Trong gần 1 năm qua, Bộ Y tế đã có hướng dẫn cụ thể đối với hơn 9.000 kỹ thuật y tế. Trong đó, tất cả các kỹ thuật đều có hướng dẫn thời gian thực hiện.
Nhiều bác sĩ phản ánh việc một số hướng dẫn cập nhật quy trình kỹ thuật chuyên môn đang gây khó khăn cho hoạt động khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT).
Cụ thể, một bác sĩ đang công tác tại một bệnh viện tại Nghệ An chia sẻ tháng 3 vừa qua Bộ Y tế đã ban hành văn bản điều chỉnh quy trình kỹ thuật điện quang. Quy định này đã giải quyết được vướng mắc chụp X-quang phải đủ 6 phút, siêu âm tim phải 30 phút… mới được BHYT thanh toán.
Theo đó, các kỹ thuật thực hiện được hướng dẫn đã được điều chỉnh trong khoảng thời gian rộng hơn, ví dụ chụp X-quang phổi có thời gian từ 6-12 phút đã được sửa thành từ 1 – 10 phút.
“Tuy nhiên trong đợt cập nhật quy trình kỹ thuật lại không chỉ có điện quang mà còn một loạt các quy trình về xét nghiệm hóa sinh, tuần hoàn, hô hấp… Tất cả đều bị các quy định cứng về thời gian chưa phù hợp.
Ví dụ như điện tâm đồ phải thực hiện trong ít nhất 15 phút. Đọc kết quả Holter ECG, Holter huyết áp phải tối thiểu 30 phút… trong khi thực tế việc làm điện tâm đồ thông thường không quá 5 phút, đọc các kết quả holter không quá 10 phút.
Việc áp dụng quy định thời gian cứng gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác khám chữa bệnh, tăng thời gian chờ đợi cho người bệnh không cần thiết”, bác sĩ này chia sẻ.
Vì vậy nếu áp dụng máy móc các mốc thời gian này, nhiều cơ sở y tế có nguy cơ bị xuất toán BHYT dù vẫn thực hiện đúng chuyên môn.
Lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết đơn vị đã nắm được các phản ánh và đã có văn bản gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam (BHXH).
Theo đó, thông số thời gian trong các hướng dẫn quy trình kỹ thuật chỉ là thời gian trung bình mang tính tham khảo, được xây dựng nhằm chuẩn hóa thực hành chuyên môn, bảo đảm an toàn người bệnh và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Cụ thể, toàn bộ quy trình kỹ thuật bao gồm nhiều công đoạn khác như xác nhận người bệnh, hỏi bệnh sử, hướng dẫn tư thế, đối chiếu kết quả cũ, đọc phim, nhận định kết quả, tư vấn và cập nhật dữ liệu lên hệ thống.
Thời gian thực hiện thực tế có thể thay đổi tùy từng bệnh nhân, mức độ phức tạp của ca bệnh, trình độ nhân lực, điều kiện trang thiết bị và mức độ tự động hóa tại mỗi cơ sở y tế.
Theo Bộ Y tế, các mốc thời gian này không phải điều kiện pháp lý bắt buộc và cũng không phải tiêu chí định lượng cứng để làm căn cứ duy nhất trong giám định, thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT.
Bộ Y tế cũng đề nghị giám định phải dựa trên đánh giá tổng thể hồ sơ bệnh án và thực tế cung cấp dịch vụ, bao gồm chỉ định kỹ thuật có phù hợp tình trạng bệnh hay không; có tuân thủ các bước chuyên môn chính; kết quả kỹ thuật có giá trị trong chẩn đoán, điều trị; điều kiện thực tế về nhân lực, thiết bị tại cơ sở khám chữa bệnh.
Bộ Y tế cũng cho hay kỹ thuật nào thuộc danh mục được BHYT chi trả, cơ sở y tế đủ điều kiện triển khai và đã thực hiện đúng chuyên môn thì phải được thanh toán theo quy định.
Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu lạm dụng hoặc số lượng kỹ thuật tăng bất thường, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ phối hợp với cơ sở y tế và cơ quan quản lý để kiểm tra, xác minh theo đúng quy định pháp luật.
Về phía Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cơ quan này cho biết việc thanh toán BHYT phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.
Theo Nghị định 188/2025 và các thông tư liên quan của Bộ Y tế, cơ sở khám chữa bệnh phải thực hiện đúng quy trình chuyên môn đã được ban hành thì mới đủ điều kiện thanh toán BHYT.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho rằng cơ quan này không tham gia xây dựng hay ban hành các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, mà chỉ căn cứ quy định hiện hành để giám định và thanh toán.
Vì vậy trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tuân thủ các tài liệu chuyên môn do Bộ Y tế ban hành trong quá trình thực hiện các dịch vụ kỹ thuật thì không đủ điều kiện để thanh toán theo chế độ BHYT.
“Trước đó, tháng 2-2026, phản hồi đề xuất của Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có văn bản phản hồi đề nghị Bộ Y tế sớm rà soát, sửa đổi các quy trình kỹ thuật cho phù hợp thực tiễn.
Tiếp thu ý kiến này, ngày 11-3, Bộ Y tế đã ban hành hai quyết định mới về hướng dẫn quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, thay thế các quy định trước đây.
Với những hướng dẫn kỹ thuật khác, BHXH Việt Nam cho hay việc rà soát hướng dẫn chuyên môn thuộc trách nhiệm của Bộ Y tế, BHXH Việt Nam căn cứ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và bảo hiểm y tế để thực hiện giám định, thanh toán chi phí khám chữa bệnh”, BHXH Việt Nam thông tin.
Mới đây, một bệnh nhân (BN) nữ 35 tuổi ở Bắc Ninh được gia đình đưa đến khám tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện (BV) Bạch Mai (Hà Nội), sau thời gian dài trong tình trạng thường xuyên nói cười một mình, từng điều trị nhưng không lui bệnh. Người thân cho biết BN thường nghe thấy tiếng nói trong đầu và có lúc cãi lại, có lúc nghe theo tiếng nói đó.
Trước khi có biểu hiện trên, BN thường xuyên phải đi làm về muộn và tăng ca, công việc nhiều, dần dần xuất hiện ngủ kém, ngủ chập chờn khó vào giấc, sau đó tự ý nghỉ làm. Các biểu hiện hoang tưởng, ảo thanh tăng dần, BN được người nhà đưa đến khám, điều trị nội trú tại BV tâm thần tỉnh, ra viện được kê đơn ngoại trú. Khi đi làm trở lại, BN tái phát bệnh, luôn trong tình trạng lo lắng, sợ hãi, ám ảnh có người hại mình.
Tại Viện Sức khỏe tâm thần, BV Bạch Mai, qua khám và các kiểm tra đánh giá, BN cho thấy có các triệu chứng rối loạn cảm xúc hành vi theo hoang tưởng, ảo giác, được chẩn đoán mắc tâm thần phân liệt thể paranoid.
Quá trình điều trị BN, các bác sĩ chỉ định dùng thuốc chống loạn thần phối hợp kích thích từ xuyên sọ (Transcranial Magnetic Stimulation - TMS) theo phác đồ ảo thanh. Trong tuần đầu điều trị, BN hết hoang tưởng, còn ảo thanh trò chuyện; sau 2 tuần điều trị, BN hết ảo thanh, được ra viện, duy trì điều trị ngoại trú và đi làm trở lại.
Theo PGS-TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, BV Bạch Mai, ảo thanh ở BN tâm thần phân liệt thường tồn tại dai dẳng, xu hướng mạn tính.
Về điều trị ảo thanh ở BN tâm thần phân liệt, Viện trưởng Nguyễn Văn Tuấn cho biết, bên cạnh dùng thuốc, TMS là kỹ thuật kích thích và điều biến thần kinh dựa trên nguyên tắc cảm ứng điện từ của một điện trường trong não, dùng các xung từ tính sóng ngắn xuyên qua xương sọ kích thích các tế bào thần kinh để làm thay đổi chức năng điện thần kinh của vùng não tương ứng.
Với tiến bộ của trang thiết bị, TMS hiện đã có nhiều ưu điểm, kiểm soát tối ưu các tác dụng không mong muốn, bệnh nhân không phải gây mê, không xâm lấn, thêm cơ hội được điều trị với kết quả rất khả quan. "Tuy nhiên, BN cần được chẩn đoán đúng, chỉ định đúng bởi các bác sĩ chuyên khoa. Quá trình điều trị cần theo phác đồ phù hợp, để an toàn và hiệu quả", bác sĩ Tuấn lưu ý.
Chia sẻ thêm về bệnh tâm thần phân liệt, bác sĩ nội trú Nguyễn Thị Hoa, Viện Sức khỏe tâm thần, cho hay tâm thần phân liệt là bệnh lý loạn thần nặng và mạn tính, ảnh hưởng đến tư duy, hành vi và cảm xúc; ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm hoạt động cá nhân, gia đình, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp. Tỷ lệ mắc khoảng 0,3 - 0,5% dân số. Tỷ lệ ảo thanh trên người bệnh tâm thần phân liệt hiện chiếm khoảng 60 - 80%.
Theo Viện Sức khỏe tâm thần, TMS chỉ định trong rối loạn trầm cảm; tâm thần phân liệt, ảo thanh kéo dài; hội chứng đau, đau nửa đầu; sang chấn tâm lý; động kinh, ù tai; rối loạn hoảng sợ, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, rối loạn lo âu lan tỏa; phục hồi chức năng sau đột quỵ.
TMS là kỹ thuật điều trị hiện đại và không xâm lấn, sử dụng sóng từ trường ngắn phát ra từ một thiết bị đặt sát da đầu nhằm kích thích hoặc điều hòa hoạt động của các tế bào thần kinh ở một vùng não nhất định. Nhờ đó, các vùng não bị rối loạn hoạt động sẽ được "điều chỉnh" về trạng thái cân bằng hơn, giúp giảm bớt triệu chứng của nhiều bệnh tâm thần kinh.
Ưu điểm nổi bật của TMS là khả năng tái lập "trật tự" cho não bộ mà không cần phẫu thuật, không đau, không gây mê. Chỉ với sóng từ trường nhắm trúng vùng não rối loạn, BN tỉnh táo suốt quá trình thực hiện.
Ngày 9-4, đoàn công tác Bộ Y tế do Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND TP.HCM về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và kết quả thực hiện công tác dân số năm 2025 tại TP.
TS Nguyễn Văn Vĩnh Châu - Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM - cho biết sau sáp nhập, mô hình trạm y tế rất đa dạng. Có những trạm quy mô lớn, có phòng khám đa khoa, chuyên khoa, phục vụ hàng trăm bệnh nhân mỗi ngày. Cũng có những trạm nhỏ, chỉ thực hiện các chức năng cơ bản theo quy định.
Để nâng cao năng lực, Sở Y tế đã tổ chức tập huấn quản lý cho đội ngũ lãnh đạo trạm y tế, đặc biệt là những người lần đầu đảm nhận vai trò quản lý.
Bên cạnh đó, ngành y tế TP hiện đang khẩn trương nghiên cứu và đề xuất giải pháp khám sức khỏe cho mọi người dân ngay trong năm 2026.
Theo đó, TP.HCM sẽ triển khai 3 nhóm giải pháp khám sức khỏe cho hơn 15 triệu dân tại TP gồm: tổ chức khám sức khỏe phi địa giới (người dân có thể khám ở bất kỳ đâu), khám sức khỏe tại cộng đồng (khám tận nơi nhờ đội chăm sóc sức khỏe liên tục, chăm sóc nhóm nguy cơ) và thu thập dữ liệu sức khỏe sẵn có (tích hợp dữ liệu khám sức khỏe).
Để triển khai thành công cần sự vào cuộc đồng bộ của các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương cùng ngành y tế.
Chính quyền địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc rà soát đối tượng, vận động người dân tham gia, bố trí địa điểm và phối hợp tổ chức các điểm khám phù hợp với đặc điểm từng địa bàn.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tài chính linh hoạt nhưng chặt chẽ để huy động tối đa nguồn lực xã hội. Cơ chế này phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng quy định, tạo điều kiện để các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập đủ điều kiện tham gia cung ứng dịch vụ khám sức khỏe.
TS Huỳnh Minh Chín - Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM - cho biết năm 2025 các chỉ tiêu dân số cơ bản được hoàn thành, một số chỉ tiêu vượt kế hoạch đề ra.
Tuy nhiên tổng tỉ suất sinh của TP vẫn ở mức thấp, đạt 1,51 con/phụ nữ, mặc dù đã có xu hướng tăng nhẹ. Đây vẫn là thách thức lớn, có nguy cơ ảnh hưởng đến cơ cấu dân số và nguồn lao động trong tương lai.
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đánh giá TP.HCM đã triển khai Nghị quyết 72 đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên để hoàn thành các mục tiêu, đặc biệt trong nâng cao năng lực y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe toàn dân, TP cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường nguồn lực trong thời gian tới.
Liên quan đến khám sức khỏe định kỳ, Thứ trưởng Bộ Y tế lưu ý cần thống nhất cách hiểu và cách làm. Đây không phải là các gói khám chuyên sâu, mà chủ yếu là sàng lọc ban đầu, qua đó phát hiện sớm yếu tố nguy cơ, phân tích để xác định các vấn đề sức khỏe nổi bật và triển khai can thiệp phù hợp.
Tránh tình trạng triển khai dàn trải, hình thức, gây tốn kém nhưng hiệu quả thấp. Việc tổ chức khám phải phù hợp điều kiện từng địa phương, kết hợp sử dụng thiết bị y tế cơ động khi cần thiết và tăng cường hỗ trợ chuyên môn giữa tuyến cơ sở với tuyến trên.
Ngoài ra, TP.HCM cần có các chính sách đủ mạnh để khuyến khích sinh con, như hỗ trợ nhà ở, giáo dục, chi phí nuôi dưỡng… thay vì chỉ dừng ở tuyên truyền, qua đó duy trì mức sinh hợp lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
"Ung thư vú là bệnh có tỉ lệ mắc mới nhiều nhất trong số các ung thư ở phụ nữ, với xấp xỉ 25.000 người/năm. Hiệu quả điều trị căn bệnh này ở Việt Nam gần đây có nhiều thay đổi, tiệm cận với thế giới, kết quả này nhờ tỉ lệ người bệnh được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm đạt 3/4/tổng số ca, thay cho trước đây 3/4 người bệnh đến ở giai đoạn muộn" - PGS Quang cho biết tại hội thảo quốc tế về ung thư vú 2026, có chủ đề "Phối hợp đa mô thức kiểm soát ung thư vú trong kỷ nguyên y học chính xác", tổ chức trong 2 ngày 22 và 23-4 tại Hà Nội.
Theo thống kê chung của Bệnh viện K, ung thư vú hiện chiếm khoảng 1/4 tổng số ca mắc ung thư nói chung ở phụ nữ.
Mặc dù kết quả điều trị đã có bước tiến, nhưng các bác sĩ đánh giá ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng vẫn là căn bệnh thách thức với y khoa do yêu cầu phối hợp đa mô thức trong điều trị gồm phẫu thuật, điều trị toàn thân, chẩn đoán hình ảnh, sinh học phân tử và chăm sóc giảm nhẹ, tư vấn tâm lý, trong khi ở Việt Nam, dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ và tư vấn tâm lý cho người bệnh ung thư chưa được triển khai rộng rãi.
"So với các ung thư khác thì ung thư vú là một trong những nhóm bệnh ung thư có tiên lượng điều trị tốt, 85-90% bệnh nhân sống thêm từ 5 năm trở lên sau điều trị, nhiều người bệnh đã sống thêm trên 30 năm. Ghi nhận thực tế điều trị cho thấy những người bệnh đó đến bệnh viện vì những bệnh lý khác, không phải do ung thư vú, điều đó cho thấy bệnh ung thư vú đã được điều trị khỏi" - PGS Quang nói thêm.
PGS Quang cũng khuyến cáo việc chủ động khám, chăm sóc sức khỏe, tầm soát ung thư là chìa khóa để kiểm soát ung thư vú. "Hiệu quả điều trị phụ thuộc rất lớn và thời điểm phát hiện bệnh sớm hay muộn và giai đoạn của bệnh, chị em phụ nữ nên quan tâm đến sức khỏe của mình, tầm soát định kỳ hằng năm ở độ tuổi từ 40 hoặc khi có dấu hiệu bất thường" - PGS Quang thông tin.
Hội thảo quốc tế ung thư vú 2026 thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia Việt Nam và các nước Mỹ, Pháp, Nhật, Úc, Singapore...
Các chuyên gia cũng phân tích chuyên môn xung quanh vấn đề sàng lọc và tư vấn di truyền ở nhóm bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao; Các xu hướng can thiệp tối thiểu, hiệu quả tối đa; Ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh; Cập nhật các phương pháp điều trị toàn thân, điều trị đích; Hỗ trợ tâm lý và tư vấn cho bệnh nhân...
Đặc biệt các diễn giả sẽ có cuộc trao đổi với 150 bệnh nhân ung thư vú đang điều trị về các vấn đề liên quan đến tâm lý người bệnh và tác dụng phụ mà người bệnh đang gặp phải.