Nino có thể khiến lưu lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm đáng kể, làm tăng nguy cơ hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng.
Không chỉ đối mặt với yếu tố thủy văn bất lợi, công tác sản xuất điện còn chịu tác động từ biến động thị trường quốc tế. Nguồn cung than nhập khẩu bị hạn chế, chi phí vận chuyển tăng cao do xung đột chính trị tại Trung Đông.
Trong bối cảnh nhiều thách thức đó, Đảng ủy Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã sớm ban hành chỉ thị, xác định vận hành an toàn, ổn định các tổ máy là nhiệm vụ chính trị xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Tổng công ty.
Để thực hiện mục tiêu này, lãnh đạo EVNGENCO1 yêu cầu khối nhiệt điện phải đảm bảo đủ nhiên liệu than, dầu cho mọi tình huống; khối thủy điện phải tuân thủ nghiêm điều tiết hồ chứa và quy trình vận hành liên hồ chứa.
Ban lãnh đạo Tổng công ty cũng đã chủ động làm việc với các nhà cung cấp than nhập khẩu để thúc đẩy các cam kết cung ứng tối đa cho các tháng cao điểm mùa khô, trọng tâm là tháng 4, tháng 5.
Đến nay, tại các đơn vị thủy điện trực thuộc EVNGENCO1, nhiều giải pháp ứng phó đã được triển khai linh hoạt, hiệu quả. Điển hình như tại Thủy điện Bản Vẽ - hồ chứa thủy điện lớn nhất khu vực Bắc Trung bộ, NSMO đã đề xuất điều chỉnh vận hành linh hoạt trong mùa khô theo hướng giảm huy động vào giờ thấp điểm ban đêm, buổi trưa và hạn chế xả nước hạ du trong ngày cuối tuần, ngày lễ nhằm ưu tiên tích nước phục vụ cao điểm nắng nóng.
Đơn vị cũng chủ động phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An kêu gọi chính quyền cùng người dân nâng cao ý thức tiết kiệm điện, nước nhằm giảm áp lực cho hồ chứa, đảm bảo nguồn nước cho sản xuất tại địa phương.
Tại Công ty Thủy điện Sông Tranh, nhiều tín hiệu tích cực được ghi nhận nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương án kỹ thuật. Đến hết quý 1/2026, mực nước hồ chứa Thủy điện Sông Tranh 2 đã đạt cao trình 172,08 m, cao hơn 0,78 m so với mực nước cao nhất theo quy định, tạo tiền đề quan trọng đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất điện và cấp nước cho vùng hạ du.
Đặc biệt, sản lượng điện quý 1 của nhà máy đạt 174,79 triệu kWh, tương đương 112,7% kế hoạch quý do EVNGENCO1 giao. Đây là con số cho thấy năng lực vận hành linh hoạt, hiệu quả của đơn vị trong bối cảnh hệ thống điện quốc gia luôn đòi hỏi sự ổn định và an toàn cao.
Cùng với thủy điện, các nhà máy nhiệt điện hiện hữu, tiêu biểu là cụm nhà máy thuộc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải (tại Vĩnh Long) cũng đã thể hiện vai trò quan trọng trong bù đắp, đảm bảo cung ứng điện cho hệ thống khi các nguồn điện mới còn hạn chế.
Giữa tháng 4.2026, Phó tổng giám đốc EVN Phạm Lê Phú đã trực tiếp kiểm tra tình trạng thiết bị và công tác chuẩn bị nhiên liệu tại Công ty Nhiệt điện Duyên Hải. Báo cáo cho thấy, quý 1/2026, các tổ máy tại Duyên Hải vận hành ổn định, không xảy ra sự cố; công tác bảo dưỡng chủ động, đáp ứng tốt yêu cầu vận hành mùa khô.
Trước đó, để ứng phó với thách thức đứt gãy chuỗi cung ứng nhiên liệu toàn cầu, EVNGENCO1 đã chỉ đạo Công ty Nhiệt điện Duyên Hải khẩn trương phối hợp với các ban chuyên môn của Tổng công ty làm việc với các đối tác bổ sung nguồn cung than nhập khẩu trong các tháng mùa khô; đồng thời triển khai các giải pháp quản lý chất lượng than tồn kho như gom vét, phối trộn. Yêu cầu đặt ra là bằng mọi giá phải đảm bảo nguồn than, không để xảy ra tình trạng thiếu nhiên liệu dẫn đến ngừng tổ máy.
Cũng như Duyên Hải, các đơn vị nhiệt điện khác của EVNGENCO1 như Nghi Sơn, Quảng Ninh và Uông Bí cũng đang nỗ lực hết mình. Các đơn vị đang đồng loạt triển khai giải pháp kỹ thuật, vận hành để vừa bảo đảm sản lượng điện, vừa đáp ứng yêu cầu môi trường và nâng cao hiệu quả. Trong đó, Quảng Ninh và Uông Bí tập trung xử lý bài toán môi trường và nguồn than; Nghi Sơn ưu tiên tối ưu suất tiêu hao. Ngoài ra, các dự án nâng cấp SCADA và an toàn hệ thống OT được đẩy mạnh, hướng tới hiện đại hóa quản lý và bảo vệ hạ tầng năng lượng quốc gia.
Kết thúc quý 1/2026, toàn EVNGENCO1 đã đạt tổng sản lượng điện 8,4 tỉ kWh, bám sát kế hoạch đề ra bất chấp các biến động thị trường nhiên liệu và phụ tải. Sang tháng 4, Tổng công ty đặt mục tiêu sản lượng 3,53 tỉ kWh, tập trung duy trì độ khả dụng cao nhất của các tổ máy nhiệt điện phía Bắc nhằm đáp ứng yêu cầu huy động cao điểm mùa khô.
Dù còn tiềm ẩn nhiều thách thức từ thiên tai đến biến động toàn cầu, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt và nỗ lực không ngừng, EVNGENCO1 tự tin sẽ vượt qua mọi trở ngại, góp phần đảm bảo nguồn điện ổn định cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thông tin từ Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP (PVOil), từ khi tổ chức bán thí điểm ngày 1.8.2025 đến hết tháng 4.2026 đã có 558 cửa hàng trên tổng số gần 1.000 cửa hàng xăng dầu của PVOil đã kinh doanh E10, đạt trên 50%. Đến nay, PVOil cho biết đã hoàn tất công tác chuẩn bị và sẵn sàng triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 trên phạm vi toàn quốc từ ngày 15.5 tới.
PVOil đã thực hiện chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ hạ tầng phối trộn pha chế xăng E5 sang phối trộn pha chế xăng E10; đồng thời, thực hiện nâng cấp hệ thống, cơ cấu sắp xếp lại bồn bể, lắp đặt/đầu tư mới, đường ống công nghệ, hệ thống xuất/nhập để đáp ứng nhu cầu của hệ thống cũng như chia sẻ với các đầu mối khác nếu có nhu cầu.
Bên cạnh đó, PVOil đã chủ động đầu tư, hoàn thành nâng cấp sức chứa etanol tại các kho đầu nguồn để đảm nhận vai trò đầu mối nhập khẩu và là trung tâm phân phối etanol cho các cơ sở pha chế khác ở khu vực lân cận.
Hiện tại, toàn bộ các cơ sở pha chế xăng E10 của PVOil đều được thẩm định và cấp giấy phép bởi Ủy ban Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng quốc gia.
Còn Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cũng cho biết đã thực hiện kinh doanh xăng sinh học E10 trên hệ thống ngay trong tháng 4. "Với vị thế chủ đạo trên thị trường, Petrolimex đã chủ động chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo nguồn và thực hiện kinh doanh thí điểm từ tháng 8.2025 nhằm mang đến những giải pháp năng lượng bền vững", Petrolimex khẳng định.
Đến nay, Petrolimex cho biết đã hoàn thiện 7 cụm kho pha chế tiêu chuẩn và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật tại hơn 2.800 cửa hàng bán lẻ trên cả nước, đáp ứng lộ trình thay thế xăng khoáng. Sau 8 tháng thí điểm thành công tại TP.HCM với sản lượng tăng 40%, theo Petrolimex, xăng E10 được đánh giá đảm bảo tính an toàn, tối ưu vận hành và nhận được sự tin tưởng từ người tiêu dùng.
Việc mở rộng kinh doanh xăng E10 ở các tỉnh, thành phố đang được Petrolimex tích cực triển khai. Ước tính, chỉ riêng ngày 30.4, đơn vị đã chuẩn bị 1.500 - 2.000m3 xăng E10 để phục vụ nhu cầu thị trường. Dự kiến đến 15.5, cơ bản hoàn tất việc đưa xăng E10 đến tất cả cửa hàng trong hệ thống. Ước tính việc chuyển đổi sang xăng E10 RON95 sẽ giúp giảm 10% lượng xăng khoáng tiêu thụ, giảm áp lực nhập khẩu và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giảm phát thải.
Theo Thông tư 50 của Bộ Công thương, từ ngày 1.6 năm nay, xăng không chì bắt buộc phải phối trộn thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc.
Thông tư 40 miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cụ thể miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không (trừ phí thẩm định cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay) quy định tại biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không.
Miễn phí, lệ phí hàng hải đối với tàu thuyền vào, rời khu vực hàng hải quy định tại chương III Thông tư số 261/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí hàng hải và biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 90/2019 và Thông tư 74/2021.
Miễn phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam quy định tại khoản 1 điều 4 Thông tư 39/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa.
Miễn phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do nhà nước đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 điều 3 Thông tư số 11/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt.
Thông tư 40 có hiệu lực thi hành từ ngày 7.4 đến 30.6. Từ ngày 1.7, các khoản phí, lệ phí quy định trên sẽ thực hiện hiện theo quy định tại các thông tư được viện dẫn và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).
Ngoài ra, không áp dụng mức thu phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tàu bay, phí trình báo đường thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam tương ứng tại số thứ tự 3 và 10 điều 1 Thông tư số 64/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30.6.